Thứ Tư, ngày 27 tháng 4 năm 2016

Đoan Trang : “HỌC PHIỆT” - HAY NHỮNG LẬP LUẬN ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN LỆCH LẠC THỜI INTERNET

Vụ Formosa xả thải vào biển Việt Nam tháng 4 năm nay, hay vụ chính quyền Hà Nội tổ chức chặt phá hàng loạt cây xanh năm ngoái, đều có chung một điểm: Chính quyền và doanh nghiệp viện dẫn mục tiêu phát triển (tăng trưởng kinh tế, cải tạo đô thị...) làm lý do để dân chúng phải chấp nhận trả một cái giá nào đó về môi trường.
Các dư luận viên và những người có tư duy kiểu dư luận viên hay bẻ bai như sau:
- Muốn có đường sắt cao tốc, muốn mở rộng Hà Nội, phát triển đô thị, mà lại không chặt cây... thì phải làm thế nào?
- Muốn có nhà máy thép, muốn phát triển công nghiệp nặng, thúc đẩy sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế, mà lại không chịu xả thải, không khuyến khích dùng hóa chất... thì phải làm sao?
Kiểu hỏi vặn đó được lặp đi lặp lại nhiều đến mức nhiều người có thể sinh hoang mang: Hay là công cuộc phát triển bắt buộc phải hy sinh môi trường thật?
Song, về bản chất, nó chỉ là một dạng ngụy biện, có tên gọi là “You Too”, nghĩa là “anh cũng thế”. Thay vì chỉ ra sai lầm của việc tàn phá môi trường nhân danh sự phát triển, nó lại đẩy người ta vào thế khó, là phải tìm ra giải pháp, còn nếu không tìm ra thì chứng tỏ người ta sai. Cũng hệt như khi ta nói chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hèn yếu, mất tư cách trước Trung Quốc, thì các dư luận viên bảo: Có giỏi thì ra Hoàng Sa mà chiến đấu lấy lại biển đảo đi!
Tuy nhiên, phần sai quan trọng hơn cả, là khi hỏi vặn như vậy, dư luận viên và những người có đầu óc dư luận viên đã mặc định rằng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là hai việc loại trừ nhau.
Đây là một quan niệm sai lầm đến mức nguy hiểm.
Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường không mâu thuẫn, không loại trừ nhau. Thậm chí ngược lại: Thời nay, bảo vệ môi trường là một phần bắt buộc trong phát triển bền vững. Bất kỳ dự án nào kéo theo việc chặt phá hàng loạt cây, gây ô nhiễm môi trường và tàn hại sinh vật trên diện rộng, đều là phản phát triển - và phạm pháp, nếu nền lập pháp có đủ tầm nhìn.
NHÂN DANH KHOA HỌC
Ngoài lập luận bảo vệ sự tàn phá môi trường nhân danh phát triển kia, trong cộng đồng mạng, còn phổ biến loại quan điểm đề nghị mọi người phải giữ cái đầu lạnh, không nên bức xúc chửi bới lãnh đạo về vụ chặt cây ở Hà Nội hay vụ Formosa lộng hành, mà cần bình tĩnh tập hợp tài liệu, nghiên cứu, khảo sát khoa học để phản biện được chính xác.
Bao giờ cũng vậy, cứ khi cả cộng đồng mạng đang thể hiện sự bức xúc, bất mãn... thì thể nào cũng có một vài giọng nói ôn tồn kêu gọi mọi người bình tĩnh, duy lý, không hùa theo đám đông bầy đàn, cảm tính. Loại quan điểm “nhân danh khoa học” này nghe rất có lý, rất thuyết phục, nhưng nó khéo léo gạt bỏ một thứ quyền rất quan trọng của người dân, là quyền được... chửi lãnh đạo, hay nói đúng hơn, quyền biểu đạt ý kiến, bày tỏ sự phẫn nộ một cách bản năng, không khoa học.
Theo cái loại quan điểm học phiệt ấy thì mỗi người dân bình thường (công chức, sinh viên, tiểu thương...) cứ phải là một nhà khoa học thì mới được nêu ý kiến phản biện. Mỗi người dân, mỗi blogger, facebooker phải mở miệng ra là phải “theo thông tư số abc, theo nghị định số xyz, theo bản khảo sát ngày… thì dường như lãnh đạo đã có dấu hiệu sai phạm”... Và cũng không phải là tất cả lãnh đạo đều sai, cả hệ thống, cả cơ chế này đều sai, mà chỉ là một bộ phận nho nhỏ thôi, ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác.
Chẳng lạ, khi rất nhiều trong những kẻ học phiệt ấy là các doanh nhân xã hội chủ nghĩa - tức là những nhà tư sản mà quyền lợi của họ gắn chặt với chính thể này. Họ sống được nhờ cơ chế hiện nay, nhờ cái chính quyền độc tài và bất tài hiện nay. Thảo nào mà cứ mỗi khi thấy Đảng và Nhà nước của họ tung ra chính sách nào bị dân phản ứng, họ lại lật đật chạy theo bênh vực, hối hả lo định hướng dư luận. Khi chưa biết bênh vào đâu được thì hãy cứ chọn cách dễ nhất là hỏi đi hỏi lại "bằng chứng đâu?", rồi bảo dân mạng bầy đàn, tát nước theo mưa, cảm tính, phi khoa học, chủ nghĩa dân tộc cực đoan đáng lo ngại v.v.

Cũng cần phải nói rõ, gọi là "học phiệt", chứ đám người ấy chẳng có mấy tư duy khoa học đâu. Sự ngụy biện và dối trá mới là đặc điểm chính trong đầu óc của họ. Và các bạn biết không: Khi thật sự cần có sự tham gia của tư duy khoa học và tinh thần duy lý, cần đến các sản phẩm khoa học, họ chẳng có nổi một xu đóng góp.

Lời dạy của thầy: Nếu Trung Quốc có đại biến, hãy đứng về phía chính nghĩa

Các em học sinh thân yêu!
Hôm này là ngày vui mừng của các em, là ngày lễ thành nhân của các em, là ngày mở đầu một cuộc đời mới của các em.
Các em đội trên đầu một vòng nguyệt quế và khoác trên mình bộ lễ phục tốt nghiệp thật trang trọng, điều đó biểu thị rằng các em đã trở thành “học sĩ”. Trong ngôn ngữ truyền thống Trung Quốc, trở thành “sĩ”, đó chính là đã đạt được một loại thân phận khác với mọi người.“Gặt hái được vị trí cao trên con đường học vấn gọi là sĩ,” “người dùng tài trí gọi là sĩ.” Sĩ có các loại, những “học sĩ”, chính là tư cách dùng học vấn và tài trí mà đạt được “sĩ”, nhận được sự tôn trọng của mọi người.

Vậy nên, thầy chân thành chúc mừng các em, chúc mừng các em mười mấy năm theo đuổi việc học cuối cùng đã thành tựu! Hôm nay các em tốt nghiệp bước ra khỏi cánh cổng nhà trường, ngày mai chính là buổi lễ tựu trường nơi “trường đại học” bên ngoài xã hội. Đời người chính là lần lượt tốt nghiệp và tựu trường tiếp nối nhau như vậy, nhưng mà, chỉ có lễ tốt nghiệp và khai giảng lần này là bước ngoặt quan trọng nhất của đời người.
So với cuộc hành trình dài đằng đẵng từ nay trở về sau, thì cuộc sống học tập ngày trước của các em chỉ là giai đoạn học tập mà thôi, so với vở kịch lớn của đời người sắp khai diễn mà nói, cuộc sống học tập trước đó chỉ là mở màn mà thôi.
Xã hội mà các em sắp phải bước vào này, là một vũ đài nhân sinh phong phú và đặc sắc, các em sẽ ở đó thực hiện giá trị của mình, tận hưởng đời người của chính bản thân các em. Nhưng đồng thời, nó cũng là nơi giang hồ hiểm ác, vũng lầy ô trọc.
Giang hồ này hiểm ác đến nỗi không thể nào mà lường trước được, vượt xa cả hết thảy những gì các em có thể tưởng tượng. Các em từ nay lăn lộn nơi giang hồ, cũng chính là giống như ngày đầu tiên các em đến trường vậy. Giang hồ này một lần nữa tạo nên sức mạnh của các em, các em có thể còn không thể nhận định đầy đủ được. Các em ngày hôm này sẽ xông vào mà không cần ngoảnh đầu lại nhìn, nhưng lại không biết được nó có nghĩa là gì.
Mấy ngày hôm nay, các em mang theo tâm trạng xúc động, ưu lo, đều đang mơ ước về một tương lai xán lạn, về một đời người tốt đẹp của mình. Những gì các em nghe được, đều là những lời chúc phúc, kỳ vọng căn dặn đủ điều.
Nhưng là một phụ huynh, là một người thầy, là một người hướng nghiệp của các em, tôi lại mang trong tâm mấy phần thấp thỏm, chỉ có thể nói mấy lời khuyến khích thích hợp với đại đa số các em trước lúc chia tay.
Thời đại Tiên Tần có một nhà tư tưởng tên là Dương Chu, vì cảm xúc với đời người trắc trở trùng trùng, trong trắc trở vẫn còn trắc trở nữa, thế là lớn tiếng khóc òa lên. Nguyễn Tịch là một trong “Trúc lâm Thất hiền” cũng từng đối mặt với con đường trắc trở chông gai, lớn tiếng khóc mà quay trở về.

Nhân sinh nhiều trắc trở, đây là số mệnh của con người. Đời người chính là vô số lần phải đưa ra sự lựa chọn. Từ sự lựa chọn mục tiêu cuối cùng của cuộc đời, để rồi hoạch định phương hướng phát triển to lớn, cho đến sự lựa chọn của mỗi một tình tiết nhỏ trong cuộc sống thường ngày, bước ra khỏi sự lựa chọn từng bước một. Sự lựa chọn của các em sẽ cấu thành nên một đời của các em.
Một đời chân chính, hay là một cuộc đời sai lầm
Ngày trước, phụ huynh, xã hội, nhà trường gần như đã hoạch định ra tất cả mọi điều tốt nhất cho các em. Từ nay trở đi, các em cần phải tự mình lựa chọn con đường sống của các em.
Con đường nhân sinh chỉ có thể tự mình đi tiếp mà thôi, không có chỗ nương tựa, không có người dẫn dắt. Dù cho các em cứ mãi bị đường đời xô đẩy, thì đó cũng là sự lựa chọn của các em.
Jean-Paul Sartre, nhà triết học hiện sinh nổi tiếng một thời từng sống ở Trung Quốc vào những năm 80, hiện giờ rất ít người còn quan tâm đến, nhưng ông có một câu nói vẫn cần được nhắc tới: “Cuộc đời chính là tự bản thân ta lựa chọn.” Lựa chọn cuộc đời vốn là việc của tự mình, hơn nữa cần phải chịu hết thảy trách nhiệm đối với sự lựa chọn của bản thân.

Trên thế giới này, mỗi một con người đều là độc nhất vô nhị. Giá trị của các em ở thế gian này, chính là ở chỗ khác biệt giữa các em với mọi người. Vậy nên, sự lựa chọn quan trọng nhất của mỗi một người, là phải trở thành chính bản thân các em.
Các em đừng có thấy người khác nằm mơ thì các em cũng theo đó mà nằm mơ, bị người khác ảnh hưởng giấc mơ, từ đó mà mơ cùng một loại giấc mơ giống như người khác. Mỗi một người đều có giấc mơ của bản thân mình.
Cần phải lựa chọn trở thành chính bản thân các em, có nghĩa là không ngừng mà vượt lên bản thân mình. Các em cần phải không ngừng mà tìm lại chính mình, hỏi lại chính mình, dựng lập tiêu chuẩn cao nhất cho mình, theo đuổi cảnh giới cao nhất cho mình. Cuộc đời chúng ta cùng chung một nhịp thở với vận mệnh của xã hội này.
Một thế hệ có vận mệnh của một thế hệ. Thế hệ này của các em đã từng có một tuổi thơ và tuổi trẻ bình lặng, nhưng tương lai của các em có thể sẽ phải đối mặt với những biến cố và cải cách to lớn của xã hội Trung Quốc.
Nếu như các em chú ý tới động thái của xã hội, thì có thể nhìn thấy được ở nơi chân trời xa xôi kia đang tích tụ những đám mây đen, có thể nghe được gió bão đang nổi lên trong những đám mây đen ấy.
Những ai nhạy cảm đều có thể nhìn thấy, gió mây biến đổi thất thường, sóng ngầm rung chuyển, con đường phía trước khó mà lường trước được.
Các em sẽ trả lời mấy câu hỏi này như thế nào đây? Theo thầy thấy, nếu như trong câu hỏi thứ 3 có nghi hoặc thì còn có thể bỏ qua, nhưng 2 câu hỏi trước suy cho cùng vẫn là câu hỏi, bản thân nó chính là vấn đề lớn khiến người ta lo lắng.
Đối mặt với những biến cố lớn có thể xảy đến của xã hội, các em sẽ lựa chọn như thế nào?
Nữ sĩ Long Ứng Đài trong tác phẩm “Sông lớn biển lớn-1949″, đã ghi chép lại sự lựa chọn của vô số người ngay trong một khắc đó: Đi hay là không đi? Đi, là một cuộc đời; mà không đi, cũng là một cuộc đời. Bi kịch của vô số người chính là bắt đầu từ sự lựa chọn được đưa ra ngay trong một khắc đó.

Đất nước đã đi một đoạn đường vòng, đối với các em mà nói, chính là đã hủy hoại đi một đời. Đối diện với một số người bình thường ở trong hoàn cảnh bất đắc dĩ bị vận mệnh cuốn theo ấy, Long Ứng Đài nói một cách cảm khái: “Một giọt nước, làm sao mà biết được hướng đi của dòng chảy lớn?”

Nhưng thầy nghĩ, các em là những sinh viên tốt nghiệp của trường đại học Chính trị và Pháp luật, là học sĩ tốt nghiệp của học viện quản lý chính phủ đại học Bắc Kinh, các em cần phải có năng lực nhận rõ hướng đi trong xu thế của dòng chảy lớn hơn những người bình thường.
Nhưng dù là một chiếc lá, các em phải chăng đã từng lay động? Các em lay động theo chiều hướng nào? Nếu như Trung Quốc xuất hiện vận động Nghĩa Hòa đoàn hoặc Hồng vệ binh một lần nữa, nếu như kiểu mẫu Trùng Khánh trở thành kiểu mẫu chung của toàn bộ Trung Quốc, các em có thể sáng suốt mà nói một tiếng “không” hay không? Nếu như các em không có kiến thức và dũng khí này, thì các em ít nhất cũng có thể làm người theo “phái Tiêu Dao” vô hại hay không?
Đối diện với dòng chảy đen bẩn dồn dập kéo đến, nếu như các em không thể lúc nào cũng đứng lên phản đối, vậy các em ít nhất cũng có thể bước ra phản đối một đôi lần hay không?
Nếu như các em không dám phản đối một cách tích cực, thì liệu các em vẫn có thể lựa chọn phản đối một cách tiêu cực hay không?
Nếu như các em không thể dũng cảm biểu đạt, thì liệu các em có thể lựa chọn biểu đạt một cách kín đáo hay không?

Nếu như ngay cả biểu đạt một cách kín đáo các em cũng không dám, thì các em có thể lựa chọn im lặng.
Nếu như các em không lựa chọn im lặng mà là lựa chọn hùa theo tội ác, nhưng liệu các em vẫn có thể giơ cao đánh khẽ, hạ thấp giọng điệu một chút hay không? Khi các em chủ động hoặc bị buộc phải làm chuyện xấu, liệu trong tâm vẫn còn sót lại một chút cảm giác bất an hoặc tội lỗi hay không? Chỉ một chút cảm giác bất an hoặc mang tội này thôi, vẫn là dấu hiệu cho thấy nhân tính vẫn còn chưa bị biến mất hoàn toàn.
Dẫu cho các em không dám đứng ra phản đối, nhưng đối với những người phản đối khác, thì cũng nên ôm giữ vài phần kính trọng trong tâm, dẫu không có vài phần kính trọng này, thì cũng không được bắn lén sau lưng, giở trò hèn hạ, nối giáo cho giặc. Thầy hy vọng, các em khi đối mặt với những cơn sóng lớn ập đến, thì hãy lựa chọn đứng về phía lý trí, đứng về phía văn minh, lựa chọn đứng về phía nhân dân.
Khi các em bước ra khỏi cánh cửa nhà trường, các em sẽ đối mặt với một xã hội đặc thù. Xã hội này, đã là một thùng thuốc nhuộm có thể cải biến người ta.
Năm xưa, Mặc Tử nhìn thấy người ta nhuộm vải, khi những tấm vải màu trắng được đưa vào thùng, sẽ cho ra những tấm vải với các màu sắc đủ loại. Ông đã khóc.
Các em ắt hẳn hiểu được tâm tình của các thầy cô khi nhìn các em có mấy phần ngây thơ thuần khiết phải đi vào thùng thuốc nhuộm lớn này.
Tạm biệt cha mẹ, có nghĩa là tạm biệt cuộc sống thuần tịnh này, gieo mình vào cõi hồng trần cuồn cuộn, giang hồ hiểm ác.
Sau này mỗi khi các em bị tổn thương hết lần này đến lần khác, hẳn các em sẽ nhớ đến mái trường xưa, không kể là ở nơi đây đã trải qua bao nhiêu điều không vui, nơi đây đã được coi như một nơi Tịnh độ.
Đối diện với hoàn cảnh xã hội như vậy, liệu các em có thể làm được “cả thế gian đều say, chỉ có mình ta tỉnh; cả thế gian đều vẩn đục, chỉ có mình ta sạch trong” hay không?
Bản thân thầy đối với điều này không ôm hy vọng lớn lắm, bản thân thầy cũng không làm được. Nếu như kiên trì với chuẩn tắc xử thế như vậy, cũng chỉ đành phải theo Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La mà thôi.
Nhưng một nguyên tắc xử thế trong Phật giáo lại có thể cho chúng ta một số chỉ dẫn, đó chính là “Tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên.” Tùy duyên mà hằng bất biến là tùy theo cơ duyên mà duyên với ngàn sai vạn biệt, nhưng bản thể của nó vẫn không thay đổi. Bất biến tùy duyên nghĩa là tuy tùy theo duyên mà hiện ra vạn hữu, nhưng bản thể của nó vẫn không thay đổi. Thầy nghĩ đây hẳn sẽ là chuẩn tắc mà đại đa số mọi người có thể thực hiện được.
Trong lĩnh vực cuộc sống cá nhân, thầy hy vọng các em lựa chọn đời người khỏe mạnh vươn lên, lựa chọn làm một con người văn minh có lương tri đạo đức.
Đương nhiên, thẳng thắn mà nói cho các em biết những hiện thực tàn khốc này, vốn không phải là khiến các em nên lựa chọn tiêu cực và từ bỏ. Mọi người thường nói, chúng ta tuy có con mắt màu đen, nhưng lại dùng nó để tìm kiếm ánh sáng. Không có ánh sáng và hy vọng, đó là một cuộc đời tuyệt vọng, không thể nào đi tiếp được nữa.
Một mảng Tịnh độ trong tâm các em chỉ thuộc về các em, chỉ cần các em giữ vững nó, bất kỳ sức mạnh bên ngoài nào đều không thể xâm nhập vào được.
Từng có lời khuyên của một người phương Tây khi đối mặt với sự từ bỏ đã nói rằng, tôi không phải là muốn thay đổi thế giới, tôi chỉ là không muốn thay đổi chính bản thân mình. Cũng chính là nói:
“Chúng ta không thể quyết định Mặt Trời ngày mai sẽ mọc lên lúc mấy giờ, nhưng chúng ta có thể quyết định mấy giờ thức dậy”.
Các em học sinh thân mến, các em chính là cần phải bay cao bay xa. Hôm nay, các thầy cô sẽ nhìn hình bóng của các em rời khỏi đây, và dõi theo bước chân của các em, chính là nỗi lo lắng bận lòng lâu dài của chúng tôi!
Dẫu cho các em là những người thông minh lanh lợi, hay là đơn thuần thẳng thắn, dẫu cho các em là ai và là người như thế nào đi nữa, thì các em đều là học trò của chúng tôi.
Chúng tôi sẽ dõi theo thành công của các em, dõi theo niềm hạnh phúc của các em, càng sẽ dõi theo các em có đi trên con đường ngay chính hay không.
Nguyện cầu trời xanh sẽ chăm sóc bảo hộ các em!
Các em học sinh thân yêu, hẹn gặp lại!
***
Giới thiệu sơ lược: Tùng Nhật Vân, giáo sư tiến sĩ của luật học, hiện đảm nhiệm giáo sư Học viện nghiên cứu chính trị học của Học viện Quản lý Công cộng và Chính trị của trường Đại học Chính trị và Pháp luật Trung Quốc, Chủ tịch Hội ủy viên Viện học thuật, hội ủy viên học vị, ủy viên ban chấp hành hội học thuật nhà trường.
Lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu là: Lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây, văn hóa chính trị truyền thống và văn hóa chính trị hiện đại của phương Tây, đại cương văn minh phương Tây.

Theo Epoch Times, tinhhoa

Thứ Năm, ngày 14 tháng 4 năm 2016

Câu chuyện Tháng 5

Tháng 5/2016, sau những thủ tục đón tiếp ngoại giao cụ Tổng ngồi tâm sự với Obama.
- Tôi nói thật với ông nhé, ông còn mấy tháng nữa về hưu, ông cho tôi vài lời khuyên để thoát Trung, giảm nợ nần và khôi phục lòng tin của dân chúng đi. Hay là tôi cho đa đảng giống các ông có hai đảng thay nhau cầm quyền?
Obama từ tốn trả lời :
- Ông đừng mắc sai lầm cho lập đảng đối lập vì nếu ông làm thật thì gần 4 triệu đảng viên của ông lại nhẩy sang Đảng kia hết thế là các ông lại thành độc Đảng. Tốt nhất là các ông cứ lãnh đạo, muốn thoát Trung không khó, ông xem mấy thằng đệ Hàn, Nhật chúng nó sống khoẻ mà có ngán gì Trung Quốc đâu.
- Nhưng nước tôi lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc lắm. Họ uy hiếp chúng tôi cả trên biển lẫn đất liền. Cụ Tổng nhăn nhó.
- Ông đừng lo, bây giờ các ông mở cửa Cam Ranh cho tụi tôi và Nhật Bản. Hạm đội 7 sẽ tuần tra HS_TS đảm bảo TQ ko manh động. Các ông cũng nên gia nhập liên minh quân sự Mỹ Phi Úc Nhật Hàn, chúng tôi bơm vũ khí cho các ông, tiền thì ko lo tôi nói hai đưa em tôi Abe và Park cùng bơm cho các ông 50-60 tỉ đô, tất nhiên khi đó TQ sẽ đóng cửa buôn bán thương mại với các ông, nhưng đừng lo, doanh nghiệp các ông nhanh nhậy lắm, họ sẽ tìm ra các thị trường khác tốt hơn. Với cả các ông nên cổ phần hoá nhanh các tập đoàn nhà nước đi. Hãy để cho khối tư nhân làm kinh tế, nhà nước các ông chỉ lo hoạch định chính sách và giảm chi công đi. Tôi tin chắc sau 3 năm kinh tế các ông sẽ khôi phục lại.
- Thế còn nông nghiệp, không có thị trường TQ chúng tôi xuất khẩu cho ai?
- À cái đó để tôi bảo mấy thằng đệ Isarel sang, chúng nó sẽ tư vấn giúp các ông trở thành cường quốc nông nghiệp. Các ông nên giải tán bớt 2/3 bộ máy Bộ Nông Nghiệp của các ông đi. Tụi đấy chỉ thích sang nước tôi họp hành hú hí thôi. Mà các ông đừng giữ chỉ tiêu cường quốc lúa gạo nữa, sản xuất đủ dân ông ăn thôi. Tình báo tôi báo cáo lại ở nước ông cứ chỗ nào chỉ trồng lúa thì dân ở đó đói nhăn răng. TQ quay mặt với các ông thì các ông lại càng có cơ hội sản xuất thực phẩm sạch, dân ông sẽ hài lòng với sự lãnh đạo của các ông. Trong ấm ngoài êm rồi lúc đó ông tha hồ xây dựng XHCN thành công ! Trước khi tôi đi xin tặng lại ông hai câu Kiều mà tôi hay ngâm tặng bà xã Michelle : 
Cùng nhau trông mặt cả cười,
Dan tay về chốn trướng mai tự tình.

FB Võ Tiến Cường

Thứ Hai, ngày 04 tháng 4 năm 2016

Bài học cuộc sống - "Cô Không Yêu Tôi Là Chê Tôi Nghèo!" Và Câu Trả Lời Quá Xuất Sắc Của Cô Gái


Ngày trước cô bạn thân của tôi được một người theo đuổi, sau đó anh ta bị bạn tôi từ chối, liền quay ra liên tục quấy rối.
Có một lần anh ta lại gọi điện đến đúng lúc tôi đang ở chỗ cô bạn này, nghe thấy tiếng anh ta gào lên trong điện thoại: “Có phải cô chê tôi nghèo đúng không? Tôi mà nhiều tiền chắc cô đã vội nhảy vào lòng tôi rồi. Phụ nữ các người đúng là ham tiền, chỉ thích tiền thích vẻ bề ngoài mà không coi trọng thứ bên trong tâm hồn!”
Bạn tôi nghe điện thoại một cách khó chịu, tôi thực sự không chịu nổi nữa mới giật lấy điện thoại của cô ấy nói lớn: “Vậy anh nói xem tâm hồn anh có cái gì?”
1.  Anh tốt nghiệp đại học nào? Là trường top 10 hay sao?
2. Thành tích tốt nghiệp ra sao, đã từng đạt được học bổng chưa?
3. Đã từng hiến máu, làm từ thiện bao giờ chưa?
4. Từng trả lại của rơi, dám làm việc nghĩa?
5. Đã từng chống lại côn đồ, vạch trần những việc xấu hay chưa?
6. Liệu có dám vỗ ngực nói chưa từng nịnh sếp, chưa từng mời ăn tặng quà khách hàng hay không?
7. Nếu những điều trên đều quá khó, vậy anh đã từng vượt đèn đỏ chưa?
8.  Đã từng vứt rác bừa bãi, nói bậy hay chưa?
9. Ngoài trò chơi điện tử ra, anh có bất cứ kĩ năng gì về cầm kì thi họa, thể thao, võ thuật hay không?
Vậy mà vẫn còn nói bạn tôi không thích anh bởi vì anh nghèo?!” 
Đầu dây bên kia im lặng dập máy, về sau cũng không dám gọi điện quấy rầy nữa. Thật vậy, đàn ông đừng bao giờ nghĩ vấn đề ở cái nghèo của mình, bạn sẽ  dần nhận thấy không có tiền sẽ mất mặt, nhưng không có tâm hồn tốt đẹp càng đáng xấu hổ hơn. Phụ nữ không thích bạn không phải vì bạn nghèo, mà bởi nguyên nhân khiến bạn không có tiền!
Phụ nữ hiện đại ngày nay: Biết kiếm tiền cũng biết nội trợ, tự kiếm tiền mua xe, mua nhà, đấu lại được tình nhân, đánh lại được lưu manh.
Nếu có bạn trai, họ còn phải giặt đồ nấu cơm, chăm lo việc nhà cho anh ta; anh ta ngồi chơi điện tử vui vẻ còn phụ nữ tức đến chết, phụ nữ lại còn phải đấu với biết bao phụ nữ quanh anh ta.
Bài học cuộc sống - "Cô Không Yêu Tôi Là Chê Tôi Nghèo!" Và Câu Trả Lời Quá Xuất Sắc Của Cô Gái
Đó là vì sao ngày nay nhiều phụ nữ thà độc thân, bởi đàn ông không xứng đáng!
1. Khi độc thân có cãi lại mẹ vài câu, mẹ một lát liền quên; kết hôn rồi lỡ cãi lại mẹ chồng, bà ấy sẽ nhớ cả đời.
2. Lúc độc thân đói bụng, được mẹ làm cho cả bàn đồ ăn; khi kết hôn mẹ chồng làm cho cả bàn đồ ăn cho bạn, cũng cảm thấy không thoải mái.
3. Lúc độc thân ăn cơm quên không mời mẹ, chẳng vấn đề gì; lấy chồng ăn cơm quên mời là thiếu lễ phép.
4. Lúc độc thân mẹ bận, bạn không giúp cũng không sao; lấy chồng rồi không giúp mẹ chồng là lười nhác.
5. Lúc độc thân nghe mẹ giáo huấn, nghe tai nọ để tai kia; lấy chồng nghe mẹ chồng giáo huấn, dù sai vẫn phải dạ vâng.
6. Lúc độc thân có việc bận không cần vội về nhà; lấy chồng rồi dù có việc bận cũng phải vội vàng về nhà ăn cơm.
7. Lúc độc thân, thi thoảng làm biếng cũng chẳng sao; lấy chồng rồi không lúc nào dám lười.
8. Lúc độc thân, có gì ngon mẹ không dám ăn nhường bạn; về nhà chồng đồ ăn ngon phải phần cho người khác.
9. Lúc độc thân, mẹ chú ý từng niềm vui nỗi buồn của bạn; kết hôn rồi cảm xúc của bạn chẳng đáng được để ý.
10. Lúc độc thân giậm chân với mẹ, là nũng nịu; giậm chân với mẹ chồng là tội lớn.
Nhận lời theo đuổi của đàn ông, phụ nữ phải chịu vô số gánh nặng, đàn ông hãy nói xem vì sao họ chịu hi sinh như vậy? Vì anh cao to? Vì anh đẹp trai? Hay vì anh có nhiều tiền?
Nguồn: weixin
Người dịch: Lưu Linh Trang

Bài viết được dịch độc quyền bởi Qtcs.com.vn

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 4 năm 2016

Friedrich von Hayek : VÌ SAO ĐẢNG CỘNG SẢN THÍCH NHÂN DANH "QUẦN CHÚNG"?

Dưới đây là những gì một học giả, nhà kinh tế nổi tiếng của phương Tây, Friedrich von Hayek, đã viết từ năm 1944. Page thấy những điều này có thể giải thích rất xác đáng tình hình bầu cử QH với cơ chế "tiếp xúc cử tri" hiện nay, nên trích đăng để bạn đọc tham khảo. Bản dịch của dịch giả Phạm Nguyên Trường. Tựa đề do Page đặt.
* * *
Có ba lý do vì sao cái nhóm đông và mạnh, với những thành viên có quan điểm giống nhau, lại không được hình thành từ những người tử tế nhất mà thường là từ những phần tử xấu xa nhất của xã hội. Theo tiêu chuẩn của chúng ta thì cái nhóm như thế chỉ có thể hình thành trên những nguyên lý hoàn toàn mang tính tiêu cực.
Thứ nhất, những người có trình độ học vấn và tri thức càng cao thì thị hiếu và quan điểm càng phân hóa, họ khó có thể thống nhất về bất cứ thang giá trị cụ thể nào. Nghĩa là nếu chúng ta muốn tìm một sự thống nhất cao về quan điểm thì chúng ta phải tìm trong những tầng lớp xã hội với tiêu chuẩn đạo đức và tri thức không cao, với thị hiếu và bản năng nguyên thuỷ và thô lậu. Điều đó không có nghĩa là đa số dân chúng có tiêu chuẩn đạo đức thấp; nó chỉ có nghĩa là cái nhóm gồm nhiều thành viên với những chuẩn mực giá trị giống nhau là những người có tiêu chuẩn đạo đức không cao. Có thể nói chính cái mẫu số chung đạo đức cực kì thấp đã liên kết rất nhiều người lại với nhau. Nếu chúng ta cần một nhóm tương đối đông và đủ mạnh, để buộc những người khác phải chấp nhận các quan điểm và giá trị của nhóm mình thì không bao giờ chúng ta lại tìm đến những người có thị hiếu phát triển cao và phân hóa một cách sâu sắc. Chúng ta sẽ tìm đến “quần chúng”, với ý nghĩa tiêu cực của từ này, tìm đến những người kém độc đáo và ít độc lập nhất, những người có thể lấy số lượng làm bệ đỡ cho lý tưởng của họ.
Nhưng nếu nhà độc tài tương lai chỉ dựa vào những người có những bản năng đơn sơ và giống nhau thì số người như thế sẽ không thể đủ để thực hiện nhiệm vụ đặt ra. Hắn sẽ phải tăng thêm số thành viên của mình bằng cách kết nạp thật nhiều người vào cùng tín điều đơn giản của hắn.
Tiêu chuẩn chọn lựa tiêu cực thứ hai: Hắn phải tìm được sự ủng hộ của những kẻ dễ bảo và cả tin, những kẻ không có niềm tin riêng mà sẵn sàng chấp nhận các hệ thống giá trị sẵn có miễn là được rót vào tai họ một cách liên tục. Chính những kẻ với các tư tưởng mù mờ và được hình thành một cách dở dang, những kẻ dễ dao động, những kẻ mà tình cảm và niềm đam mê sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào lại là thành phần đông nhất của các đảng toàn trị.
Tiêu chuẩn thứ ba, và có lẽ là quan trọng và cần thiết nhất để một kẻ mị dân lão luyện có tập họp quanh mình một nhóm cố kết những người ủng hộ. Bản chất của con người là dễ dàng đồng thuận trên cơ sở một cương lĩnh mang tính tiêu cực - chí căm thù giặc, lòng ghen tức với những kẻ khá giả - hơn là trên cơ sở một nhiệm vụ mang tính tích cực. Sự tương phản giữa “chúng ta” và “chúng nó”, cuộc chiến đấu chống lại những kẻ nằm bên ngoài tổ chức có vẻ như là chất kết dính chủ yếu trong mọi giáo lí, chính nó sẽ gắn chặt người ta thành một nhóm cho những hành động chung. Những kẻ cầm đầu muốn săn tìm không chỉ sự ủng hộ về mặt chinh trị mà còn săn tìm lòng trung thành vô điều kiện của quần chúng đã cố tình lợi dụng cái phần tiêu cực đó trong bản chất của con người cho mục đích của mình. Theo họ thì các cương lĩnh tiêu cực có ưu điểm là dành cho họ quyền tự do hành động hơn bất kì cương lĩnh tích cực nào. Hình ảnh kẻ thù, bất kể ở bên trong như “Do Thái” ở Đức hay “kulak” ở Nga, hay ở bên ngoài, đều là một trong những phương tiện thiết yếu trong kho vũ khí của lãnh tụ toàn trị.

Việc người Do Thái ở Đức bị tuyên bố là kẻ thù trước khi các nhà tài phiệt thế chỗ cho họ cũng chỉ là kết quả của xu hướng bài tư bản của phong trào, chẳng khác gì việc chọn tầng lớp phú nông (kulak) ở Nga. Sự thật là ở Đức và Áo người Do Thái bị coi là đại diện của chủ nghĩa tư bản vì sự thù địch thâm căn cố đế của quần chúng đối với thương nghiệp đã làm cho lĩnh vực này trở thành dễ thâm nhập hơn đối với những nhóm người không có quyền lựa chọn những nghề cao quý hơn. Câu chuyện này cũng cũ như là thế giới vậy: Các sắc dân ngụ cư chỉ được làm những nghề hèn mọn và thế là người ta càng căm ghét họ hơn. Việc chủ nghĩa bài Do Thái và bài tư bản ở Đức có cùng một nguồn gốc là một mắt xích cực kì quan trọng, nó giúp ta hiểu được những sự việc đang diễn ra trên đất nước này; nhưng nói chung, những người quan sát nước ngoài đã không nhận ra điều đó.

Thứ Hai, ngày 28 tháng 3 năm 2016

Phạm Việt Hưng - Các nhà Bác Học mọi thời đại phát biểu thế nào về chủ nghĩa duy vật

Chủ nghĩa duy vật cho rằng thế giới tồn tại là nhờ vật chất, vật chất quyết định ý thức, từ đó mà đưa ra luận thuyết vô thần.
Các nhà Bác Học mọi thời đại từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu của mình, vào cuối tác phẩm đều tin vào sự hiện diện của Thần, Nhưng khi dịch sang tiếng Việt, vì để phù hợp với học thuyết vô thần nên những phát biểu này đều đã bị cắt bỏ đi.
Lược sử tối giản của chủ nghĩa duy vật
Với chủ nghĩa duy vật, các khái niệm tưởng là phi vật chất như tư tưởng, tinh thần xét cho cùng cũng chỉ là sự biểu lộ của hoạt động vật chất.
Chủ nghĩa duy vật không phải là một hiện tượng mới mẻ. Nó vốn có từ xa xưa, ít nhất từ thời cổ Hy Lạp. Có lẽ ngay từ thời ấy nó đã tỏ ra kém cỏi trong khả năng giải thích thế giới nên Plato, một trong những cha đẻ của nền văn minh triết học và khoa học Tây phương, đã phải phê phán nó một cách gay gắt như đã dẫn trong bài báo của John Spencer nói trên. Đối với Plato, Cái Đẹp (The Beauty), Cái Thiện (The Goodness), Luật Đạo Đức (The Moral Law) là những giá trị phi vật chất nói lên sự hiện hữu của Thần. Nếu không tin Thần đã « thổi » tâm tính tốt đẹp vào con người thì sẽ rất khó giải thích vì sao con người có xu hướng tôn vinh Cái Đẹp, Cái Thiện và Đạo Đức, trong khi mọi tạo vật khác không có ý thức về những giá trị này (Chú ý rằng xu hướng tôn vinh Cái Đẹp, Cái Thiện và Đạo Đức hoàn toàn trái ngược với quy luật “đấu tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua” của thuyết tiến hóa Darwin).
Nhưng mặc dù chủ nghĩa duy vật đã có từ xa xưa, nó chưa bao giờ trồi lên mạnh mẽ như từ giữa thế kỷ 19 để trở thành một hệ tư tưởng khuynh đảo xã hội từ đó cho tới nay. May mắn thay, chính khoa học lại cung cấp ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy chủ nghĩa duy vật không phải là một tiến bộ về nhận thức, mà hóa ra mà là một bước thụt lùi. Đó là lý do để giữa thế kỷ 20, đúng vào lúc chủ nghĩa duy vật lên đến tột đỉnh và các nhà duy vật đang ngạo nghễ đắc thắng, nhà toán học trứ danh Kurt Gödel đã hạ bệ nó bằng một tuyên bố chắc nịch: « Chủ nghĩa duy vật là sai lầm ! ».
Mãi đến cuối thế kỷ 20, khi Định lý Bất toàn (Theorem of Incompleteness) của Gödel được thừa nhận một cách rộng rãi thì nhiều người mới bắt đầu giật mình tỉnh ngộ ra để nhìn nhận lại bản chất của chủ nghĩa duy vật. Tại sao vậy ? Vì định lý Gödel chỉ ra rằng chủ nghĩa duy vật, bao gồm logic máy móc và tư duy cơ giới thô thiển, đã tự bịt mắt trước sự thật – thế giới hiện thực rộng hơn thế giới nhận thức ; thế giới nhận thức rộng hơn tư duy khoa học; tư duy khoa học rộng hơn tư duy logic máy móc… Nói cách khác, có nhiều chân lý nằm bên ngoài thế giới nhận thức bằng thực chứng và logic – khoa học duy vật không bao giờ đủ để nhận thức được chân lý đầu tiên, chân lý cuối cùng và chân lý toàn thể. Muốn nhận thức sâu hơn và rộng hơn về thế giới, bắt buộc con người phải sử dụng nhiều phương pháp nhận thức khác nhau để tiệm cận tới chân lý. Những phương pháp nhận thức này tuy khác nhau, nhưng bổ sung cho nhau, trong đó trực giác đóng vai trò định hướng dẫn đường.
Trực giác là gì nếu không phải ánh sáng của Thần soi rọi vào mỗi con người ?
Albert Einstein là người nhấn mạnh đến trực giác nhiều nhất. Ông từng nói « Tư duy trực giác là quà tặng thiêng liêng… » (The intuitive mind is the sacred gift…). Quà tặng thiêng liêng đó là của ai, nếu không phải của Thần ? Không thừa nhận sự thật này thì làm thế nào để giải thích sự hiện hữu của trực giác ? Computer vượt xa chúng ta về tốc độ và sức khỏe tính toán nhưng chỉ là một gã ngu đần khi đứng trước một vấn đề đòi hỏi trực giác. Chủ nghĩa duy vật không dám phủ nhận trực giác, nhưng nó lúng túng không biết làm thế nào để giải thích trực giác, vì thế nó nói bừa rằng đó là bản năng tự nhiên và nhờ “tiến hóa” mà có. Khái niệm “tiến hóa” là một khái niệm mơ hồ, bởi thực tế không bao giờ có một cơ chế tiến hóa nào có thể kiểm chứng được một cách cụ thể, rõ ràng.
Thực tế, trực giác là một trong những bí ẩn lớn nhất của tự nhiên – khả năng nắm bắt được bản chất sự vật một cách trực tiếp ngay tức khắc không thông qua lý luận. Trực giác có nhiều tầng khác nhau. Ở tầng thấp, một học trò có trực giác tốt sẽ định hướng lời giải của một bài toán hình học nhanh hơn những học trò có trực giác kém. Ở tầng cao, trực giác giúp Isaac Newton cảm thấy có lực hấp dẫn giữa các vật chất có khối lượng, Albert Einstein “nhìn thấy” quy luật tương đối chi phối tự nhiên, Louis Pasteur “cảm thấy” tính bất đối xứng của sự sống,… Ở tầng cao hơn nữa, nó giúp con người “nhìn thấy” những thế giới không nhìn thấy – thế giới siêu tự nhiên, phi vật lý, nơi phương pháp thực chứng và logic của khoa học hoàn toàn bất lực. Vì thế những thầy giáo giỏi không phải là những người truyền đạt giỏi, mà là những người giỏi đánh thức người học, giúp người học tỉnh thức để vận dụng trực giác sẵn có trong tâm mà thấu cảm chân lý, thay vì lý luận chứng minh. Đức Phật và Đức Chúa Jesus là những nhà truyền giảng và đánh thức vĩ đại. Câu nói bất hủ của Chúa Jesus, rằng “Phúc cho ai không thấy mà tin” là một lời đánh thức tất cả những ai muốn tìm chân lý, nhưng rất tiếc là có nhiều người không hiểu, thờ ơ với lời đánh thức đó. Nhưng những người như Kurt Gödel thì không như vậy. Lời nói quả quyết của ông, Chủ nghĩa duy vật là sai lầm, chứng tỏ ông là một người tỉnh thức hơn ai hết – ông phủ nhận chủ nghĩa duy vật và vô thần quyết liệt tới chừng nào.
Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều người hiểu Gödel hơn, và do đó ngày càng có nhiều người từ bỏ chủ nghĩa duy vật hơn. Tiến sĩ John Spencer, với tư cách một nhà triết học về vật lý lượng tử, đã ủng hộ Gödel bằng lập luận logic một cách mạnh mẽ đến nỗi phải trích dẫn Plato để phê phán chủ nghĩa duy vật như một thứ triết học tầm thường và ngoan cố. Lập luận của Spencer vừa mang tính khoa học vừa mang tính triết học.
Logic bác bỏ chủ nghĩa duy vật
Trong bài báo nói trên, Spencer lưu ý độc giả rằng : Kurt Gödel tuy không nổi tiếng như Albert Einstein, nhưng đừng quên rằng ông là một trong những nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ 20, và là nhà logic vĩ đại nhất kể từ sau Aristotle; bản thân Einstein trong thời gian làm việc cùng với Gödel tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton đã từng công khai nói với mọi người rằng ông đến Viện nghiên cứu chỉ cốt để gặp gỡ trò chuyện với Gödel, rồi cùng đi bộ với Gödel về nhà; một bạn thân khác của Gödel tại đây là nhà toán học lừng danh John von Newman, một trong những cha đẻ của computer ngày nay.
Vậy điều gì đã làm cho một nhà khoa học bậc nhất như Gödel chối bỏ chủ nghĩa duy vật?
Spencer nói: “Chủ nghĩa duy vật, một thứ triết lý dựa trên tiên đề cho rằng chỉ có vật chất mới là cái có thật, đã trở thành nền tảng cố hữu không thể tranh cãi trong rất nhiều trường phái khoa học chính thống”.
Cái nền tảng ấy đã trở thành một xiềng xích trói buộc, một tảng đá đè nặng lên tư duy khoa học, cản trở tư duy sáng tạo đến nỗi nhà thần kinh học Mario Beauregard đã phải lên tiếng kêu gọi: “Nay đã đến lúc chúng ta phải tự giải phóng mình ra khỏi những xiềng xích trói buộc và những tấm vải che mắt của ý thức hệ duy vật cỗ lỗ sĩ” (It’s now time to free ourselves from the shackles and blinders of the old materialist ideology).
Thực ra những người tài giỏi thực sự không cần phải chờ đợi lời kêu gọi đó. Họ đã tự giải phóng mình từ lâu, đúng như Spencer nhận xét: “Trớ trêu thay, có một sự thật là nhiều nhà khoa học đi tiên phong trong khoa học hiện đại từ vài thế kỷ trước đây cho tới những nhà sáng lập cơ học lượng tử như Max Planck và Werner Heisenberg cũng đều bác bỏ chủ nghĩa duy vật”.
Ủng hộ lời kêu gọi của Mario Beauregard, John Spencer nêu lên một lập luận 9 điểm để bác bỏ chủ nghĩa duy vật:
Các định luật vật lý là nền tảng của tất cả mọi khoa học.
Các định luật vật lý là những quan hệ toán học.
Các quan hệ toán học phụ thuộc vào các con số.
Mọi con số được xây dựng từ 1 và 0 (“2” là 1 + 1, và zero là sự vắng mặt của mọi thứ)
Số 0 bản thân nó là phi vật lý (nó không đại diện cho bất kỳ một vật chất cụ thể nào cả).
Số 1 bản thân nó cũng phi vật lý. Có thể có 1 cái cây, 1 cái ôtô,… nhưng bản thân số 1 không phải cái cây hoặc cái ôtô (số 1 chỉ là một mã hoặc một thông tin).
Vì các số là “cái gì đó” phi vật lý, do đó các định luật vật lý thể hiện hoặc phụ thuộc vào cái gì đó phi vật lý.
Vậy buộc phải đi đến kết luận: hoặc a) các định luật vật lý là có thực nhưng phi vật lý, điều này cho thấy chủ nghĩa duy vật là sai; hoặc b) các định luật vật lý là phi hiện thực, điều này làm cho nền tảng của mọi khoa học trở thành phi hiện thực.
Bất chấp thắng lợi phi thường bề ngoài của khoa học, nếu nền tảng của khoa học là phi hiện thực thì rốt cuộc nó không thể cung cấp bất kỳ cơ sở nào cho chân lý khách quan trong hiện thực, và do đó không thể nói rằng chủ nghĩa duy vật phản ánh chân lý khách quan.
john spencer lập luận trên đã được Spencer phát triển lên một trình độ sâu sắc hơn rất nhiều trong cuốn “The Eternal Law” (Định luật Vĩnh cửu), một cuốn sách tích hợp các tri thức triết học, khoa học và thậm chí cả tâm linh, rất đáng đọc, đã được nhà toán học và vật lý lỗi lạc Roger Penrose đánh giá là một cuốn sách làm cho người đọc cảm thấy “vô cùng khoan khoái” (enormously refreshing). Nhưng bất chấp ý kiến của những người như Penrose, các nhà duy vật vẫn ngoan cố cho rằng ngoài vật chất chẳng có bất cứ thứ gì khác. Spencer than phiền: “Trong mọi trường hợp, dù bạn đưa ra bao nhiêu lập luận logic chống lại chủ nghĩa duy vật hoặc dẫn ra bao nhiêu ý kiến của các nhà khoa học hàng đầu bác bỏ chủ nghĩa duy vật, cuối cùng nhà duy vật cứng đầu vẫn bỏ ngoài tai. Vì thế người ta phải băn khoăn tự hỏi: Phải chăng Plato đúng khi quy kết các nhà duy vật là ‘những kẻ tệ hại’ hoặc ‘những gã bướng bỉnh ngoan cố’?” [0].
Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật. Sự thật dễ thấy nhất là hầu hết những nhà khoa học giỏi nhất, thâm thúy nhất đều từ chối chủ nghĩa duy vật. Để lập một danh sách những nhà khoa học như thế, xin lấy một nhận định của Louis Pasteur làm tiêu chuẩn: “Một ít khoa học làm ta xa rời Chúa [2]; nhiều khoa học làm ta quay về với Chúa” (Un peu de science nous éloigne de Dieu, beaucoup nous y ramène).
Đó là một nhận định chính xác. Quan sát thực tế, tôi thấy đa số những người có đầu óc khoa học nửa vời, thậm chí tầm thường, thường trở thành những kẻ tự phụ, tưởng mình có thể “thế thiên hành đạo”, bịa ra những lý thuyết giải thích thế giới mà không cần đến Thần; ngược lại những người tài giỏi thực sự lại có thái độ khiêm tốn, biết kinh ngạc thán phục trước những kỳ quan của Tạo Hóa, và do đó tin vào sự hiện hữu của những lực lượng siêu nhiên.
Einstein có lẽ là một nhân vật tiêu biểu nhất cho loại người biết kinh ngạc trước những phép mầu của Tự nhiên, vì thế ông cũng là người nêu lên một công thức chính xác để đo lường tri thức của con người: Ego = 1/Knowledge (Cái tôi = 1/Tri thức) – cái tôi tỷ lệ nghịch với tri thức, tri thức càng ít thì cái tôi càng lớn, tri thức càng nhiều thì cái tôi càng nhỏ.
Người có cái tôi lớn thường không thừa nhận Thần, người có cái tôi nhỏ thường thừa nhận Thần, thán phục Thần. Một người có khiêm tốn hay không, hãy xem anh ta đối xử với Thần như thế nào. Cách đo lường đó hoàn toàn phù hợp với “tiêu chuẩn” của Pasteur nói trên. Vậy dựa trên “tiêu chuẩn” này, xin nêu một danh sách những nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại từ chối chủ nghĩa duy vật như sau đây.
NHỮNG NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI CÓ ĐỨC TIN VÀO THẦN
1.Galileo Galilei (1564-1642) :
galileo galileiViệc Tòa án Giáo hội Công giáo La mã năm 1633 kết tội Galileo vì ông ủng hộ thuyết Nhật tâm đã trở thành một vết đen trong lịch sử Công giáo, đánh dấu một cuộc đối đầu không đáng có giữa khoa học và tôn giáo, để lại một hệ lụy vô cùng đáng tiếc cho tới tận hôm nay. Hệ lụy lớn là gây ra một sự hiểu lầm vô cùng tai hại rằng khoa học và tôn giáo là hai hệ thống nhận thức đối đầu nhau và loại trừ lẫn nhau từ trong bản chất. Hệ lụy nhỏ là gây ra sự hiểu lầm lớn rằng Galileo là người vô thần, chống đối tôn giáo. Cả hai hệ lụy đó đều bắt nguồn từ sai lầm của Tòa án Giáo hội năm 1633. Năm 1992, sau 13 năm nghiên cứu lại vụ án Galileo, Giáo hội Công giáo La mã dưới triều đại của Đức Giáo hoàng Jean Paul II đã chính thức sửa chữa sai lầm của 359 năm trước: thừa nhận Tòa án Giáo hội sai và Galileo đúng, khôi phục lại mọi danh dự cho nhà khoa học chính trực Galileo Galilei. Đây là một quyết định dũng cảm, nhân bản, đề cao công lý, thể hiện rõ ý Chúa. Nhân dịp này báo chí thế giới cũng nói nhiều đến Galileo, qua đó cho thấy ông là người có Đức tin vững chắc. Thật vậy, ông tuyên bố: “Chúa được biết đến nhờ những công trình Ngài kiến tạo trong tự nhiên, và nhờ những lời dạy Ngài vén mở trong các kinh sách” (God is known by nature in His works, and by doctrine in His revealed word). Đối với Galileo, khoa học càng làm ông tin chắc vào vai trò sáng tạo của Chúa. Đây, hãy nghe ông nói: “Toán học là bảng chữ cái trong đó Chúa viết về vũ trụ” (Mathematics is the alphabet in which God has written the universe).
2.Isaac Newton (1643-1727) :
isaac newtonNewton nổi tiếng là một người Thiên Chúa giáo ngoan đạo, vì thế ông cũng là người rất khiêm tốn, biết mình bé nhỏ và tầm thường trước Đấng Sáng tạo vĩ đại. Khi được hỏi làm thế nào để ông có thể khám phá được nhiều điều kỳ lạ đến thế, ông nói ông chỉ giống như một đứa trẻ dạo chơi ngoài bãi biển, say mê nhặt những vỏ sò đẹp, và mỗi khám phá của ông giống như một vỏ sò đẹp mà thôi. Khi ông khám phá ra Định luật Vạn vật Hấp dẫn rồi dùng nó để giải thích chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời, có người chất vấn ông: “Nếu không có chuyển động quán tính của hành tinh theo phương tiếp tuyến với quỹ đạo thì hành tinh sẽ bị hút vào Mặt Trời, vậy chuyển động quán tính ấy từ đâu mà ra?”. Newton đáp ngay: “Đó là cú hích ban đầu của Chúa!”. Ngày xưa thầy dạy vật lý của tôi kể lại chuyện này cho học trò nghe rồi kết luận: “Newton rốt cuộc vẫn là người duy tâm”. Ý thầy chê duy tâm là kém. Lũ trẻ nhỏ chúng tôi đứa nào chẳng tin thầy? Sau này lớn lên tôi mới vỡ nhẽ ra rằng một nhận định sai của giáo dục một khi đã được nhồi nhét vào đầu trẻ em sẽ để lại một hậu quả vô cùng tai hại đối với con người, và điều đó rất khó sửa chữa. Đó chính là tình trạng của thuyết tiến hóa hiện nay. Sau này tự đọc sách, tự suy ngẫm, tôi hiểu ra rằng chỗ thầy tôi chê Newton chính là chỗ để lộ thiên tài của Newton. Thiên tài hơn người tầm thường ở chỗ cảm nhận được cái gì là có thể, cái gì là không thể. Giải thích nguyên nhân đầu tiên là không thể! Nguyên nhân đầu tiên luôn luôn thuộc về Chúa. Tôi dám phát biểu điều đó như một định lý. Sự sống đầu tiên cũng vậy. Thuyết tiến hóa SAI vì nó bịa ra sự sống đầu tiên nẩy sinh từ “nồi soup nguyên thủy”. Hơn 150 năm sau vẫn không làm thế nào mà chứng minh được chuyện bịa này là sự thật. Thay vì thừa nhận chuyện bịa đó đã thất bại, các nhà tiến hóa lại bịa ra những giả thuyết mới, chẳng hạn giả thuyết về “thế giới RNA”, và cứ thế kéo một đám đông khờ dại cả tin đi theo họ. Đám đông này bị cuốn theo đống chữ nghĩa phức tạp hàn lâm mà cứ ngỡ đó là khoa học. Trong khi đó Newton rất tỉnh táo, ông không để cho ai có thể lung lạc được ông. Ông trả lời người chất vấn ông ngay tức khắc bằng một câu trả lời cần thiết nhất, dứt khoát nhất, như một bài học dạy cho người hỏi. Newton biết rõ ai tin Chúa, ai không tin. Hãy nghe ông nói: “Người suy nghĩ nửa vời sẽ không tin Chúa; nhưng người suy nghĩ thấu đáo sẽ phải tin Chúa” (He who thinks half-heartedly will not believe in God ; but he who thinks really has to believe in God).
3.Blaise Pascal (1623-1662) :
blaise pascalTôi đã thảo luận khá nhiều về Pascal trên tất cả những diễn đàn mà tôi từng tham gia, nhưng chưa bao giờ cảm thấy là đủ, vì nhiều lý do. Một, ông quá vĩ đại để có quá nhiều điều cho hậu thế học hỏi, bàn luận; Hai, ông là người Thiên Chúa giáo có Đức tin mãnh liệt, một nhà khoa học có uy tín lớn bênh vực Thiên Chúa giáo, vì thế ông bị giới vô thần ngấm ngầm chống đối bằng cách che đậy, tảng lờ các công trình của ông về triết học và thần học, sao cho càng ít người biết tư tưởng của ông càng tốt. Chính Pascal cũng biết điều đó. Ông nói: “Người ta khinh thường tôn giáo. Họ thù ghét nó nhưng sợ nó đúng” (Les hommes ont mépris pour la réligion. Ils en ont haine et peur qu’elle soit vraie). Vì thế tôi muốn giới thiệu với mọi người càng nhiều về Pascal càng tốt, nhất là về những gì bấy lâu nay ít người biết. Càng đọc Pascal, tôi càng ngạc nhiên và choáng ngợp vì tầm vóc và chiều sâu tư tưởng của ông. Ông chính là người đầu tiên chứ không phải Kurt Gödel đã thảo luận rất kỹ về tính hạn chế của toán học nói riêng và nhận thức lý lẽ nói chung. Đó là những công trình ông viết về cơ sở của Hình học, trong đó ông chỉ ra rằng không có cách nào để kiểm tra một hệ tiên đề là đầy đủ và tuyệt đối chắc chắn. Từ đó suy ra rằng toán học nói riêng và khoa học nói chung là không đầy đủ và không tuyệt đối chắc chắn. Nhận thức muốn vươn lên cao hơn, phải vận dụng “lý lẽ của trái tim” (la raison du Coeur), Pascal nói, “chính trái tim giúp ta nhận biết Chúa chứ không phải lý lẽ” (C’est le Coeur qui sent Dieu et non la raison). Nếu Gödel có gì khác Pascal, thì đơn giản là ông sinh sau đẻ muộn hơn Pascal gần 3 thế kỷ, và biến những luận điểm triết học khoa học của Pascal thành một định lý toán học không thể tranh cãi: Định lý Bất toàn (Theorem of Incompleteness). Vấn đề này đã được thảo luận kỹ trong nhiều bài viết trên PVHg’s Home: “Lý lẽ của Trái tim” (La Raison du Cœur) ngày 05/12/2013, “LỬA của PASCAL” (PASCAL’s FIRE) ngày 16/12/2013; “VỀ TÍNH BẤT TOÀN: TỪ PASCAL ĐẾN GODEL (On the Incompleteness: From Pascal to Godel)” ngày 28/05/2015. Trong những bài đó, tôi đã trích dẫn một ý kiến của Pascal mà qua đó có thể thấy Pascal đánh giá thấp tư tưởng duy vật như thế nào: “Chủ nghĩa vô thần thể hiện sức mạnh của tinh thần, nhưng chỉ ở một mức độ nhất định mà thôi” (Athéisme marque de force d’esprit, mais jusqu’à un certain degré seulement).
4.Gregor Mendel (1822-1884) :
gregor mendelMendel là một tu sĩ Công giáo toàn tâm toàn ý, vì thế không có gì phải nghi ngờ Đức tin của ông đối với Thần. Trong cuốn “Các nhà khoa học có Đức tin” (Scientists of Faith), Dan Graves nhận xét về Mendel như sau: “Mặc dù ông đọc Darwin, nhưng ông không chấp nhận nhiều lý thuyết của Darwin, vì ông tin rằng Thần sáng tạo ra thế giới và sự ngẫu nhiên mù quáng không thể là lý do tạo ra thế giới…” (Although he read Darwin, he [Mendel] did not accept many of his [Darwin’s] theories, believing that God had created the world and blind chance could not be responsible for the outcome…) [1]. Chú ý rằng thuyết tiến hóa của Darwin nói rằng sự sống đầu tiên hình thành một cách ngẫu nhiên, mù quáng, vô mục đích từ vật chất không sống. Và đó là điều Mendel không thể nào chấp nhận được! Năm 1966, trong một hội nghị lớn tại Mỹ, các nhà toán học cũng thảo luận về xác suất để sự sống hình thành ngẫu nhiên từ các phân tử không sống. Hội nghị đã đi đến kết luận rằng xác suất này vô cùng nhỏ, nhỏ gần như bằng 0, và do đó sự sống không thể xẩy ra ngẫu nhiên. Nhà toán học Anh Fred Hoyle đặc biệt quan tâm tới thuyết tiến hóa, cũng đi đến kết luận rằng sự sống không thể hình thành từ “nồi soup nguyên thủy”. Mendel rất giỏi toán, không biết ông có nghĩ tới việc tính xác suất để phủ nhận Darwin hay không, nhưng trực giác thiên tài của ông đã đủ để ông bác bỏ Darwin. Xin lưu ý độc giả rằng thông tin Mendel bác bỏ Darwin bị giới tiến hóa che đậy trong hơn 150 năm qua. Hiện nay dưới ánh sáng internet, sự thật ngày càng được sáng tỏ. Từ đó tôi dám nói rằng ai đã thực sự ngưỡng mộ Mendel thì ắt phải bác bỏ Darwin. Trường phái “Darwin mới” (Neo-Darwinism) đã phải vội vàng kết hợp học thuyết di truyền của Mendel vào thuyết tiến hóa, nhưng thực chất đã phản lại chính Darwin, vì quan điểm về di truyền của Darwin hoàn toàn khác với các định luật di truyền của Mendel. Quan niệm di truyền của Darwin tiếp thu từ Lamark là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, nhưng giới tiến hóa che đậy sự thật này, giấu nhẹm sai lầm của Darwin. Nhưng không che giấu được những người ham hiểu biết. Chỉ cần vào Google, gõ “what did Darwin learn from Lamark?”, sự thật sẽ lộ ra ngay.
5.Louis Pasteur (1822-1895):
louis pasteurNếu phải mô tả Pasteur bằng một câu ngắn nhất thì đó là : « Pasteur : Người con ưu tú của Chúa và ân nhân của nhân loại ». Giới vô thần không yêu mến Pasteur, vì ông có Đức tin Thiên Chúa giáo sâu sắc, và vì ông chống thuyết tiến hóa một cách rõ rệt. Tương tự như cách họ đối xử với Pascal, giới vô thần cố làm cho mọi người nhắc đến Pasteur càng ít càng tốt, đơn giản vì càng nhắc đến ông càng làm cho thuyết tiến hóa lộ diện là một lý thuyết ngụy khoa học. Đó là lý do vì sao người ta không tiếc lời ca ngợi Pasteur như cha đẻ của khoa học vi sinh (microbiology) và miễn dịch học (immunology), nhưng người ra rất ít nói đến Pasteur như một nhà khoa học lớn khám phá ra những nguyên lý cơ bản của sự sống. Cụ thể người ta rất sợ nhắc đến hai định luật cơ bản của sự sống do Pasteur khám phá: Định luật sự sống bất đối xứng (thuận tay trái) và Định luật sự sống chỉ ra đời từ sự sống (biogenesis). Lẽ ra những định luật mang tính cơ bản này phải được dạy trong chương trình Sinh học ở trường phổ thông. Nhưng chỉ có những sinh viên đại học chuyên ngành mới được học. Tại sao họ sợ hai định luật đó? Vì cả hai đều phủ nhận thuyết tiến hóa khi thuyết này nói rằng sự sống hình thành một cách tự phát và ngẫu nhiên từ vật chất không sống. Chương trình Sinh học ở trường phổ thông phớt lờ hai định luật cơ bản này và tiếp tục nhồi nhét vào đầu học trò kiến thức sai lầm rằng sự sống hình thành một cách ngẫu nhiên từ vật chất không sống, mặc dù không làm thế nào mà chứng minh được nhận định đó. Khi học trò trở thành người lớn, rất khó để sửa chữa nhận thức sai lầm này, ngay cả khi được trông thấy những bằng chứng rành rành tố cáo sự gian lận của thuyết tiến hóa. Đó là một thảm họa. Tôi tin rằng đến một ngày nào đó, khi thuyết tiến hóa hoàn toàn bị xóa bỏ, công lao của Pasteur sẽ còn được đánh giá cao hơn nữa. Nhưng bản thân ông, ông biết rõ rằng thành công của ông là nhờ có may mắn – ông “có Chúa ở bên trong”. Thật vậy, ông nói: “Người Hy-lạp hiểu được sức mạnh bí ẩn nằm bên dưới sự vật. Chính họ đã cho chúng ta một trong những từ ngữ đẹp nhất trong ngôn ngữ của chúng ta, đó là chữ “enthousiasme” (cảm hứng), chữ Hy-lạp là Εν Θεος , có nghĩa là ‘có Chúa ở bên trong’. Tầm vóc hành vi của con người được đo bởi niềm cảm hứng mà từ đó những hành vi ấy hiện ra. Hạnh phúc thay cho ai có Chúa ở bên trong”.
6.Henri Poincaré (1854-1912) :
henri poincareKhi còn là học sinh, Poincaré đã được mệnh danh là “con quỷ toán học” (monstre de mathématiques). Ở tuổi trưởng thành, giới toán học gọi ông là « Mozart của toán học ». Tổng kết cả cuộc đời, giới bác học mô tả ông như “the last Universalist” (nhà đại quảng bác cuối cùng), bởi khó có thể tưởng tượng được bề rộng của những mảnh đất toán học và vật lý mà ông đã khám phá ra hoặc đặt chân tới, rồi để lại ở đó những dấu ấn sâu sắc, những di huấn, những tư tưởng, những bài toán khổng lồ cho hậu thế tiếp tục khai phá. Nhà toán học đàn em nhưng cùng thời với ông, Bertrand Russell, người nổi tiếng với Nghịch lý Russell, không tiếc lời ngợi ca Poincaré là “nhà toán học vĩ đại nhất đang còn sống”, bất chấp sự hiện diện của những nhà toán học lớn đương thời khác như David Hilbert,… Có thể quên công trình nào đó của Poincaré, nhưng không được phép quên ông là cha đẻ của Topo Đại số, cha đẻ của Giả thuyết Poincaré, người đầu tiên định hướng cho lời giải tổng quát của Bài toán Ba Vật thể (Problème à Trois Corps), người đặt nền móng cho Lý thuyết Hỗn độn (Theory of Chaos), đồng tác giả của Thuyết Tương đối hẹp, và đặc biệt, một nhà triết học khoa học nhìn xa trông rộng, kẻ thù số 1 của chủ nghĩa toán học hình thức do Hilbert cầm đầu… Chỉ cần ghé qua tiểu sử khoa học của ông, một người trung thực không thể không có cảm giác khiếp sợ trước những công trình sáng tạo vĩ đại của ông, cả về số lượng lẫn tầm vóc khổng lồ về tư tưởng. Một người vĩ đại như thế mà vẫn biết rằng có Thần, và Thần chính là tác giả của những quy luật vũ trụ được diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học: “Nếu Thần nói với con người, không nghi ngờ gì nữa rằng Ngài sử dụng ngôn ngữ toán học” (If God speaks to man, He undoubtedly uses the language of mathematics), Poincaré nói [2].
7.Max Planck (1858-1947):
max planckLà cha đẻ của Thuyết Lượng tử, Planck ắt hẳn phải là một nhà tư tưởng. Đối với ông, Thần là nhu cầu tất yếu của cả tôn giáo lẫn khoa học. Ông nói: “Cả tôn giáo lẫn khoa học đều cần đến Đức tin vào Thần để phụng sự cho hoạt động của mình, hơn nữa, tôn giáo cần có Thần ngay từ lúc khởi đầu, khoa học cần đến Thần vào lúc kết thúc toàn bộ tư duy. Đối với tôn giáo, Thần là nền tảng, đối với khoa học, Thần là đỉnh cao nhất của bất kỳ lý lẽ nào liên quan đến vũ trụ quan” (Both religion and science need for their activities the belief in God, and moreover God stands for the former in the beginning, and for the latter at the end of the whole thinking. For the former, God represents the basis, for the latter – the crown of any reasoning concerning the world-view).
8.Albert Einstein (1879-1955):
albert einsteinEinstein nổi tiếng là người hay nhắc đến Thần như Đấng Sáng tạo vũ trụ và tác giả của các định luật vũ trụ. Ông yêu Cái Đẹp và Cái Trật tự say đắm đến nỗi tin chắc rằng Thần bao giờ cũng ngay ngắn rõ ràng mạch lạc đẹp đẽ, Thần không thể chơi trò may rủi ú tim nước đôi lập lờ. Vì thế ông chống đối Nguyên lý Bất định đến cùng, và điều đó làm rạn nứt tình bạn vốn có giữa ông với Niels Bohr. Mặc dù Thần của Einstein không phải là Chúa của Thiên Chúa giáo, nhưng ông cho rằng niềm tin vào Thần của ông, Đấng Sáng tạo, là điều ắt phải có đối với một nhà khoa học. Thậm chí ông coi đó là một tôn giáo đích thực. “Khoa học không có tôn giáo là khoa học khập khiễng; tôn giáo không có khoa học là tôn giáo mù quáng” (Science without religion is lame; Religion without science is blind). Hóa ra Einstein đã phát biểu một chân lý rõ ràng rằng khoa học và tôn giáo rất cần thiết có nhau, bổ sung cho nhau, thay vì loại trừ nhau như chủ nghĩa duy vật tuyên bố. Nói cách khác, Einstein đã mặc nhiên bác bỏ chủ nghĩa duy vật. Ông tuyên bố: “Càng nghiên cứu khoa học tôi càng tin vào Thần” (The more I study science, the more I believe in God).
9.Werner Heisenberg (1901-1976):
chủ nghĩa duy vậtSau khi Einstein và Bohr mất, Heisenberg được tôn vinh như nhà vật lý số 1 của thế giới. Ông đã phạm sai lầm lớn về chính trị khi làm giám đốc chương trình nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử của Hitler. Có lẽ việc này để lại trong lòng ông một nỗi hối hận suốt đời. Theo những gì tôi biết, ông là người ngây thơ về chính trị, nhưng ông không phải kẻ ác. Đây là vấn đề thuộc về lịch sử, đáng để cho những ai yêu lịch sử tìm hiểu kỹ. Nhưng về triết học và vũ trụ quan, ông là người vô cùng sâu sắc. Ông nhắn nhủ các nhà khoa học rằng: “Ngụm nước đầu tiên từ cốc nước khoa học tự nhiên sẽ biến bạn thành một người vô thần, nhưng ở đáy cốc Thần đang đợi bạn” (Der erste Trunk aus dem Becher der Naturwissenschaft macht atheistisch, aber auf dem Grund des Bechers wartet Gott). Đối chiếu câu nói này của Heisenberg với câu nói của Pasteur ở trên (mà tôi lấy làm tiêu chuẩn đo lường tri thức của các nhà khoa học), ta thấy hai câu nói giống nhau đến mức có thể nghĩ rằng “Heisenberg nhắc lại lời Pasteur chăng?”. Không! Đó là “tư tưởng lớn gặp nhau!” (Les grands esprits se rencontrent!)
10. Kurt Gödel (1906-1978):
kurt godelToàn bộ bài viết mà độc giả đang đọc có thể xem như một bình luận về tư tưởng của Gödel. Có lẽ Gödel là nhà khoa học bác bỏ chủ nghĩa duy vật thẳng thắn nhất, rõ ràng nhất, mạnh mẽ nhất. Chúng ta đã thấy nhiều bậc tiền bối của Gödel có những suy nghĩ rất giống ông, điển hình là Blaise Pascal, hay sau này là Max Planck. Nhưng công lao và thiên tài của Gödel là ở chỗ ông đã biến tất cả những nhận định mang tính triết học bác bỏ chủ nghĩa duy vật thành những định lý toán học không thể tranh cãi được. Thiết tưởng nếu không có Định lý Bất toàn của ông thì không biết những trường phái duy vật và vô thần như Hilbert sẽ còn làm mưa làm gió đến bao giờ. Bài báo “Gödel chứng minh Thần hiện hữu (Gödel proved that God Exists)” trên PVHg’s Home ngày 17/09/2014 đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn tương đối đầy đủ về vũ trụ quan và tư tưởng triết học và thần học của Gödel. Nhưng sau khi trình bầy 14 quan điểm triết học của Gödel (nội dung bác bỏ chủ nghĩa duy vật và khẳng định sự cần thiết của Đức tin) bài báo đã kết luận bằng lời của Thánh Thomas Aquinas rằng “Đối với người có đức tin, không cần có sự giải thích nào cả. Đối với người không có đức tin, chẳng có lời giải thích nào là đủ” (To one who has faith, no explanation is necessary. To one without faith, no explanation is possible). Nhận định đó thật chí lý.


Phạm Việt Hưng