Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

www.songkhoe.net - 14 loại thực phẩm có trót mua về cũng tuyệt đối không được ăn


Thực phẩm không được bảo quản đúng cách sẽ khiến phát sinh những độc tố có thể gây nguy hiểm chết người.
Dưới đây là những thực phẩm cấm sử dụng:
1. Cà chua xanh
Cà chua xanh có chứa chất độc Solanine. Do đó, khi ăn cà chua xanh, khoang miệng có cảm giác đắng chát; sau khi ăn có thể xuất hiện các triệu chứng ngộ độc như chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa… Giới khoa học còn cảnh báo ăn cà chua xanh sống càng nguy hiểm.
2. Chè bị mốc
Chè là thức uống vô cùng quý giá cho sức khỏe con người. Nhưng nếu chè bị mốc là đã nhiễm penicillin và aspergillus. Nếu uống trà bị mốc, nhẹ cũng cảm thấy chóng mặt, tiêu chảy.
3. Gừng bị dập
Gừng tươi là thực phẩm không nên để lâu bởi sau một vài ngày nó sẽ bị mềm, tóp đi và hỏng dần ở các nhánh nhỏ và các vết cắt, nếu vì tiếc mà cố cắt bỏ phần hỏng và dùng tiếp phần nguyên vẹn của củ gừng thì một số nghiên cứu cho thấy  do quá trình dập nát, cũ hỏng mà bên trong củ gừng đã xảy ra một chất độc hại có tên là shikimol. Chất này nằm trong cả củ gừng chứ không phải chỉ ở phần giập nát nên không thể cắt bỏ hết. Đây là hoạt chất độc tính rất cao có thể gây sự biến đổi tế bào gan của một người đang khoẻ mạnh, cho dù lượng chất này có thể bị hấp thụ rất ít.
3 loại thực phẩm hay ăn dễ sinh độc tố nếu dùng không đúng cách
Bên cạnh những lợi ích sức khỏe, có những loại rau sẽ trở thành độc tố nếu bạn không biết sử dụng đúng cách.
4. Khoai tây mọc mầm
Khoai tây có chứa nhiều chất xơ, prô-tê-in, các vi-ta-min A, C, B6, E, sắt, can-xi… nên nó đứng cao nhất về giá trị dinh dưỡng so với các loại rau củ khác. Tuy nhiên, nếu để lâu khoai tây sẽ mọc mầm. Khi đó sinh chất độc solamine, chất này kích thích tương đối mạnh đến niêm mạc dạ dày, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. Ăn khoai tây mọc mầm có nguy cơ bị đau bụng, ỉa chảy, nôn mửa, thậm chí suy hô hấp.
5. Dưa muối chưa kĩ
Các loại dưa muối nói chung là thực phẩm được chế biến bằng cách sử dụng muối trộn chung với một số thân, lá, hoa, quả, củ để làm lên men chua dưới tác dụng của một số vi sinh vật. Ăn dưa muối đem lại nhiều tác dụng tích cực cho cơ thể và bữa ăn hàng ngày.
Dù có những tác dụng như trên nhưng nếu không biết sử dụng đúng cách thì dưa muối đôi khi lại trở thành thứ gây hại. Bởi vì trong một vài ngày đầu muối dưa, vi sinh vật sẽ chuyển hóa nitrat trong các nguyên liệu thành nitric, làm hàm lượng nitric tăng cao, độ pH giảm dần . Ăn dưa ở giai đoạn này thì có vị cay, hăng, hơi đắng vì chưa đạt yêu cầu. Loại dưa này chứa nhiều nitrate, ăn vào rất có hại cho cơ thể.
6. Đậu xanh nấu chưa chín
Đậu xanh có chứa saponin và lectins, saponin, một chất gây kích thích mạnh mẽ đối với đường tiêu hóa của con người, có thể gây ra viêm xuất huyết, giải thể các tế bào máu đỏ. Trong đậu cũng chứa hemagglutinin với tập hợp tế bào máu đỏ gây ra ngộ độc sau khi ăn. Vì vậy nếu ăn đậu xanh chưa nấu chín dễ bị ngộ độc.
7. Bắp cải bị thối
Trong bắp cải thối có chứa nitrite, chất này đóng vai trò trong sự hình thành methemoglobin trong máu người, khiến máu mất các chức năng ô-xy, làm cho ngộ độc ô-xy, chóng mặt, đánh trống ngực, nôn mửa, tím môi… bị nặng có thể gây bất tỉnh, co giật, khó thở, không kịp thời cứu hộ có thể đe dọa tính mạng.
8. Mật cá
Mật cá chứa độc tố nguy hại cho sức khoẻ. Cá càng lớn độc tố càng mạnh. Loại độc tố này có đặc điểm không bị phá hủy ở nhiệt độ cao và trong cồn, sau khi ăn vào sẽ bị tổn hại đến chức năng gan và thận, ở mức độ nặng có thể gây tử vong.
Những thực phẩm không được ăn vỏ vì rất độc
Vỏ khoai lang có nhiều chất kiềm, ăn khoai lang rất tốt cho những ai bị táo bón, nhưng ăn cả vỏ khoai lại không tốt cho tiêu hóa.
9. Giá đỗ không có rễ
Có những loại giá đỗ đang trong quá trình sinh trưởng và phát triển được phun thuốc trừ cỏ, khiến các loại giá đỗ đó to, đầy và không có rễ. Trong thuốc trừ cỏ chứa chất gâyung thư, mà trong giá đỗ không rễ lại hấp thu chất độc hại này. Vì vậy, chúng ta không nên sử dụng loại giá đỗ không rễ này.
10. Ba ba, cua và lươn chết
Ba ba, cua, lươn giàu đạm, rất bổ dưỡng nhưng nếu chúng đã chết tuyệt đối không được ăn. Trong ba ba, cua và lươn có khá nhiều chất histidine, sau khi chết, những chất này nhanh chóng bị phân hủy thành histamine rất độc đối với sức khoẻ, ăn vào dễ bị trúng độc.
11. Trứng gà sống
Lòng trắng trứng gà sống khi ăn vào cơ thể rất khó hấp thu. Trong trứng gà sống có các chất làm cản trở sự hấp thu dinh dưỡng cơ thể và phá hoại công năng tiêu hóa của tụy tạng. Ngoài ra, ăn trứng gà sống rất mất vệ sinh, dễ đưa các vi khuẩn vào cơ thể, gây bệnh.
12. Bí ngô để lâu
Bí ngô chứa hàm lượng đường cao, hơn nữa, do lưu trữ thời gian dài, khiến bên trong bí ngô xảy ra quá trình hô hấp kị khí – lên men, và biến chất, vì vậy khi ăn sẽ gây nguy hiểm tới sức khỏe.
13. Mộc nhĩ tươi
Mộc nhĩ tươi chứa chất nhạy cảm với ánh sáng – chất Porphyrin. Sau khi ăn, với sự chiếu rọi của ánh nắng mặt trời, chúng ta rất dễ bị viêm da, xuất hiện trạng thái ngứa, chứng phù thủng, đau nhức; có người bị phù nề thanh quản dễ gây nên tình trạng khó thở. Vì vậy, chỉ nên ăn mộc nhĩ khô, ngâm trong nước nấu lên thì mới an toàn.
14. Rau cải nấu chín để qua đêm

Trong rau cải chứa nhiều chất nitrat. Nếu để rau cải qua đêm, do tác dụng của vi khuẩn, muối nitrat chuyển thành muối nitrit, sau khi ăn có thể làm cho tổ chức trong cơ thể thiếu ô-xy, xuất hiện triệu chứng trúng độc, đau đầu, chóng mặt, nôn mửa. Ngoài ra, chất nitrit có nguy cơ cao gây ung thư đường ruột.

Thứ Hai, ngày 05 tháng 1 năm 2015

Mường Giang - Ranh Giới Nước Chiêm Thành Qua Sử Liệu

- Chiêm Thành xưa là đất Việt Thường, cho nên vua Gia Long trong lúc cầu phong với nhà Thanh, đã viết: "Ngay từ thời lập quốc, lãnh thổ của Tổ tiên ta bao gồm cả vùng đất Việt Thường". Căn cứ vào sử Trung Hoa, vùng này đời Tần gọi là Lâm Ap, thuộc Tượng Quận. Đời Hán đổi thành huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam của Van Lang, lúc đó đã bị người Tàu cưởng chiếm và đô hộ, sau khi tiêu diệt nhà Triệu của người Việt. Năm thứ 2 Vĩnh Hòa Hậu Hán, vua Thuận Đế, có viên công tào trong huyện tên Au Lân, nổi lên giết quan huyện, chiếm xứ này, tự xưng làm vua Lâm Ap. Đến đời nhà Tuỳ chiếm lại đất này, cải thành Sung Châu rồi lại đổi thành Lâm Ap như cũ, thống hạt 4 huyện: Tượng Phố, Kim Sơn, Giao Giang và Nam Cực. Cuối đời Trinh Nguyên nhà Đường (785) bỏ hẳn.
Cũng theo Trung Hoa sử, đời Đại Đường có xứ Việt Thường ở Nam di, qua triều cống một con rùa thần đã được 1000 tuổi, lưng rộng trên 3 thước, trên có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua sai chép lấy và gọi là lịch rùa. Bùi Dương Lịch (1757-1828) có viết cuốn Nghệ An ký, đề cập tới đất Việt Thường nhưng biên giới thì từ phía bắc Thanh Hóa tới đèo Hải Vân. Tác phẩm trên cũng cho chúng ta nhiều ý niệm lịch sử có trước các thời vua Hùng dựng nước Văn Lang, sống theo chế độ du mục, thì ở Việt Thường Thị đã có chữ viết. 

Vào khoảng thế kỷ thứ 7 trước tây lịch, các vua Hùng đã sáp nhập miền Bắc Việt và một phần Việt Thường Thị vào Văn Lang. Riêng phần đất còn lại từ đèo Ngang ở phía nam Hà Tỉnh về sau thuộc nước Chiêm Thành. Vào thế kỷ thứ 11 sau TL, vua Chiêm Thành là Chế Củ thua trận, đã dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (Quảng Bỉnh-Quảng Trị) cho vua Lý Thánh Tông để chuộc mạng. Đến thế kỷ thứ 14, vua Chế Mân dâng 2 châu Ô và Lý (Quảng Trị-Thừa Thiên) cho vua Trần Anh Tôn để cưới Huyền Trân công chúa. Như vậy sau bao thế kỷ chia phân, toàn bộ Việt Thường Thị lại trở về với Đại Việt. 

Tóm lại xưa nay ai cũng đồng chung quan điểm là nước Chiêm Thành ra đời từ đầu thế kỷ thứ 2 sau TL và tồn tại tới năm 1693 thì bị diệt vong. Về lãnh thổ, thì hầu hết các nguồn tài liệu đều nói nước Chiêm Thành nằm trên duyên hải miền Trung Việt Nam, phiá bắc từ Đèo Ngang vào tới Bình Tuy ngày nay. Tuy nhiên cũng có tác giả cho rằng vương quốc Chiêm Thành, bao trùm cả vùng duyên hải lẫn cao nguyên Trung Phần, vậy đâu là sự thật?

1-RANH GIỚI NƯỚC CHIÊM THÀNH:

Trong suốt chiều dài lịch sử, hầu như biên giới giữa Việt-Chiêm không bao giờ cố định vì chiến tranh triền miên giữa hai nước. Và cứ mỗi lần như thế, thì biên giới lại thay đổi cho tới năm 1471, lần đầu tiên vua Lê Thánh Tôn mới cho dựng bia đá trên núi Thạch Bị (đèo Cả, giữa Phú Yên -Khánh Hòa), từ đó ít ra trên giấy tờ mới thấy có sự minh định. Với người Chàm, thực tế chưa bao giờ có một ý niệm ranh giới đối với các lân bang. Theo quan niệm của đạo Bà La Môn, rồi sau này là Hồi Giáo thì nước Chiêm Thành, được coi như là một tập hợp giữa các làng và biên giới nước, được tính từ khoảng không gian giữa kinh đô tới tận các làng mạc xa nhất của người Chàm. Quan niệm cổ này, mãi tới những năm 1955-1975, vẫn được Chính Phủ VNCH cho áp dụng khi tổ chức hành chánh quận Phan Lý Chàm của tỉnh Bình Thuận.

Chúng ta biết người Chiêm suốt dọc dài lịch sử, phần lớn làng mạc chỉ tụ tập ở châu thổ các sông ngòi và các hải cảng, nên đa số đất bị bỏ hoang thành rừng. Điểm này, vua chúa Chiêm Thành lại đem yếu tố tín ngưỡng ra áp dụng để thay thế cho các minh định theo điều kiện kinh tế hay quân sự. Cho nên nói lãnh thổ Chiêm Thành chạy dài tới tận Bình Tuy, vì ở cực nam này vẫn có một số làng Chàm sinh sống tại Phố Châm, Phố Hải, trong khi gần cả trăm cây số từ Đồ Bàn vào Khánh Hòa hay từ Phan Rang vào Phan Thiết, đều là rừng núi hoang vu không có bước chân người, nên mới phát sinh câu tục ngữ truyền khẩu "cọp Phú Yên-Khánh Hòa, ma Bình Thuận " là vậy.

Tóm lại chỉ có dân bản địa và triều đình mới hiểu đâu là ranh giới của làng mình, vì nó chỉ có tên gọi nhưng không có trong bản đồ và văn kiện. Theo truyền khẩu, thì vua Chàm là chúa tể sơn hà hay Po-tana-
raya, chủ nhân ông tất cả mọi thứ trong nước, dù thực tế chỉ có quyền hạn, tại các làng mạc cùng chung tín ngưởng. Đó là sự bất di bất dịch không ai có quyền xâm phạm vì đã được thần linh xác nhận qua trung gian của đồng cốt. Do trên khi gây chiến tranh, người Chiêm biện lý rằng đó là quyết định của thần linh, chứ không phải là xâm lược. Cũng do cái ý niệm thiêng liêng như vậy, mà mỗi cá nhân phải có bổn phận gán liền đời mình với mảnh đất quê hương, để không bị làm con ma trơi bất hạnh khi phải chết ngoài làng mình. Sự ràng buộc khiến người Chiêm không muốn xuất ngoại, nên dù đã vong quốc, sống trong một tổ quốc khác, nhiều người Chiêm Thành cứ tiếp tục cho là mình vẫn lệ thuộc vào chính trị và hành chánh của quốc gia . Quan niệm này tới khi VN hoàn toàn bị Cọng sản đệ tam quốc tế đô hộ, có một số ít người Chàm bị nguy hại tới tính mạng, vì liên hệ với Chính phủ Quốc Gia VN, nên mơi chịu bỏ xóm làng của mình mà vượt biển hay tới nước ngoài, tìm tự do.

Dựa theo tài liệu từ lịch sử Đông Nam Á của D.G.E.Hall, ta biết bán đảo Đông Dương từ thời huyền sử mịt mù, đã có nhiều giống người từ mọi nơi di dân tới. Cho nên ngay cả người Việt, ngày nay khi đi tìm nguồn gốc của chính mình, cũng chỉ là những ước đoán, thì nói chi tới các sắc tộc đã và đang sống tại đó. Tuy nhiên qua thời gian dài, nhờ các phuơng pháp khảo cổ, đã giúp cho các nhà nhân chủng học, tìm được ít nhiều khoen nối trong sự liên hệ của các dân tộc đang sinh sống trên bán đảo AnĐộ-China. 

Cũng theo các nguồn tài liệu từ nhân chủng học và sử liệu, thì nguồn gốc các sắc tộc tại Đông Dương, kể cả Việt Nam, bắt đầu từ cuộc thiên di của hai giống thổ dân Mélanésien tại các hải đảo nam Thái Bình Dương. Sau đó là cuộc thiên di thứ hai của sắc dân Indonésien, từ phía đông Địa Trung Hải và Thổ Nhĩ Kỳ, tới An Độ nhưng bị dân bản xứ Aryens đánh đuổi, nên lại di cư về phía đông, tới Nam Dương, Mã Lai và một nhóm khác vào Đông Dương. Nhiều cuộc đụng độ liên tục xảy ra hằng chục thế kỷ, giữa hai nhóm thiên di trên. Cuối cùng người Mélanésien yếu hơn nên số lớn bỏ duyên hải và miền đồng bằng chạy lên cao nguyên, số còn lại, bị đồng hóa với người Indonésien, thành những người cổ Việt ở phương Bắc và người Chiêm Thành tại nam phương. 

Riêng thổ ngữ thì có hai nguồn chính là Malayo-Polynésien, được người Chàm, Rhadé, Djarai, Roglai, Churu, Haroi,M'dhur xử dụng, ngôn ngữ Môn-Khmer, tại VN được sử dụng từ người Mường, Sédang, M'Nông, Koho. 

Theo các tài liệu trưng dẫn từ Essai d'histoire des populations montagnardes Sud Indochinois của B.Bourotte và quyển Sơ lược chính sách Thượng vụ trong lịch sử VN của P.Nur, đều có nói tới hai nước Phù Nam và Lâm Ap. Phù Nam khởi sự chiếm đồng bằng sông Cửu Long từ đệ nhất thế kỷ sau TL., do một người An Độ theo Bà La Môn tên Hun Chen, đời vua Kaun Dinya. Sau đó Phù Nam được mở rộng tới Chân Lạp, Xiêm La, Mã Lai và một phần Lào cùng hai châu Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Bình Thuận).Từ đó nền văn minh An Độ được các nhà vua Phù Nam mang vào các phần đất trên. Phù Nam bị Chân Lạp thôn tính vào thế kỷ thứ VII. Riêng hai châu cực đông bắc là Kauthara và Panduranga, (Khánh Hòa - Ninh Bình Thuận), bị người Chiêm sáp nhập vào lãnh thổ của họ.

Đồng thời với sự thành lập của Phù Nam, một số thương buôn An Độ khác ở Nam Dương-Mã Lai cũng đổ bộ lên chiếm miền duyên hải Trung Phần. Trong tài liệu cổ của nhà thiên văn học Hy Lạp là Ptolémé có dùng chữ Phạn Lin-Yi để nhắc tới miền duyên hải VN trong cuốn địa lý của ông ta. Còn Nguyễn Khắc Ngữ trong tác phẩm Mẫu Hệ Chàm cũng căn cứ vào tài liệu của Ptolémé, khẳng định nước Lâm Ap hay Chiêm Thành đã có mặt vào những thế kỷ đầu tiên sau tây lịch, từ quận Nhật Nam vào tới biên giới Phù Nam. Người Chiêm Thành cùng sắc tộc với người Mã Lai, theo tôn giáo và chính trị An Độ, là một quốc gia cường thịnh và hùng mạnh thời ấy. Tóm lại lịch sử của Chiêm Thành hầu hết là những trang chiến sử, chẳng những liên tục đánh nhau với Tàu, Đại Việt, Lào, Phù Nam và Chân Lạp, mà họ còn ỷ mạnh đàn áp các bộ tộc cao nguyên, khởi sự từ đời vua Phạm Văn. Nhiều trận đại chiến đã xảy ra giữa Chiêm, Phù Nam, Chân Lạp, Mạ và hai vua Nước - Lửa, lúc đó đang là chúa tể cai trị cả vùng Cao nguyên Trung Phần ngày nay.

Diện tích VN từ thời nhà Nguyễn đến nay vẫn không thay đổi bao nhiêu, rộng 331.000 km2, chia ra Bắc phần 115.700km2, Trung phần bao gồn vùng duyên hải, dãy Trường Sơn và cao nguyên phía nam, từ Thanh Hóa vào tới giáp ranh tỉnh Biên Hòa là 147.600 km2 và Nam phần 67.700km2. Như vậy nước Chiêm Thành buổi đó, từ nam đèo Ngang vào tới Bình Tuy, đất đai xét cho cùng chẳng có bao nhiêu. Riêng cao nguyên Nam Trung phần, nằm giữa vĩ tuyến 11 độ - 15 độ 30 bắc và kinh tuyến 105 độ 30, chạy dài từ bắc xuống nam trên 450 km và đông sang tây 150km, diện tích chừng 65.000 km2, nằm trong tứ giác giới hạn bởi sông Bùng (Quảng Nam), biên giới Việt-Lào-Miên và các con sông Đồng Nai-Sài Gòn. Dãy Trường Sơn chạy từ sông Mã tới sông Búng, phần còn lại tức cao nguyên Nam Trung Phần.

Từ năm 939 sau tây lịch, Đại đế Ngô Vương Quyền chém đầu thái tử Hoàng Thao trên Bạch Đằng Giang, đuổi quân Nam Hán chạy về Tàu, chấm dứt vĩnh viễn 1000 năm Bắc thuộc, mở đầu nền độc lập cho dân tộc Hồng Lạc và nước Đại Việt. Cũng từ đó, công cuộc nam tiến mới được các nhà Hậu Lý, Trần, Hậu Lê và các chúa Nguyễn ở Đàng Trong liên tục trên 600 năm, mới thành tựu.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tôn lấy ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chánh (nay thuộc tỉnh Quảng Bình và một phần Quảng Trị). Năm 1306 vua Chiêm Chế Mân dâng Ô và Lý cưới Huyền Trân. Hai châu này được đổi thành châu Thuận và Hóa, gồm một phần Quảng Trị và Thừa Thiên). Năm 1402 Hồ Quý Ly chiếm Ba Động và Cổ Lũy (Quảng Nam-Quảng Ngãi). Năm 1470 Vua Lê Thánh Tôn chiếm kinh đô Chà Bàn và đem sáp nhập vào Cổ Lũy. Năm 1611 Chúa Nguyễn Hoàng chiếm Phú Yên. Năm 1653 Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần chiếm Khánh Hòa. Năm 1693 chúa Nguyễn Phúc Chu chiếm Phan Rang và Phan Rí, từ đó nước Chiêm Thành mất hẳn.

Tóm lại phải mất sáu thế kỷ máu xương, Đại Việt mới thu hồi được miền duyên hải Trung phần của Văn Lang, mà những người An từ Mã Lai, Nam Dương tới đánh chiếm của dân bản địa Mélano-Polynésiên. Trong suốt thời gian chiến tranh dai dẳng giữa Việt-Chiêm-Phù Nam-Chân Lạp, các bộ tộc ở cao nguyên Trung Phần cũng bị hoạ lây vì chiến nạn từ người Chàm. Năm 1149 vua Chiêm Harivarman đệ I, sau khi đánh đuổi được Chân Lạp dành lại nước, thừa thắng tấn công các Kirata tại cao nguyên, lúc đó do Vamcaraja làm thủ lãnh, phải sang cầu cứu vua Lý Anh Tôn vào năm 1150 nhưng cuối cùng liên quân Đại Việt và các bộ tộc vẫn không chống nổi với quân Chiêm, nên một phần miền cao nguyên phải thần phục Chiêm Thành cho tới năm 1471 vua Lê Thánh Tôn mới giải phóng hoàn toàn ách đô hộ của Chiêm Thành cho các bộ tộc. 

Trong gần 300 làm chủ cao nguyên, người Chàm còn để lại nhiều di tích như các tháp Yan Mun, Dranglai ở gần Cheo Reo (Phú Bổn), tháp và tường thành Eahleo ở Bản Đôn (Darlac) và nhiều Rasung Batau (thùng dùng tắm rửa theo nghi thức tôn giáo) ở Ban Mê Thuột, Keudeu, Meteung, Kontum. Theo Henri Maitre trong Jungles Moi, thì sau khi chiến thắng Chiêm Thành, những quan chức và quân sĩ Chàm từ cao nguyên đã rút về Khánh Hòa, còn triều đình nhà Lê chỉ ấn định một đường ranh giới, phân chia Kinh-Thượng mà thôi.

Cũng dựa theo sử liệu, hiện nay có hai giả thuyết nói về biên giới của Chiêm Thành. Thuyết thứ 1 của A.Bergaigne, E.Aymonier, L.Pelliot là những nhà nghiên cứu Pháp thế kỷ XIX và XX, cho rằng lãnh thổ Chiêm Thành gồm duyên hải và cao nguyên Trung Phần, từ Quảng Bình vào tới Bình Thuân. Giả thuyết trên đã bị các nhà nhân chủng học đánh đổ vào hậu bán thế kỷ XX. Thuyết thứ 2 của một nhóm giáo sư Pháp, thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học Ba Lê, thực hiện vào năm 1975. Nhóm này căn cứ vào các văn bía viết bằng chữ Phạn cũng như những di tích của người Chàm còn lưu lại trên các vùng đất mà họ có mặt. 

Tóm lại thuyết này chẳng những đồng ý lãnh thổ Chiêm Thành bao trùm cả duyên hải lẫn cao nguyên Trung phần, mà còn chứng minh người Chiêm Thành không phải chỉ có người Chàm, mà còn bao gồm nhiều sắc tộc khác tại cao nguyên. Để biện minh lập luận trên, nhà nghiên cứu đưa vua Po Ramo người Churu, đã làm vua Chiêm Thành từ 1627-1651 và còn đi xa hơn khi nói dòng họ này tiếp tục làm vua qua 14 đời, tới năm 1786 mới chấm dứt, trong khi nước Chiêm Thành thật sự đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới năm 1693. 

Tất cả những giả thuyết trên ngày nay cũng chẳng có gì mới lạ, khi chúng ta được đọc những sử liệu của Trung Hoa, Chân Lạp và Đại Việt, viết về lịch sử Chiêm Thành, trong khi những nhà nghiên cứu không nói rõ về xuất xứ của những di tích Chàm còn để lại ở Phù Nam, Chân Lạp hay Lào qua các cuộc chiến dành qua kéo lại và trên hết là một phần cao nguyên bị đô hộ bởi người Chàm trên 300 năm. Đại uý người Pháp là Doudart de Lagrée, trong phái đoàn thám hiểm sông Cửu Long, từ đất Miên vào năm 1866, đã nói thật chí lý "không ai có thể biết được biên giới nước Chiêm Thành như thế nào, nhưng chúng ta có thể định vị bằng niên lịch, vì chúng thay đổi theo từng giai đoạn.

Tuy người Chàm không lưu lại các tác phẩm lịch sử, nhưng ngày nay nhờ có viện bảo tàng cổ vật Chiêm Thành, được xây dựng từ năm 1915 ở thành phố Đà Nẵng, với nhiều tác phẩm nghệ thuật và điêu khắc của người Chiêm, có thể gần như liên tục từ thế kỷ thứ VII tới thế kỷ thứ XV, cho chúng ta những ấn tượng về một dòng lịch sử của một dân tộc hùng cường trong quá khứ. Bảo tàng này được thành lập dưới sự bảo trợ của Trường Viễn Đông bác cổ, qua thu thập được nhiều tác phẩm của người Chàm còn lại, từ Quảng Bình vào tới Bình Định, cho tới cuối thế kỷ thứ XIX. Viện nằm trên bờ sông Hàn, được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair, theo những mô hình đền tháp của người Chàm. 

Từ năm 1935, bảo tàng phát triển mạnh, nhờ những khai quật của nhà khảo cổ J.Y.Clacys tại Trà Kiệu, Quảng Nam năm1927-1928 và tại Tháp Mẫm, Chà Bàn, Bình Định năm 1932.

Đến thăm viện bảo tàng, để tìm lại những dấu ấn của lịch sử một dân tộc, qua quá trình tám thế kỷ của nền điêu khắc. Trong sự tĩnh mịch u trầm của cổ vật nhưng là tất cả lộ trình từ buổi vàng son dựng nước, cho tới hồi chiến bại điêu tàn. Tất cả những tài năng của người nghệ sĩ, cho ta cảm nhận khát vọng đạp đổ sự hiện hữu tầm thường về vận mệnh của một dân tộc, để tiến tới cái vô ngã vô hình trong cõi trời đất u minh, không không có có. Ở đây, đá đã sống hết đời của đá qua những trăm năm xa tít mịt mờ, như sự bộc lộ lạnh lùng, ray rứt của pho tượng Siva tạc theo phong cách Yang Mum, tìm thấy tại Kontum. Đây là tác phẩm nghệ thuật cuối cùng của nền điêu khắc Chàm, đánh dấu niên lịch thế kỷ XVII-XVIII, là giai đoạn tan rã của giai cấp quí tộc Chàm, kéo theo sự mất nước.

2-CHIÊM THÀNH TỰ LÀM VONG QUỐC:

Dù viết gì chăng nữa, thì nước Chiêm Thành suốt dòng lịch sử, đã chắc chắn có một lãnh thổ gồm các châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Châu Ô và Châu Lý (nay thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên). Vùng Amaravati với kinh đô Indrapura (Đồng Dương) cùng các thánh tích nổi tiếng tại Mỹ Sơn và Trà Kiệu (Simhapura). Miền này nay thuộc Quảng Nam và Quảng Ngãi. Vùng Vijaya với kinh đô Chà Bàn, nay là tỉnh Bình Định. Vùng Kauthara có thánh tích Po Nagar (Tháp Bà), nay là Khánh Hòa. Châu cuối là Panduranga, bao gồm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận

Người Chiêm Thành lập quốc hơn 17 thế kỷ, có một nền văn minh khá cao, nghệ thuật điêu khắc coi như gần tiến tới trình độ toàn hảo. Trong nước có nhiều thức giả thông thạo Phạn ngữ, lại có chữ viết riêng biệt. Vậy tại sao nước này không có một nền giáo dục phổ thông, không có tác phẩm sử học, không bao giờ mở các kỳ thi tuyển nhân tài và không cho sản xuất giấy. Bởi vì tất cả quyền lực trong nước đều là độc quyền của một nhóm thiểu số, thuộc giai cấp quý tộc và tăng lữ Bà La Môn cùng Hồi giáo nắm giữ. Ở đây không nói tới nhóm sắc tộc bị trị tại cao nguyên Trung phần từ năm 1150-1471, mà chỉ đề cập tới người Chàm, là sắc dân chính thống của vương quốc sống dọc vùng duyên hải. Do tính chất đa sắc tộc và trở ngại địa lý, nên nước Chiêm Thành gần như không bao giờ thực hiện được trọn vẹn chính sách trung ương tập quyền, dù trên lý thuyết đã hợp nhất thành một nước nhưng thực tế những sắc tộc lại chia thành thị tộc, các làng đầy dị biệt và thường đem quân bản địa tàn sát lẫn nhau, không ai cản được. 

Tìm hiểu lịch sử Chiêm Thành thật nhiêu khê vì tất cả một chuỗi dài lịch sử phải nối khoen bằng những tài liệu vụn vặt góp nhặt từ những ghi khắc trên bia ký còn trong đền tháp, qua những huyền thoại truyền khẩu dân gian và mớ sử liệu hỗn tạp loạn ngầu trong các sách sử của những quốc gia liên hệ như Đại Việt, Trung Hoa, Chân Lạp, Mã Lai. Người Pháp sau này cũng từ những nguồn gốc trên mà đặt ra giả thuyết để ước đoán một sự kiện bị chìm đắm theo những kẻ nắm quyền đã ngủ yên trong mồ.

Đây là một dân tộc rất giỏi nghề đi biển và cũng từng là những hải tặc khét tiếng suốt vũng biển Thái Bình Dương cho tới vịnh Thái Lan. Trong nước ruộng đất bề bề, đã có kỹ thuật canh tác và biết lập hệ thống dẫn điền, có nền tiểu công nghệ tiến bộ và hữu ích trong đời sống hằng ngày như làm gốm, dệt chiếu vải, đan, điêu khắc và xây cất nhà cửa, dinh thự, đền đài. Vậy vì sao nước Chiêm Thành phải suy thoái và diệt vong? Một câu hỏi cần phải làm sáng tỏ, để tránh những ngộ nhận cho các thế hệ hôm nay và mai sau trong một quốc gia hớp chủng VN.

Như ta biết, cộng đồng dân tộc (communauté), theo định nghĩa pháp lý, thì đó là một xã hội có nhiều người cùng nhau chia xẻ một thân phận trong mọi hoàn cảnh, dù là ý thức hay vô ý thức. Đất nước nào trên thế giới xưa nay, cũng bao gồm nhiều cộng đồng xã hội khác nhau, nhưng lại cùng sống trong một lãnh thổ, tạo thành cấu trúc bất khả phân của một quốc gia và theo pháp lý, tất cả các cộng đồng này đều bình đẳng về quyền lợi cũng như trách nhiệm, bổn phận. 

Trên bình diện quốc gia lại duy nhất chỉ có một dân tộc mà thôi. Cho nên không thể gọi người Chàm, người Hoa, người Khmer hoặc các bộ tộc vùng cao là dân tộc thiểu số như chúng ta đã lạm dùng sai sót trong quá khứ và VC đang sử dụng để mị dân. Theo đúng nghĩa của phương tây, danh từ Dân Tộc (nascere), đã được Isodore de Séville, sống trong thế kỷ thứ VII (STL), định nghĩa là một cộng đồng sắc tộc, gồm những nhóm người có chung nguồn gốc, hay nhiều nhóm khác nhau qua thời gian pha trộn, đã cùng sinh hoạt chung trên một mảnh đất nhất định. Sau này danh từ Dân Tộc được đồng nghĩa với Tổ Quốc (Patria), để gọi tất cả mọi người đang sống chung trên một lãnh thổ. Tóm lại Dân Tộc VN ngày nay có ba họ chủng tộc khác nhau cấu thành, đó là người Kinh, người Hoa và tập hợp những sắc tộc miền cao, kể cả người Chàm và Khmer ở Nam Phần.

Hội nhập và đồng hóa là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Ngoại trừ người Thượng Bắc phần hay Cao nguyên Trung phần, từng được chính quyền VN bao đời coi như dân bản địa. Các sắc dân Chàm, Khmer và Minh Hương đã hội nhập trong dân tộc VN nhưng không hề bị đồng hóa, như một vài người mang thù hận truyền kiếp, đã cố tình bóp méo vấn đề, bằng cách viết nói lẫn lộn để cho người khác phải hiểu sai, rồi kết luận người VN bao đời đều dùng chính sách đồng hóa để phát triển cộng đồng. Từ những dẫn chứng thực tại của quốc gia hợp chủng VN mà quyền hành bao đời vẫn theo trung ương tập quyền, dù triều đình, chính phủ, nhà vua có đóng ở Thăng Long, Thuận Hoá hay Gia Định, tất cả cũng đều do lệnh vua ban truyền, tuy nói chơi "lệ làng hơn phép vua".

Nhưng Chiêm Thành thì sao? Vẫn có tập quyền nhưng chỉ thu gọn trong một thiểu số làng mạc cùng chung thị tộc hay gần gũi với chính quyền mà thôi. Điều này cũng đâu lạ, vì Chiêm Thành ảnh hưởng sâu đậm An Độ giáo cũng như phỏng theo nền chính trị của nước này. Bởi vậy xã hội Chàm gồm bốn giai cấp: Brahman (tăng lữ Bà La Môn), Kshatriya (quý tộc), Vaishya (thường dân bao gồm thương gia, điền chủ, những người giàu có) và Shudra (tiện dân). Ngoài ra vì là một dân tộc hợp chủng nhưng thay vì chịu chấp nhận là một dân tộc duy nhất Chiêm Thành, để phục vụ cho tổ quốc, người Chiêm do tính chất cách biệt địa lý, nguồn gốc, ngôn ngữ, nên họ đã coi lệ làng hơn phép nước trong mỗi sắc tộc, thị tộc riêng lẽ. 

Chỉ riêng người Chàm cũng đã chia rẽ gay gắt, nhất là giữa hai thị tộc mạnh nhất Cây Cau (Kramukavamca) thống trị miền nam tại 2 châu cũ chiếm của Phù Nam là Kauthara và Panduranga. Còn thị tộc Cây Dừa (Narikelavamca) ở phiá bắc tại châu Indrapula. Do trên ta có thể khẳng định là các bộ tộc sinh sống trên cao nguyên, trong đó có người Churu, Roglai, Rhadé, Jara .tuy cùng sử dụng chung ngôn ngữ Malayo-Polynésien với người Chàm, nhưng luôn luôn tự trị, chống đối Chiêm Thành, kể cả ba thế kỷ bị đô hộ.

Nói chung nội bộ nước Chiêm Thành luôn luôn ẩn chứa những mầm phản loạn, và vì vậy khi vua chúa nào bị thua trận hay thất sủng, là bị quyền thẩn giết ngay để dành ngai vua và đất nước, kể cả vị vua anh hùng nhất của nước này là Chế Bồng Nga, cũng không được ngoại lệ. Tình trạng mạnh được yếu thua này rất phổ quát trong thời phong kiến và quân chủ, ngay tại Trung Hoa và Đại Việt cũng từng có nhưng chỉ là họa hoằn, chứ không gần như là cơm bữa tại quốc gia này. Trong thượng tầng kiến trúc chính quyền, trung tâm đầu não của quốc gia, thời nào cũng chỉ dành riêng cho thiểu số tăng lữ và quý tộc nhưng họ luôn chỉ nghĩ tới quyền lợi của dòng họ và tộc đẳng mình mà thôi. Chiếm tỷ lệ dân số đông đảo trong nước, vẫn là hai thành phần thường dân và tiện dân, nhưng họ chỉ là những công cụ của thiểu số cầm quyền, phải đi lính, sản xuất, xây cung điện, đền đài khắp nơi để thờ phụng đủ thứ thần linh trong nguồn tín ngưỡng mà vua chúa chấp nhận.

Rồi thay vì, dùng nguồn lợi của quốc gia để lo cho đời sống dân chúng, cải tiến phong tục xã hội, đem nền văn minh văn hiến của dân tộc thu nhập, phổ biến, giáo dục cho mọi người, mọi thế hệ, để họ cùng mở mang kiên thức, thăng tiến trong dòng văn minh lịch sử nhân loại để ai cũng có quyền lợi hưởng và nhận chịu trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, cần tới. Nhưng Chiêm Thành thì hoàn toàn đi ngược lại, tiền bạc chỉ dùng để xây kinh đô, thánh địa, mua sắm quân cụ vũ khí để đánh nhau. Bắt dân đi lính không phải để bảo vệ tổ quốc, mà là giúp vương triều mở rộng lãnh thổ, thu chiến lợi phẩm cùng tù binh, tạo thêm ưu thế cho tộc đẳng đương quyền.Bởi vậy, dân chúng trong nước chỉ thấy mình làm nô lệ cho vua quan mà thôi, chứ khồng hề nghĩ tới dân tộc, tổ quốc, nên khi có chuyện thì bỏ chạy và ít lo tới chế độ mình đang hiện hữu. Đây chính là nguyên nhân nội tại, khiến Chiêm Thành bị suy thoái vì chia rẽ sắc tộc, thế cấp và rắn mất đầu mỗi khi có biến loạn, mà lần cuối cùng vào thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tôn chiếm kinh đô Chà Bàn, chia ba Chiêm quốc, khiến cho giới tri thức, khoa bảng lãnh đạo bị tan rã vì chết, trốn ra ngoại quốc, trong nước thiếu nhân tài để tiếp tục lèo lái con thuyền quốc gia đang trong cơn bão tố, sóng dữ sắp chìm.

Cũng phải nói tới thể diện con người, ta biết người Chàm theo chế độ mẫu hệ, quyền hạn trong gia đình đều do phụ nữ chi phối và nắm giữ, người đàn ông luôn cảm thấy mình mất tự do. Ngoài xã hội, tuyệt đại dân chúng thuộc giai cấp tiện dân, bị áp bức bóc lột. Nên gặp lúc được tự do, ho đã dễ dàng hướng ngoại, làm cho đất nước càng lúc càng thiếu nhân lực. Trong nước lúc nào cũng có chiến tranh, đất ruộng vườn tược giao phó cho đàn bà và những người lớn tuổi, nên họ làm sao kham nổi, bởi vậy lãnh thổ hầu hết như bị bỏ hoang. Ngân sách, tài nguyên đều dùng để xây cất cung điện, thánh tích và quân sự. 

Những lần thắng trận thì lấy chiến lợi phẩm đã cướp, để bù đắp hoặc tổ chức những đám cướp biển. Nhu cầu này cũng cạn kiện dần mòn khi đế quốc Hồi giáo hùng mạnh, khống chế toàn bộ con đường tơ lụa trên An Độ Dương và biển Đông, đã bị các nước phương tây làm sụp đổ. Từ đó quyền lợi kiếm được từ nguồn hải khấu của Chiêm Thành cũng chấm dứt, vì thuyền nước này nhỏ bé, vũ khí lại thô sơ, làm sao chọi nổi với thương thuyền to chắc của Bồ, Y Pha Nho, Pháp, Anh Cát Lợi, Hòa Lan...có trang bị hỏa lực hùng hậu. 

Về những trách móc, thù hận hay dư luận cho rằng Đại Việt tiêu diệt Chiêm Thành để cướp nước, qua hiện tượng biểu kiến của cuộc Nam Tiến. Sự kiện này ngày nay đã được giải tỏa ẩn ức, không phải do người Việt Nam tự biện bạch để chạy tội, mà chính là những trang lịch sử còn lưu lại của các nước Đông Nam Á, có liên hệ tới Chiêm Thành. Nói theo kinh Phật, thì tất cả đều là nhân quả, thiện ác nhãn tiền, người Chàm lúc nào cũng nuôi hận thù trong tâm, nên thường đem quân khi thì đường bộ, lúc dùng thuyền bè, tấn công hết nước này tới xứ khác, và ngược lại họ cũng phải bị nạn nhân trả thù, chống chọi để giữ mạng, giữ nước. Với Phù Nam thì cướp hai châu và tấn công luôn Chân Lạp, tàn phá Đế Thiên, Đế Thích (Angkor Wat, Angkor Thom) vào năm 1177 bởi vua Chàm là Jaya Indravarman IV. Sau đó Chân Lạp phản công, đô hộ Chiêm Thành, cũng tàn phá hết các công trình xây dựng từ kinh đô cho tới thánh tích. 

Tháp Bà Po Nagar tại Kauthara, bị Chân Lạp phá huỷ nhiều lần, cho tới khi châu này thành tỉnh Khánh Hòa của Đại Việt vào thế kỷ thứ XVII, mới được người di dân VN, bảo quản và giữ gìn cẩn trọng cho tới hôm nay. Ngoài ra, Chiêm Thành cũng bị người Tàu tàn phá hai lần vào năm 605 và 1282, người Nam Dương cướp phá vào các năm 774, 787 nhưng tàn bạo nhất vẫn là những sự trả thù dã man của Chân Lạp trên đất Chiêm Thành vào những năm 950, 1190 và thời gian chiếm đóng từ 1203-1220. Nói chung theo sử liệu, Đại Việt là nạn nhân nhiều lần vì bản chất hiếu chiến của người Chàm nhưng trên hết, vì Chiêm Thành là đồng minh của Trung Hoa, suốt dòng lịch sử, luôn tấn công công tập hậu VN. Vì vậy Đại Việt không còn lựa chọn nào hơn, là phải chống lại để tự vệ và giữ nước

Gây hấn rồi nhường đất chuộc mạng, bắt đầu từ thời vua Chế Củ dâng nhà Lý ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, được các sử gia coi đó là một sự kiện lịch sử quan trọng của Chiêm Thành, mở đường cho vua chúa Đại Việt sau này, coi đó như một yếu tố tất thắng đối với kẻ chiến bại. Trong 30 năm cầm quyền, Chế Bồng Nga năm nào cũng đánh phá chém giết người Việt tận tuyệt, luôn cả kinh thành Thăng Long cũng bị tàn phá trong ba lần lữa máu. Bởi vậy khi Chàm suy yếu, Đại Việt lại trả thù phục hận và cũng đã khiến cho các triều đại VN tỉnh ngộ, quyết ngăn chận Chiêm Thành, để không còn xảy ra tai họa khủng khiếp trong dĩ vãng. Đó là chính sách nam tiến sau này, được thi hành ôn hòa qua kế hoạch dinh điền, mở mang khai phá đất đai bị bỏ hoang ở biên trấn, sống hòa lẫn cùng dân bản địa, vừa canh chừng giặc, vừa sản xuất lương mễ theo đường lối "ngụ binh ư nông " mà Đại Việt đã khôn ngoan áp dụng từ khi thu hồi được độc lập. 

Nước Chiêm Thành suốt 17 thế kỷ trường tồn, nhờ nền ngoại thương, ít chú trọng tới nông nghiệp. Mặt khác chính quyền Chàm lại không có kế hoạch phòng thủ khi bế tắc, nên lúc việc buôn bán với nước ngoài không còn thuận lợi, muốn quay lại nông nghiệp thì đã muộn màng. 

Ngoài ra cái thời người Chàm cứ bỏ đất hoang, để dân Việt tới khai phá gây dựng, rồi họ trở lại tấn công đoạt lại hay để kiếm lương thực và chiến lợi phẩm, cũng đã cáo chung, vì từ thế kỷ thứ XVI, khi Nguyễn Hoàng vào tọa trấn Thuận Quảng, ngoài việc xây dựng một quân đội hùng mạnh, còn thành lập những xã thôn trù phú nơi biên thùy, vừa là tiền đồn cũng là tiền dinh ngăn chặn các cuộc tấn công. Rốt cục chiến tranh có xảy ra, cũng chỉ gây tang tóc cho cả hai bên mà thôi và càng tạo thêm cớ để Đại Việt nam tiến mà thôi.

Qua dòng lịch sử nước nhà, hoặc chính do người Việt ghi chép lại, hay từ các sử gia ngoại quốc, hoàn toàn không thấy nói tới sự tàn ác dã man của quân Việt đối với tù binh hay dân chiến nạn như người Chàm. Sự việc đã xảy ra suốt dòng lịch sử, khi người Việt trên con đường nam tiến, tới đâu cũng tận tình bảo quản những di tích lịch sử của người Chiêm để lại, đồng thời hòa đồng với họ khi đã sống lẫn lộn, tôn trọng tôn giáo riêng tư của kẻ khác, cho nên nói người Chiêm sau khi mất nước phải hòa đồng vào dân tộc VN là đúng, nhưng bảo người Việt đã diệt chủng và đồng hóa Chiêm Thành như đã xảy ra dưới thời vua Minh Mạng, là một bịa đặt không ai tin được.

Câu hỏi cuối cùng được đặt ra, là tại sao hơn ba thế kỷ tiến hóa, tính từ niên lịch 1693 tới ngày nay, nhân số trong cộng đồng sắc tộc Chàm, vẫn không thấy gia tăng quá con số 100.000 người, nếu so với người Minh Hương, Khmer hay cả với các sắc dân thiểu số cao nguyên? Khó có thể giải thích vì người Chàm dù bị vong quốc, họ vẫn tiếp tục sống với lối khép kín bao đời, theo bản làng thị tộc. Ngoài ra các giới lãnh đạo cộng đồng Chàm, vẫn còn đầu óc phân chia giai cấp, nại lý do bảo tồn văn hóa truyền thống thị tộc, nghiêm cấm đồng bào mình hướng ngoại và kết hôn với các thị tộc Chàm khác, dù đều là người Chiêm Thành. 

Nay có dịp nghe lại ca sĩ Chế Linh hát "Hận Đồ Bàn" của Xuân Tiên, mới biết rõ vì sao, rừng hoang vu vùi lấp bao uất hận căm thù, núi trầm cô tịch, đèo cao thác sâu, ngàn muôn tiếng ngân, âm thầm hoà bài hận vong quốc ca. Từ đó mới thấy đến bây giờ, mà sự thù hận giữa hai dân tộc Chiêm-Việt, vẫn còn ẩn ức nơi hồn một thiểu số, vì chính những người này, đã không biết tại sao mình phải suy tàn. Tóm lại Chiêm Thành mất nước là do họ tự đạo diễn. Cuộc nam tiến của Đại Việt chẳng qua cũng chỉ là một ngẫu cảm trùng hợp. Sự đụng chạm nếu có trong quá khứ, chẳng qua vì cá nhân trong lúc cùng sống lẫn lộn, hay trường hợp vua Minh Mạng đối xử gay gắt với cá nhân những người Chàm tại Bình Thuận, có liên hệ tới cuộc phản loạn của Lê văn Khôi năm 1851 tại thành Gia Định, đều là vấn đề ngoại lệ của lịch sử.

Ngày nay Chiêm Việt hòa đồng, đồng bào Chàm chỉ mất có triều đình nhưng giữ lại gần như đầy đủ các công trình sáng tạo tại các đền, chùa, thánh tích nổi tiếng của dân tộc mình ở điện Ngọc Trản (Huế), thánh tích Mỹ Sơn, Đồng Dương, Tháp Bà, Ninh Thuận và Bình Thuận. Sau rốt nền văn minh Chiêm Thành vẫn tồn tại qua mọi lãnh vực văn hóa, nghệ thuật, kể cả tín ngưỡng của người Việt Trung Phần, đó không phải là một hãnh diện hay sao? Thời VNCH (1955-1975), chính phủ có một bộ phát triển sắc tộc, dành riêng cho các sắc dân thiểu số trong đó có người Chàm. 

Ngay từ thời Pháp thuộc, vua Bảo Đại có ban hành bộ luật Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật, nhưng vẫn cố tránh làm đảo lộn nếp sống cổ truyền của đồng bào thiểu số, trong đó có người Chàm, nên đả ban hành thêm đạo luật số 51 ngày 25-5-1943 với đặc ân cho người thiểu số, trong đó có Chàm khỏi thi hành. Vì vậy cho nên với pháp luật thời đó, chỉ áp dụng luật Chàm để xử họ và tôn trọng chế độ mẫu hệ bao đời. 

Thời VNCH (1955-1975), tại các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có đông người Chàm cư ngụ. Trong sự tế nhị và nâng đỡ, chính phủ đã bổ nhiệm các quận trưởng và phó quận, phần lớn là người Chàm, để dễ dàng hành sử với đồng bào của họ, vì các Quận Trưởng Chàm đều kiêm nhiệm chánh án tòa sơ thẳm trong vùng. Ngày nay đọc lại danh sách các viên chức hành chánh cao cấp của tỉnh Bình Thuận, tính đến ngày 30-4-1975, ta mới thấy tình người giữa Việt-Chiêm, thật ấm áp và đầy ý nghĩa.

- Quận Trưởng Phan Lý Chàm: Thiếu Tá Đặng Chánh Anh. Phó QT là đốc sự Ya Pha (còn sống tại VN).

- Quận Trưởng Hàm Thuận: Trung Tá Dụng văn Đối. 

- Quận Thiện Giáo: Phó QT, đốc sự Nguyễn Trọng Chống (còn ở VN).

- Quận Hải Ninh: Phó QT, đốc sự Đắc Hữu Thiên (ở Mỹ).

- Quận Tuy Phong: Phó QT, đốc sự Lâm Quang Chân (đã chết trong tù cải tạo VC).

- Quận Hải Long: Phó QT, đốc sự Mai Tường (ở Mỹ).

- Đác văn Kiết, Tham sự hành chánh, Trưởng Ty Phát triển sắc tộc Bình Tuy.

- Nhiều Sĩ Quan giữ các chức vụ quan trọng tại TK.Bình Thuận, Ninh Thuận. Nổi tiêng nhát tại địa phương, có ai sánh nổi Thiếu Tá Thô Thêm, Tiểu Doàn Trưởng TD 230 DPQ/BT hay Đại Uý Đặng Phiên, DDT/DPQ đã cùng với một số sĩ quan DPQ. Bình Thuận, trong đó có Đại Uý Nguyễn Văn Ba, Cựu học sinh Trung Học PBC, xuất thân sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, đã mất tích, trong khi vượt traị tù VC ở Lương Son, quận Hòa Đa, Bình Thuận.

- Nhiều công chức, cán bộ và giáo chức..

Tất cả những viên chức trên đều là người Chàm.

Những cái nhìn tiêu cực đầy thiên vị và không phân biệt được trắng đen của một ít người khi viết những trang sử cận đại, xét cho cùng một phần do sự mâu thuẩn địa phương, mà thời nào cũng có trong xã hội người Việt. Ngoài ra, đây cũng là hậu quả tất yếu của 100 năm Pháp thuộc và trên hết là chính sách mị dân đầy chất cải lương của Việt Cộng, mà mặt thật là để khuếch đại, phô trương cái đỉnh cao vượn khỉ của đảng, hầu bôi bác, đạp đổ công lao mở nước của tiên nhân nước Việt bao đời.

Giờ thì Kinh Thượng đều là một nhà VN, đang nai lưng gánh chịu tất cả oan khiên trời đau biển hận, trong thiên đàng xã nghĩa suốt mấy chục năm qua. Đó mới chính là niềm đau nhân thế của kiếp người, khi nghĩ tới tương lai của con cháu của bất cứ ai, đang sống trong căn nhà VN không biết sẽ về đâu. Nên phải đoàn kết mới mong quang phục lại đất nước đang đắm chìm trong nô lệ chủ nghĩa , có như vậy mới mong tìm lại những ngày xưa thân ái tại Bình Thuận, mới chỉ nhớ tới, cũng đã ngậm ngùi /-

Xóm Cồn
Tháng hai 2006
MƯỜNG GIANG

Thứ Ba, ngày 30 tháng 12 năm 2014

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link : http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/

NTT: Mấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên blogcủa mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó…
Tò mò, tôi vào blog Đông La và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không:
“Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”.
(Trích lời Đông La sau khi không được kết nạp vào Hội Nhà Văn VN, tháng 12.2014)
1. Nói về mình:
- Khi đọc chùm thơ đầu tay của tôi, Chế Lan Viên đã đề nghị trao giải thơ cho tôi trong cuộc thi năm 1986 của Hội Nhà Văn TPHCM, rồi ông còn trực tiếp đứng tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà Văn TPHCM.
- Bà Thân Thị Thư, Trưởng Ban Tuyên Giáo Thành ủy TPHCM một lần gặp tôi cũng nói: “Em cảm ơn anh vì các bài viết của anh trên Báo VN TPHCM mà em được cấp trên khen đấy!”
- (Nguyễn Quang) Thiều chưa viết một chữ nào khen tôi nhưng khen miệng thì chính Thiều khen tôi ghê gớm nhất. Như khi đăng cho tôi bài “Những cái xác” có 4 câu, Thiều bảo ông hay hơn Chế Lan Viên rồi, còn bình tán trên điện thoại cả nửa tiếng.
- “Tôi bất ngờ nhận được điện thoại của anh (Hữu Thỉnh – PV), anh bảo hỏi mãi mới biết được số của tôi, anh bảo anh đọc từng chữ của tôi viết, “sao mày tài thế, giỏi thế, những bài viết của em có sức mạnh như những sư đoàn”. Từ đó, thấy lãnh đạo người ta cũng quý trọng mình thế…”
- Theo quy định việc xin vào Hội Nhà văn VN phải có hai người giới thiệu, người thứ nhất, GS Mai Quốc Liên đã viết lời giới thiệu tôi là “một nhà phê bình hiếm có”. Còn người thứ hai là GS Trần Thanh Đạm. Khi tôi cảm ơn ông thì ông nói: “Tôi cũng phải cảm ơn anh vì tôi rất vinh dự được giới thiệu người như anh vào Hội”.
Như vậy, về tài đức, về thành quả văn chương, tôi hoàn toàn xứng đáng được vào Hội Nhà Văn VN.
- Nhà thơ Hải Như, tác giả lời ca khúc bất hủ Thành phố hoa phượng đỏ, đã đi hỏi số điện thoại của tôi gọi: “Đông La biết tôi là ai không? Tôi từng giới thiệu Vũ Tú Nam (từng giữ chức như Chủ tịch Hội Nhà văn bây giờ) vào Hội đấy. Nếu tôi có quyền sẽ cho chùm thơ của Đông La giải nhất. Thơ Đông La hiện đại nhưng đã đạt đến sự giản dị, không như thơ Nguyễn Quang Thiều hiện đại, nhưng rối rắm, bắt chước nước ngoài”.
- “Trong chuyện viết lách thấy người ta sai thì viết, mong góp phần giúp cho độc giả hiểu đúng vấn đề, nhất là những vấn đề rất phức tạp về chính trị, tư tưởng, triết học và khoa học. Chỉ vậy thôi không cầu mong gì hết. Vậy mà vừa rồi tôi lại đồng ý làm đơn xin vào Hội Nhà Văn VN , và hôm nay tôi được người trong cuộc báo tin là tôi đã bị loại”.
Tôi nói tôi “đồng ý” làm đơn vì ý định làm đơn không phải do tôi mà vừa rồi một nhà văn trong Ban Chấp hành HNVVN đã gặp tôi khuyên tôi nên vào Hội, rồi anh đã chuyển cho tôi một bộ hồ sơ để tôi chuẩn bị cho đúng thủ tục.
- (Nguyễn Quang) Thiều hiện là Phó Chủ tịch HNVVN, cũng đã khuyên tôi vào hội: “Cái gì chứ, giúp ông vào Hội tôi sẽ làm được. Ông nên vào Hội để còn giúp tôi một tay”. Tôi nói vui: “Cung Thân lá số tử vi của tôi có Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hóa Quyền. Khoa, Lộc ít nhiều gì tôi cũng đã có, còn quyền thì chưa. Biết đâu sau này ông nắm Hội Nhà Văn cho tôi cái quyền gì đó thì sao”. Thiều cười: “Có thể như thế”.
- Còn danh xưng “Nhà Văn” thì tôi cũng đã có, dù chỉ là Hội viên của Hội Nhà Văn TPHCM, nhưng tôi rất tự hào vì người giới thiệu tôi chính là Nhà thơ tài danh hàng đầu Việt Nam – Chế Lan Viên! Còn nói chung người bất tài mới cần cái danh “hội viên hội nhà văn VN” để chứng tỏ, còn tôi những nhà văn hàng đầu VN cũng nể phục rồi thì còn cần gì cái danh “hội viên hội nhà văn VN”?
2.     Nói về người khác:
- Chính Hội Nhà Văn VN có tình trạng như vậy, bởi hiện có rất nhiều Hội viên Hội Nhà văn VN có thái độ và bài viết sai trái, có người đã bị bắt, nhưng hầu như trong Hội Nhà văn không ai lên tiếng phê phán, ngược lại, lại có nhiều người đồng tình với sự sai trái ấy. Như ông Trung Trung Đỉnh, một đương kim Ủy viên BCH Hội Nhà văn VN, luôn ca ngợi Nguyên Ngọc, người đang trên tuyến đầu chống đối, còn định thành lập “Văn đàn độc lập”. Văn Công Hùng, một Ủy viên BCH khác của Hội Nhà Văn VN cũng ca ngợi Nguyễn Quang Lập, một nhà văn mới bị bắt và đã nhận tội, là: “Ở nước Nam này, nếu hỏi ai viết nhiều, làm việc nhiều, lao động nghiêm túc, tôi không ngần ngại trả lời: Nguyễn Quang Lập”.
Vì vậy, những cá nhân trong BCH Hội Nhà văn như ông Trung Trung Đỉnh, Văn Công Hùng lấy cớ tôi cực đoan để loại tôi là một hành động sai trái, bất minh, hoàn toàn chỉ vì nhận thức cảm tính chủ quan và cảm tình cá nhân.
- Nguyên Ngọc cũng cần phải có đại tài đức và đại ý chí. Nhưng thực tế xem chừng Nguyên Ngọc chỉ có số 0 tròn như cái trán dồ bướng bỉnh của ông, y như một chú bé học sinh cá biệt bất trị vậy.
- Tôi được “mật báo”, trong cuộc bỏ phiếu xét đơn xin vào Hội của tôi của BCH Hội nhà Văn VN, trong số người loại tôi có Nguyễn Quang Thiều. Không chỉ thế, Thiều còn là người vận động để tôi bị loại. Tôi vừa buồn vừa buồn cười. Buồn vì nhân tình thế thái. Buồn cười vì với cái đầu của tôi, nói theo kiểu các cụ “con ruồi bay qua cũng biết con đực con cái”, sao tôi lại từng ưu ái Thiều đến thế… Tôi có một mối quan hệ đặc biệt với Nguyễn Quang Thiều, rồi tôi sẽ viết thành nhiều “tập”. Thực ra thì cũng là có đi có lại. Thiều có quý tôi, có đăng thơ cho tôi thì tôi mới đáp trả lại.
-Ngô Bảo Châu viết về Nguyễn Quang Lập: “nhà văn này đã sớm tỏ rõ ông  chính là một trí thức thứ thiệt, có cái nhìn sắt bén về thế thái nhân tình, về hiện tình xã hội – chính trị Việt Nam. Ông không ngần ngại đăng tải những bài khá nhạy cảm, những lập trường phản biện khá dứt khoát có thể làm cho cơ quan chức năng khó chịu.Thái độ của ông chính là thái độ của một nhà văn chân chính, một kẻ sỹ có tinh thần trách nhiệm với xã hội mình đang sống”.
Một lần nữa Châu lại chứng tỏ mình chỉ biết cộng trừ nhân chia nên đã hoàn toàn sai trái khi thể hiện chính kiến và thái độ về những vấn đề và vụ việc thuộc lĩnh vực chính trị xã hội.
Hội Nhà Văn Hà Nội từng bỏ phiếu bầu Phạm Xuân Nguyên làm chủ tịch lại là việc bầu ra người không xứng đáng. Hội Nhà Văn Hà Nội là một tổ chức thuộc nhà nước nhưng Phạm Xuân Nguyên là người luôn phản đối nhà nước thực thi pháp luật, như từng lên tiếng ủng hộ những người phạm pháp và sai trái, từ Lê Công Định, Phương Uyên đến Nhã Thuyên và hôm nay là Nguyễn Quang Lập…
- Ngay ở Hội Nhà Văn VN cũng đã có những dấu hiệu lớp kế cận Nhà thơ Hữu Thỉnh đang ráo riết xây dựng lực lượng để giành quyền theo hình mẫu bầu bán của Hội Nhà Văn Hà Nội. Việc bỏ phiếu loại tôi như là một sự tập dượt của họ. Nếu họ thành công, lúc đó văn chương sẽ không “dĩ tải đạo” như lời dạy của cha ông nữa mà là tải tà đạo, Hội Nhà Văn sẽ là tập đoàn cứ điểm làm nguy cơ tồn vong của chế độ, theo lời TBT Nguyễn Phú Trọng, thêm nguy cơ hơn. Mà khi quyền lực tối cao rơi vào tay kẻ tham, kẻ dốt, kẻ ác, kẻ xấu thì đích đến của nước ta sẽ là Irắc, Lybi, Pakistan, Apganixtan chứ không phải là Bắc Âu, là Anh Pháp Mỹ, là Đức Ý Nhật đâu! Nên trong tình trạng bất ổn này, Hội Nhà Văn VN cũng cần ổn định như xã hội cần ổn định vậy, vẫn cần đến thế hệ Nhà thơ Hữu Thỉnh nắm trọng trách, có những sai trái yếu kém thì phải sửa, nếu không Hội Nhà Văn sẽ là mảnh đất gieo mầm và nuôi dưỡng sự phản loạn.
- …Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm…
Nguồn: http://donglasg.blogspot.com/

Trần Quang Đức - Vài lời về Khổng Tử và Học viện Khổng Tử

Hôm 27/12, Học viện Khổng Tử đã chính thức được thành lập tại trường Đại học Hà Nội để “thúc đẩy việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Trung Quốc, góp phần củng cố và phát triển quan hệ Việt – Trung”, theo lời vị Hiệu trưởng.
Cá nhân tôi, tôi không ủng hộ việc này. Bởi như nhiều người đã tìm hiểu, Học viện Khổng Tử không đơn thuần nhằm “quảng bá tiếng Trung Quốc”. Ở Âu Mỹ, các học viện này đã có những hoạt động như đả phá Pháp Luân Công, kỳ thị tín ngưỡng (Đại học McMaster, Canada), cổ động sinh viên ủng hộ Trung Quốc trấn áp Tây Tạng (Đại học Waterloo, Canada), không cho sinh viên bàn luận về vấn đề Tây Tạng, hạn chế ngôn luận (Đại học Chicago, Mỹ)… Đó cũng chính là nguyên nhân chính khiến một loạt các nước Âu Mỹ tẩy chay học viện này.
Hiện nay, xét riêng số Học viện Khổng Tử đặt tại các trường đại học trong khu vực, Hàn Quốc có 17 viện, Nhật Bản có 13, Thái Lan có 12, Indonesia có 7, Philippines có 3, Singapore có 2. Đây là lần đầu tiên, Học viện Khổng Tử đặt tại Việt Nam. Mặc cho những phản ứng muôn hình muôn vẻ của người Việt trong ngoài nước, đây là câu chuyện đã rồi, và là câu chuyện trên bàn tròn của những người anh em cộng sản hai nước. Việc thiết thực có thể làm hiện nay là theo dõi sát sao động tĩnh của học viện này, và phản ứng kịp thời khi nó có những hoạt động can thiệp nằm ngoài bổn phận.
Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý mấy điểm dưới đây, hầu mong những người phản đối Học viện Khổng Tử hiểu rõ hơn mình đang phản đối thứ gì, tư tưởng gì.
Khổng Tử của đời thật và sau khi bị các chính thể lợi dụng
Bản thân Khổng Tử là người chính trực, nghiêm túc, kiên trì đến độ đáng thương, “biết đạo không thể thi hành mà vẫn làm”. Ông ta không được trọng dụng ngay khi còn sống. Trong bối cảnh văn hóa suy đồi, chính trị băng hoại thời Xuân Thu, tinh thần chấn hưng lễ nghĩa, quảng bá học thuật của Khổng đã khiến ông nửa đời lang bạt các nước như ‘con chó mất nhà’ theo cách ví của Tư Mã Thiên.
Vào thời Hán, lần đầu tiên, đạo Khổng được trọng dụng. Nhưng tư tưởng nguyên sơ của Khổng đã bị uốn bẻ theo những cách thức khác nhau, trải qua các triều đại khác nhau. Hán Nho khác Đường Nho, Tống Nho, Minh Nho... Tương tự, tư tưởng Nho giáo trải qua các triều Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn tại Việt Nam cũng không đồng nhất. Có thể đơn cử khái niệm Tam tòng tứ đức, thứ chuẩn mực đạo đức đối với phụ nữ này là do các nhà Nho Trung Quốc thời Tống Minh cổ xúy. Bản thân Khổng Tử chưa một lần nói đến việc đàn bà phụ nữ phải giữ trinh tiết. Vậy nên có thể nói, có một Khổng Tử của đời thật, nhưng có nhiều Khổng Tử của các chính thể lợi dụng. Tư tưởng của Khổng có nhiều điều hay, cũng có nhiều hạn chế.
Nhưng trước khi hiểu rõ con người, tư tưởng Khổng thì đừng vì phản đối Học viện Khổng Tử mà vội quy chụp tư tưởng đó là thứ “bốc mùi”, gọi Khổng Tử là “thằng”!
Chính quyền Trung Quốc tiến hành cách mạng văn hóa vào những năm 1966. Trong thời kỳ này, tư tưởng Khổng bị lên án gay gắt. Tượng Khổng trong Khổng Miếu Sơn Đông bị dán lên dòng chữ ‘Thằng khốn nạn hàng đầu’, rồi bị kéo đổ, đập nát. Hồng vệ binh định đào mả Khổng, nhưng nhanh chóng bị can ngăn.
Và giờ đây, khi nền chính trị, tư tưởng của Trung Cộng không đủ sức hút đối với thế giới, càng không phải giá trị phổ quát. Họ bám víu và giương chiêu bài quảng bá văn hóa; họ dùng Khổng Tử làm công cụ chính trị. Bởi vậy đừng nghĩ đơn giản rằng, Học viện Khổng Tử là nơi truyền bá đạo Khổng. Trung Cộng không có tư cách đó.
Văn hóa Trung Hoa và chính quyền Trung Quốc
Không thể phủ nhận sức ảnh hưởng lan tỏa của văn hóa Trung Hoa trong quá khứ đối với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tạm không bàn đến vấn đề bản quyền của các thành tố văn hóa tương đồng giữa Trung – Hàn – Việt. Bằng vào những tư liệu hiện có, có thể thấy các chính thể quân chủ Việt Nam đã từng chủ động sử dụng Hán văn làm ngôn ngữ hành chính, thi cử, sáng tác văn học, từng châm chước chế độ lễ nghi, áo mũ, phong tục của các triều đại Trung Hoa; từng tự phụ là ‘cõi văn hiến không kém Trung Quốc’; và khi Trung Quốc bị cai trị bởi những tộc người Mãn, Mông, lại tự nhận là quốc gia gìn giữ văn minh Hoa Hạ chính thống. Bất kỳ thứ văn hóa ngoại lai nào khi được du nhập vào dị vực đều bị bản địa hóa, bởi vậy khi văn hóa Hán đã hòa vào văn hóa Việt, trở thành một phần của văn hóa Việt thì đừng vì ghét Trung Cộng mà quay lại cầm dao tự xẻo thịt mình!
Sau Cách mạng văn hóa, văn hóa Trung Quốc đã xuống dốc. Trí thức Trung Quốc đương đại lưu truyền câu nói “sau Tống không còn Trung Quốc, sau Minh không còn Hoa Hạ, sau Mãn không còn Hán tộc, sau Cách mạng văn hóa không còn đạo đức”. Và trong mắt tôi, văn hóa Trung Quốc đương đại là một sản phẩm què quặt. Bởi vậy, hãy nhìn nhận cho rõ thứ văn hóa Trung Cộng quảng bá là văn hóa gì, tư tưởng gì, đừng tóm tất cả mọi thứ vào một khái niệm đơn nhất là ‘văn hóa Tàu’!
Tiếng phổ thông Trung Quốc và ngữ văn Hán Nôm
Hiển nhiên, nội dung quảng bá của Học viện Khổng Tử là tiếng phổ thông Trung Quốc, tức thứ ngôn ngữ sống, lấy ngữ âm phương Bắc làm chuẩn, sử dụng bộ văn tự đã được giản lược sau năm 1949. Còn ngữ văn Hán Nôm là một thứ ngôn ngữ chết (tử ngữ), được người Việt Nam sử dụng để ghi chép, thi cử v.v. trước thế kỷ 20.
Chữ Hán được sử dụng tại Việt Nam ngót 2000 năm. Trong quá trình du nhập, truyền bá, cho đến ngày hôm nay, người Việt có một hệ thống cách đọc chữ Hán riêng biệt (thiên địa, nhật nguyệt v.v. thay vì /tian di/, /ri yue/). Nhiều chữ Hán được người Việt viết theo lối riêng, có những kết cấu, hình thể riêng, tương tự như trường hợp chữ Hán của Nhật Bản. Vào khoảng thời Lý Trần, người Việt mượn cách đọc của chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, tạo ra một hệ thống chữ mới gọi là chữ Nôm. Về ngữ pháp, người Việt cũng như người Trung, Hàn, Nhật trước đây sử dụng ngữ pháp Hán văn cổ đại (một thứ tử ngữ, gọi là văn ngôn), mà không dùng lối nói khẩu ngữ đương đại. Văn tự Hán Nôm được diên dụng tại miền Bắc đến năm 1956 trước khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cải cách giáo dục, và tại miền Nam đến năm 1975 trước khi Việt Nam Cộng hòa diệt quốc.
Học tiếng Trung hiện đại chắc chắn không thể đọc hiểu hoành phi, câu đối, sách vở do người Việt trước thời Nguyễn viết. Còn trong bối cảnh hiện đại, nếu học một lượng chữ Hán Nôm cơ bản, có thể hiểu sâu hơn về tiếng Việt. Bởi vậy, khi phản đối Học viện Khổng Tử thì đừng bài xích văn tự Hán Nôm, đừng coi nó là thứ chữ lạ, và đừng nâng cao quan điểm rằng, một ngàn năm Bắc thuộc mới sắp bắt đầu, Việt Nam sẽ quay trở lại dùng chữ Hán. Cần phải hiểu rõ, chữ Hán là chữ Hán nào. Chữ Hán của người Việt hay chữ Hán của Trung Cộng.
Việc thoát Trung là thoát ở sự lệ thuộc chính trị, kinh tế, ở những thứ văn hóa thô bỉ, quê mùa tập nhiễm từ Trung Quốc đương đại, chứ không phải tẩy chay bất kỳ nét văn hóa hay đẹp nào chỉ cần biết nó có nguồn gốc Tàu!

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, người viết cuốn sách khảo cứu Ngàn năm áo mũ (2013).
Chú thích ảnh Khổng Tử (từ trên xuống dưới, trái qua phải): 1. Hình tượng Khổng Tử của Trung Quốc thời Minh. 2. Hình tượng Khổng Tử của Việt Nam thời Lê. 3. Hình tượng Khổng Tử của Hàn Quốc thời Joseon. 4. Hình tượng Khổng Tử của Nhật Bản thời Edo. 5. Hình tượng Khổng Tử của Việt Nam Cộng hòa đặt tại Miếu Khổng Thánh (chụp năm 1969), nay là đền Hùng trong Thảo cầm viên, Sài Gòn. Pho tượng đã bị di dời. 6. Tượng Khổng Tử tại Khổng Miếu Sơn Đông bị dán lên dòng chữ Thằng khốn nạn hàng đầu, trong thời Cách mạng Văn hóa (1966 - 1976). 7. Tượng Khổng Tử đặt tại Thiên An môn năm 2011, bị di dời chỉ sau 100 ngày. 8. Biếm họa chân dung Khổng Tử sau khi chính quyền Trung Quốc dựng lên Học viện Khổng Tử.

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 12 năm 2014

Quan niệm sử dụng thảo dược mới trong điều trị viêm gan

Link : http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/212748/quan-niem-su-dung-thao-duoc-moi-trong-dieu-tri-viem-gan.html

2 tỷ người trên thế giới nhiễm virus viêm gan B và mỗi năm có 1 triệu người chết vì những bệnh lý liên quan đến viêm gan B. Tuy nhiên đến nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra cách chữa trị triệt để căn bệnh này. 
Viêm gan virus B - Bệnh dễ gặp nhưng khó chữa 
Nhiễm virus viêm gan B (Hepatitis B Virus - HBV) là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất của loài người. Hiện nay, trên thế giới có khoản 400 triệu người mang HBV mãn tính, 2 tỷ người đã nhiễm HBV và 1 triệu người chết mỗi năm do những bệnh lý liên quan đến HBV như xơ gan, ung thư gan.

Do cơ chế tồn tại dai dẳng của HBV ở tế bào gan nhiễm bệnh, nên ngay cả những liệu pháp điều trị hiện đại nhất cũng có tỷ lệ đáp ứng nhất định và tiềm ẩn nhiều nguy cơ kháng thuốc. 
Việc điều trị cần có sự giám sát chặt chẽ, đánh giá hiệu quả điều trị, giám sát tình trạng kháng thuốc và không ngừng nâng cao thể trạng cũng như chức năng gan của bệnh nhân. 
Cho đến nay y học hiện đại cũng chưa tìm ra cách chữa trị triệt để với Viêm gan virus. Toàn bộ liệu pháp điều trị nhằm đào thải Virus viêm gan B ra khỏi cơ thể, giảm thiểu tình trạng viêm và xơ gan, tăng cường chức năng gan và nâng cao thể trạng bệnh nhân. 
Cà gai leo - Cơ hội mới cho người bệnh viêm gan virus và xơ gan 
Trong các thảo dược hỗ trợ điều trị bệnh gan hiện nay, chỉ có duy nhất Cà gai leo là dược liệu được nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ nhất về tác dụng, hiệu quả và độ an toàn trên bệnh nhân viêm gan virus B và xơ gan với 2 đề tài cấp Nhà nước, 4 luận văn tiến sĩ và nhiều công trình nghiên cứu khác.
Theo các tài liệu nghiên cứu của Viện Dược liệu Trung ương và kết quả lâm sàng trên bệnh nhân viêm gan vi rút B thì có thể khẳng định Cà gai leo là một cây thuốc có tác dụng rất tốt cho gan. Nó có khả năng làm giảm nồng độ virus trong máu của bệnh nhân, thậm chí đã ghi nhận trường hợp âm tính virus. 
Cà gai leo cũng đã được chứng minh có thể ngăn chặn xơ gan tiến triển và hạ men gan nhanh.Riêng việc điều trị các triệu chứng cơ năng của bệnh viêm gan B mạn tính thể hoạt động như vàng da, vàng mắt, đau tức hạ sườn phải, kém ăn mệt mỏi…thì Cà gai leo thể hiện tính ưu việt tuyệt đối so với các dược liệu được biết đến từ trước đến nay. Hầu hết các bệnh nhân đều hết các triệu chứng trên sau hai đến ba tháng điều trị. 
Các nhà khoa học nói gì?
Theo Thầy thuốc nhân dân, GS. TS Nguyễn Văn Mùi, Nguyên PGĐ kiêm Chủ nhiệm bộ môn Truyền nhiễm, Bệnh viện Quân y 103: “Trên lâm sàng chúng tôi nhận thấy là cây Cà gai leo cho tác dụng tốt nhất trên bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn tính. Đây là cây sản phẩm được Viện Dược liệu Trung Ương nghiên cứu kỹ và bài bản nhất từ trước đến nay và là cây thuốc được kiểm chứng trên bệnh nhân viêm gan B cho kết quả tốt nhất.” 
TS. Nguyễn Ngọc Quang, Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm ( Khoa A4) Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 đánh giá: “Sau hơn một năm tiến hành nghiên cứu thử nghiệm và đánh giá TPCN Giải độc gan Tuệ Linh (sản phẩm kết hợp 2 dược liệu quý Cà gai leo và Mật nhân), tôi thấy thật sự bất ngờ với kết quả điều trị. Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân viêm gan B mạn tính đều trở về bình thường. Đăc biệt có 2/33 trường hợp sau 6 tháng điều trị trở nên âm tính với virus viêm gan B. Một số người bạn thân của tôi, do uống rượu bia nhiều , tiếp xúc với hóa chất chất độc hại dã tới tăng men gan, hơi có dấu hiệu xơ gan. Tôi cho dùng thử sản phẩm, sau 1 tháng điều trị cho kết quả rất tốt. Tôi nghĩ đây sẽ là một giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân viêm gan virus” 
PGS. TS Nguyễn Trọng Thông, Nguyên Trưởng Bộ môn Dược lý Trường Đại học Y Hà Nội chia sẻ: “Chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm độc tính và thử nghiệm tác dụng chống viêm, bảo vệ gan và phục hồi chức năng gan của viên Giản độc gan Tuệ linh trên thực nghiệm và kết quả sản phẩm an toàn, không có độc. Viên Giải độc gan Tuệ Linh còn có một tác dụng rất đặc biệt nữa đó là làm tăng miễn dịch mạnh, điều này rất có ý nghĩa vì có thể dùng cho cả bệnh viêm gan vi rút C, bệnh lao, người lành mang mầm bệnh virus …”
Ngọc Minh