Thứ Năm, ngày 03 tháng 9 năm 2015

Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai


Nguồn: Leon Aron, “Everything You Think You Know About the Collapse of the Soviet Union Is Wrong“, Foreign Policy, July/August 2011.

Biên dịch: Trần Ngọc Cư

Mọi cuộc cách mạng đều tạo ra kinh ngạc. Tuy vậy, cuộc Cách mạng Nga gần đây nhất phải được kể là một trong những kinh ngạc lớn nhất. Trong những năm trước 1991, gần như không một chuyên gia, học giả, viên chức chính quyền, hay chính trị gia phương Tây nào thấy trước được sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô, và kéo theo nó một chế độ độc tài độc đảng, một nền kinh tế do nhà nước làm chủ, và cả sự kiểm soát của Điện Cẩm Linh (Kremlin) đối với đế quốc Liên Xô và Đông Âu. Với một ngoại lệ duy nhất, tất cả những nhà bất đồng chính kiến Xô-viết cũng như chính những nhà cách mạng tương lai – nếu ta xét qua hồi ký của họ – cũng không tiên đoán được sự kiện này. Khi Mikhail Gorbachev trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản vào tháng Ba năm 1985, không một nhân vật cùng thời nào của ông dự kiến một cuộc khủng hoảng có thể dẫn đến cách mạng. Mặc dù người ta không đồng ý với nhau về tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề nội tại trong chế độ Xô-viết, nhưng không ai coi những vấn đề này là đang đe dọa sinh mệnh của chế độ, chí ít trong tương lai gần.
Vậy, do đâu mà có sự thiển cận đều khắp lạ lùng đến thế? Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) – tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) – một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô-viết. Tuy nhiên, một số nhân vật khác vốn không được coi là mềm dẻo đối với chế độ cộng sản cũng không kém kinh ngạc trước sự cáo chung của chế độ này. Một trong những người thiết kế chiến lược Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh, ông George Kennan, viết rằng, trong khi nhìn lại toàn bộ “lịch sử các sự vụ quốc tế trong thời hiện đại”, ông nhận thấy rằng “thật khó nghĩ ra một biến cố nào lạ lùng, đáng kinh ngạc, và mới thoạt nhìn không thể giải thích nổi, hơn sự tan biến đột ngột và toàn bộ… của đại cường mệnh danh kế tục nhau là Đế quốc Nga rồi đến Liên Xô”. Richard Pipes, có lẽ là sử gia Mỹ hàng đầu về nước Nga và cũng là một cố vấn của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, cho rằng cuộc cách mạng gần đây của Nga là “bất ngờ”. Một tuyển tập gồm các bài tiểu luận viết về sự cáo chung của Liên Xô trong một số báo đặc biệt năm 1993 của tạp chí bảo thủ National Interest (Lợi ích Quốc gia) có tựa đề là “Cái chết lạ lùng của chủ nghĩa Cộng sản Xô-viết”.
Nếu có thể hiểu được dễ dàng hơn, thì sự thiếu phán đoán mang tính tập thể này có thể đã được an toàn xếp vào một hồ sơ trí tuệ gồm những điều kỳ lạ và phù phiếm của khoa học xã hội rồi bị lãng quên. Tuy nhiên, thậm chí ngày nay, với khoảng cách 20 năm, giả thuyết cho rằng Liên Xô vẫn có thể tiếp tục tồn tại trong tình trạng lúc đó hay bất quá cuối cùng nó sẽ bắt đầu một cuộc suy tàn kéo dài khá lâu, có vẻ là một kết luận không kém phần hợp lý.
Thật vậy, vào năm 1985 Liên Xô gần như vẫn có đủ nguồn lực thiên nhiên và nhân sự của 10 năm về trước. Chắc chắn là, mức sống tại đây còn thấp hơn tại Đông Âu khá xa, nói chi đến phương Tây. Tình trạng thiếu hụt hàng hoá, hạn chế lương thực, những hàng người dài trước các quầy hàng, và nạn nghèo khổ khắc nghiệt diễn ra đều khắp xã hội. Nhưng Liên Xô đã từng trải qua nhiều đại họa to lớn hơn thế và đã có thể đối phó mà không hề mất một mảy may quyền kiểm soát của nhà nước đối với xã hội và nền kinh tế, lại càng không hề từ bỏ quyền lực này.
Không có một thước đo thành tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy một thảm họa đang lù lù xốc tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm lại so với thập niên 1960 và thập niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm. Chính cùng một mô hình dù suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này còn kéo dài cho đến hết năm 1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng Pháp được coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến cách mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng, nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 – một con số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở được (manageable).
Giá dầu lửa rơi cực nhanh, từ 66 đôla một thùng năm 1980 xuống 20 đôla một thùng năm 1986 (trong số 2000 giá cả) chắc chắn là một đòn nặng nề đánh vào tài chính Xô-viết. Tuy vậy, nếu điều chỉnh theo nạn lạm phát, thì vào năm 1985 giá dầu lửa trên thị trường thế giới vẫn cao hơn năm 1972, và chỉ thấp hơn toàn thập niên 1970 một phần ba mà thôi. Nhưng đồng thời, mức thu nhập của người dân Xô-viết gia tăng hơn 2% vào năm 1985, và sau khi điều chỉnh lạm phát, đồng lương của họ còn tiếp tục gia tăng trong 5 năm liền cho đến hết năm 1990 ở mức độ trung bình trên 7% mỗi năm.
Vâng, tình trạng đình đốn kinh tế của Liên Xô là hiển nhiên và đáng lo ngại. Nhưng như Giáo sư Đại học Wesleyan, ông Peter Rutland, đã chỉ rõ, “Dẫu sao, những chứng bệnh kinh niên của Liên Xô không nhất thiết đe dọa sinh mệnh của nước này”. Ngay cả nhà nghiên cứu hàng đầu về các nguyên nhân kinh tế của cuộc cách mạng này, ông Anders Aslund, cũng ghi nhận rằng từ năm 1985 đến năm 1987, tình hình “là không mảy may sôi động”.
Từ quan điểm của chính quyền, tình hình chính trị lúc bấy giờ thậm chí ít đáng lo ngại hơn trước. Sau 20 năm liên tục đàn áp đối lập chính trị, gần như tất cả những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng đã bị cầm tù, lưu đày (như trường hợp Andrei Sakharov từ năm 1980), buộc phải ra sống ở nước ngoài, hay chết trong các trại cải tạo và nhà giam.
Cũng gần như không có bất cứ một dấu hiệu nào khác báo trước một cuộc khủng hoảng tiền cách mạng (pre-revolutionary crisis), kể cả một nguyên nhân truyền thống thường được coi là có thể dẫn đến sự suy sụp của một quốc gia – đó là sức ép từ bên ngoài. Trái lại, thập niên trước đó được các học giả đánh giá đúng đắn là thời kỳ Liên Xô “đã thực hiện được tất cả những tham vọng quân sự và ngoại giao quan trọng”, như nhà sử học và ngoại giao Mỹ, ông Stephen Sestanovich, đã viết. Tất nhiên, lúc bấy giờ Afghanistan ngày càng cỏ vẻ là một cuộc chiến lâu dài, nhưng đối với một quân lực gồm 5 triệu binh sĩ như của Liên Xô, sự thiệt hại tại đó là không đáng kể. Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy trì một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh luận sau năm 1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến Afghanistan không làm cho quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4 đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là một phần không đáng kể trong tổng sản lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.
Hoa Kỳ cũng không phải là một lực tác động cho cuộc cách mạng. “Học thuyết Reagan” bao gồm nỗ lực chống lại và, nếu có thể, đảo ngược những bước tiến của Liên Xô trong Thế giới Thứ ba quả có tạo được sức ép chung quanh đế quốc này, ở những nơi như Afghanistan, Angola, Nicaragua, và Ethiopia. Tuy nhiên, những khó khăn của Liên Xô ở đó cũng chẳng có gì nghiêm trọng để trở thành một nguy cơ cho chế độ.
Trong một màn giáo đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang có tiềm năng gây ra nhiều tốn kém cho đối phương, Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược [hay lá chắn nguyên tử] do Reagan đưa ra thực sự có ý nghĩa  nghiêm trọng – nhưng đề xuất này không hề báo hiệu một sự thất bại quân sự cho Liên Xô, vì Điện Cẩm Linh biết chắc rằng việc triển khai hữu hiệu hệ thống phòng thủ không gian của Mỹ cũng mất vài thập kỷ nữa mới thực hiện được. Tương tự như thế, mặc dù cuộc nổi dậy chống cộng sản bất bạo động của công nhân Ba Lan là một tình hình rất bức xúc cho giới lãnh đạo Xô-viết, làm nổi bật sự mong manh của đế quốc của họ tại châu Âu, nhưng vào năm 1985 Phong trào Đoàn kết (Soliditary) tỏ ra đã kiệt lực. Liên Xô hình như thích nghi được với việc tung ra các “đợt bình định” đẩm máu cứ 12 năm một lần – Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Ba Lan năm 1980 – bất chấp dư luận thế giới.
Nói thế khác, đây là một Liên Xô đang ở trên đỉnh cao quyền lực và thanh thế toàn cầu của mình, theo quan điểm của chính nó lẫn quan điểm của thế giới còn lại. Sau này, sử gia Adam Ulam đã nhận xét “Chúng ta thường quên rằng vào năm 1985, không một chính phủ của một quốc gia quan trọng nào tỏ ra có quyền lực vững chắc và có đường lối chính sách rõ ràng như chính quyền Liên bang Xô-viết”.
Hẳn nhiên, có nhiều lý do thuộc về cơ chế – kinh tế, chính trị, xã hội – cho biết tại sao Liên Xô phải sụp đổ như nó đã sụp đổ; tuy nhiên, những lý do này không thể giải thích đầy đủ biến cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào. Nghĩa là, làm sao trong một thời gian từ năm 1985 đến năm 1989, trong lúc không gặp phải những tình trạng tồi tệ gay gắt về kinh tế, chính trị, dân số, và các vấn đề cơ chế khác, mà nhà nước và hệ thống kinh tế Xô-viết bỗng dưng bị một quần chúng đủ đông đảo coi là ô nhục, thiếu tính chính danh, và hết chịu nỗi để phải sụp đổ?
Gần như hầu hết mọi cuộc cách mạng hiện đại, cuộc cách mạng Nga gần đây nhất được khởi động bằng một tiến trình tự do hóa khá do dự “từ trên xuống” – và lý do căn bản của nó vượt quá nhu cầu sửa sai nền kinh tế hoặc làm cho môi trường quốc tế tốt đẹp hơn. Cái cốt lỏi trong sáng kiến của Gorbachev là rất lý tưởng, đó là điều không thể chối cãi: Ông muốn xây dựng một Liên Xô có đạo lý hơn.
Vì mặc dù chiêu bài đưa ra là cải thiện kinh tế, nhưng rõ ràng là Gorbachev và những người ủng hộ ông trước hết muốn sửa chữa những sai lầm đạo lý hơn là sai lầm kinh tế. Hầu hết những điều họ tuyên bố công khai trong những ngày đầu của chương trình tái cơ cấu (perestroika), bây giờ nhìn lại, có vẻ chỉ là một cách biểu lộ nỗi khổ tâm của họ về sự suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin. Đó là bước khởi đầu của một sự liều lĩnh đi tìm kiếm những câu trả lời cho các vấn nạn to lớn mà mọi cuộc cách mạng vĩ đại thường bắt đầu: Thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, hợp với nhân phẩm? Cái gì tạo ra một trật tự kinh tế và xã hội công chính? Một nhà nước chính danh và đàng hoàng là như thế nào? Quan hệ của một nhà nước ấy với xã hội dân sự phải như thế nào?
“Một không khí đạo lý mới mẻ đang thành hình trên đất nước ta”, Gorbachev đã nói như thế trước Ủy ban Trung ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng 1987, nơi ông tuyên bố rằng glasnost (chủ trương cởi mở) và tự do hóa sẽ làm nền tảng cho perestroika (chủ trương tái cơ cấu)  xã hội Xô-viết của ông. “Việc thẩm định lại các giá trị và xét lại chúng một cách sáng tạo đang được tiến thành”. Sau này, khi nhắc lại cảm tưởng của ông rằng “chúng ta không thể tiếp tục như thế thêm nữa, và chúng ta phải triệt để thay đổi lối sống, dứt khoát với những sai trái trong quá khứ”, ông gọi đó là “lập trường đạo lý” của ông.
Trong một bài phỏng vấn vào năm 1989, “người cha đỡ đầu của glasnost”, ông Aleksandr Yakovlev, nhớ lại rằng, vào lúc trở về Liên Xô sau 10 năm làm Đại sứ tại Canada, ông cảm thấy đã đến lúc người dân phải tuyên bố, “Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.
Theo ý kiến của vị thủ tướng của Gorbachev, ông Nikolai Ryzhkov, “tình trạng đạo lý [nrastennoe] của xã hội vào năm 1985 là nét đặc trưng “hãi hùng nhất”:
[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.
Một thành viên khác trong nhóm thân cận sơ khởi và rất ít ỏi của Gorbachev gồm những nhân vật chủ trương tự do, Bộ trưởng Ngoại giao Eduard Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém vì tình trạng thiếu luật lệ và tham nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đã nói với Gorbachev vào mùa đông 1984-1985: “Mọi thứ đã thối nát. Phải thay đổi thôi”.
Trở lại thập niên 1950, một vị tiền nhiệm của Gorbachev, ông Nikita Khrushchev, đã lần đầu thấy rõ sự mong manh của cái nền tảng của ngôi nhà mà Stalin đã xây lên trên sự khủng bố và dối trá. Nhưng thế hệ thứ năm này của giới lãnh đạo Xô-viết cảm thấy tin tưởng hơn về sức bật của chế độ. Gorbachev và các đồng chí của ông tỏ ra tin tưởng rằng những điều đúng cũng là những điều có thể quản lý được dễ dàng về mặt chính trị (politically manageable). Gorbachev tuyên bố rằng chủ trương dân chủ hóa “không phải là một khẩu hiệu nhưng là tinh túy của perestroika”. Nhiều năm về sau, ông đã trả lời phỏng vấn như sau:
Mô hình Xô-viết không những bị đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội; nó bị đánh bại ngay trên bình diện văn hóa. Xã hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đã bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.
Sự thể những cải tổ đã đưa đến cuộc cách mạng năm 1989 phần lớn cũng phát xuất từ một nguyên nhân “lý tưởng” khác: bản thân Gorbachev rất ghét bạo động và, vì thế, ông cương quyết không sử dụng việc áp bức quần chúng (mass coercion) khi tầm mức của các biến chuyển bắt đầu vượt quá ý định ban đầu của ông. Triển khai các lực lượng đàn áp kiểu Xít-ta-lin cho dù để “duy trì chế độ” cũng sẽ là một hành động phản lại niềm tin tưởng son sắt nhất của ông. Một chứng nhân nhớ lại Gorbachev đã nói vào cuối thập niên 1980, “Chúng ta được dạy là chúng ta phải đấm bàn”, rồi ông nắm tay lại, minh họa cú đấm. Viên Tổng bí thư phát biểu tiếp: “Nói chung, việc này có thể thực hiện. Nhưng chúng tôi không thích làm như vậy”.
Vai trò của tư duy và lý tưởng trong việc mang lại cuộc cách mạng Nga xuất hiện rõ nét hơn khi chúng ta nhìn vào những diễn biến bên ngoài Điện Cẩm Linh. Một ký giả Xô-viết hàng đầu và về sau trở thành một tiếng nói nhiệt tình đối với chủ trương glasnost, ông Aleksandr Bovin, đã viết vào năm 1988 rằng những lý tưởng củaperestroika đã “chín muồi” giữa lúc nhân dân ngày càng “bức xúc” trước nạn tham nhũng, ăn cắp của công trắng trợn, trước những láo khoét, và những cản trở chặn đứng việc làm của người lương thiện. Những dự kiến “về một cuộc đổi thay có thực chất đang bàng bạc trong không gian”,  một chứng nhân khác nhớ lại, và những người mang kỳ vọng này đã tạo nên một khối cử tri rõ nét (appreciable constituency) đang đòi hỏi những cải tổ triệt để. Thật vậy, những kỳ vọng đã đón chào Gorbachev khi ông lên cầm cầm quyền là rất mãnh liệt và ngày càng gia tăng đến độ chúng có thể định hình cho chính sách thực sự của ông. Đột nhiên, chính các tư duy đã trở nên một yếu tố có cấu trúc, có thực thể trong cuộc cách mạng đang diễn ra.
Theo cách nói của Yakovlev, cái uy tín của ý thức hệ chính thống, vốn ràng rịt toàn bộ hệ thống chính trị và kinh tế của chế độ Xô-viết “như những niềng thép”, đang rã rệu nhanh chóng. Nhận thức mới đã giúp người dân thay đổi thái độ đối với chế độ và tạo ra “một chuyển biến trong hệ thống các giá trị”. Dần dần, tính chính đáng của các sắp xếp chính trị [cơ chế chính trị] bắt đầu bị chất vấn. Trong một trường hợp điển hình của “định lý Thomas” bất hủ mà [nhà xã hội học] Robert K. Merton xây dựng thành lý thuyết – “Nếu người ta tin rằng một tình thế là có thực, thì tình thế đó sẽ trở thành hiện thực trong hậu quả của nó”– sự suy đồi thực sự của nền kinh tế Xô-viết chỉ mang lại hậu quả nghiêm trọng sau khi và bởi vì có một chuyển biến cơ bản trong cách người dân cảm nhận và đánh giá thành tích của chế độ.
Viết cho một tạp chí Xô-viết năm 1987, một độc giả Nga gọi những gì ông chứng kiến chung quanh ông là một “sự dứt khoát triệt để trong ý thức của người dân”. Chúng ta biết độc giả này nhận xét đúng vì cuộc cách mạng của Nga là cuộc cách mạng vĩ đại đầu tiên mà tiến trình của nó được vẽ thành biểu đồ trong các cuộc thăm dò dư luận quần chúng ngay từ đầu. Vào cuối năm 1989, cuộc thăm dò dư luận tiêu biểu đầu tiên đã cho thấy dân chúng nhiệt liệt ủng hộ các cuộc tuyển cử có tính cạnh tranh và việc hợp pháp hóa các đảng phái ngoài Đảng Cộng sản Xô-viết – sau bốn thế hệ dưới chế độ độc tài độc đảng và trong lúc các đảng phái độc lập vẫn còn bất hợp pháp. Giữa thập niên 1990, hơn nửa số người được thăm dò trong một vùng nước Nga đồng ý rằng “một nền kinh tế lành mạnh” có khả năng phát triển nhanh hơn “nếu chính phủ cho phép tư nhân làm ăn theo ý họ muốn”. Sáu tháng sau, một cuộc thăm dò trên toàn nước Nga cho thấy 56% hậu thuẫn một cuộc chuyển đổi nhanh chóng hay tuần tự sang một nền kinh tế thị trường. Thêm một năm sau thì số người ủng hộ kinh tế thị trường tăng đến tỉ lệ 64%.
Những người đã gieo vào xã hội “chuyển biến ngoạn mục về ý thức” không ai khác hơn là những kẻ đã từng châm ngòi cho các cuộc cách mạng tiêu biểu khác của thời hiện đại: đó là, các nhà văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ. Như Alexis de Tocqueville nhận xét, những con người này “giúp tạo ra một ý thức chung về sự bất mãn như vậy, một công luận được kiên định như vậy, rồi hai yếu tố này… lại tạo ra những đòi hỏi hữu hiệu cho các chuyển biến có tính cách mạng”. Đột nhiên, “toàn bộ việc giáo dục” trên cả nước trở thành “công tác của những người cầm bút”.
Tại Nga Xô cũng vậy. Những hàng người dài trước các sạp báo – đôi khi  các đám đông phải xếp hàng quanh một khu phố từ lúc 6 giờ sáng, vì lượng báo ra hàng ngày thường bán sạch chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ – và số người đặt mua ngày càng đông các báo nổi tiếng có chủ trương tự do đã chứng minh sức công phá của những nhà bình luận nổi tiếng thuộc khuynh hướng glasnost, hay xin mượn cụm từ của Samuel Johnson, “những bậc thầy truyền giảng chân lý” (teachers of truth): kinh tế gia Nikolai Shmelyov; các triết gia chính trị như Igor Klyamkin và Alexandr Tsypko; các tiểu luận gia như Vasily Selyunin, Yuri Chernichenko, Igor Vinogradov, and Ales Adamovich; các ký giả Yegor Yakovlev, Len Karpinsky, Fedor Burlatsky, và chí ít trên hai chục nhà văn nữa.
Đối với họ, việc phục sinh đạo lý là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không những chỉ rà soát lại các hệ thống chính trị và kinh tế Xô-viết, không những chỉ lật ngược các qui phạm xã hội (social norms), mà còn là một cuộc cách mạng trên bình diện cá nhân: một sự thay đổi trong nhân cách của người dân Nga. Như Mikhail Antonov tuyên bố trong một tiểu luận rất sáng tạo năm 1987, với tiêu đề “Vậy thì việc gì đang đến với chúng ta?” trên tạp chí Oktyabr, phải “cứu” lấy nhân dân – không phải để họ thoát khỏi các mối nguy từ bên ngoài, nhưng “chủ yếu để họ thoát khỏi chính mình, thoát khỏi các tiến trình phi luân đang giết chết những phẩm chất cao quí nhất của con người”. Cứu nhân dân bằng cách nào? Bằng cách làm cho tiến trình dân chủ hóa còn sơ sinh trở thành con đường định mệnh, không thể đảo ngược – không phải bằng “một đợt băng tan” ngắn ngủi của Khrushchev, nhưng bằng một cuộc thay đổi khí hậu. Và việc gì sẽ đảm bảo cho tình hình không thể đảo ngược này? Trên hết, đó là sự xuất hiện của con người tự do, một con người “không bị lây nhiễm trước các sự kiện lặp đi lặp lại của chế độ nô lệ tinh thần”. Tuần báo Ogoniok, một tạp chí quan trọng thuộc chủ trương glasnost, đã viết vào tháng Hai năm 1989 rằng chỉ có “con người không có khả năng làm chỉ điểm cho công an, không có khả năng phản bội và láo khoét, bất luận nhân danh ai hay tổ chức nào, mới có thể cứu chúng ta khỏi sự xuất hiện trở lại của một nhà nước độc tài”.
Lối lý luận vòng vo này – để cứu nhân dân, người ta phải cứu lấy perestroika, nhưng người ta chỉ cứu đượcperestroika nếu có thể  thay đổi đựợc con người “từ bên trong” – gần như không hề làm cho ai khó chịu. Những người phát biểu tư duy về những vấn đề này gần như đã cho rằng việc cứu nước bằng chủ trươngperestroika và việc kéo người dân khỏi bãi sình lầy tinh thần là hai nỗ lực đan kết chặt chẽ, có lẽ không thể tách rời nhau, và họ dừng lại ở đó. Vấn đề quan trọng là phải đưa nhân dân trở về “địa vị công dân” từ vị trí “nông nô” và “nô lệ”. “Đủ lắm rồi!” là một lời tuyên bố của Boris Vasiliev, tác giả của một tiểu thuyết bán rất chạy trong giai đoạn này về Thế chiến II, một cuốn truyện được đóng thành phim và được khán giả yêu chuộng không kém. Ông nói: “Đủ lắm rồi những láo khoét, đủ lắm rồi tinh thần nô lệ, đủ lắm rồi sự hèn nhát. Sau cùng, chúng ta phải nhớ rằng tất cả chúng ta đều là công dân. Những công dân tự hào của một đất nước tự hào!”.
Nhìn kỹ vào những nguyên nhân của Cách mạng Pháp, de Tocqueville có nhận xét nổi tiếng rằng, các chế độ bị cách mạng lật đổ thường thường ít áp bức dân chúng hơn các chế độ trước đó. Tại sao? Vì, theo suy đoán của de Tocquevile, mặc dù người dân “có thể ít khổ sở hơn”, nhưng họ lại “cảm thấy bị xúc phạm nhiều hơn”.
Thông thường, Tocqueville có khuynh hướng bàn về những điều tối quan trọng. Từ Những Người cha lập quốc trong Cách mạng Mỹ (the Founding Fathers), đến nhóm Jacobins của Cách mạng Pháp và nhóm Bôn-sê-vich trong Cách mạng Nga, những nhà cách mạng này đã chiến đấu chủ yếu dưới một bóng cờ: phát huy nhân phẩm. Chính vì nỗ lực tìm kiếm nhân phẩm xuyên qua quyền tự do và quyền công dân mà khuynh hướng lật đổ chính quyền trong tinh thần glasnost vẫn còn tồn tại – và sẽ còn tồn tại. Cũng như trước đây những trang báo của tờ Ogoniok và tờ Moskovskie Novosti nằm hãnh diện bên cạnh hình ảnh Boris Yeltsin trên chiếc xe tăng như là các biểu tượng của cuộc mạng Nga gần đây, ngày nay những trang mạng bằng tiếng Á-rập cũng hiên ngang làm biểu tượng cách mạng bên cạnh những hình ảnh các đám đông nổi dậy tại Quảng trường Tahrir của Cairo, tại Khu Casbah của Tunis [Tunisia], trên các đường phố của Benghazi [Lybia], và các thành phố sôi sục bạo động của Syria. Gác các vấn đề ngôn ngữ và văn hóa chính trị qua một bên, các thông điệp và cảm thức mà những cuộc cách mạng này gợi lên là rất giống nhau.
Mohamed Bouazizi, một thanh niên bán hoa trái, mà cuộc tự thiêu của anh đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy tại Tunisia khởi đầu cho Mùa Xuân Á Rập 2011, đã tự tử “không phải vì anh ta thất nghiệp nhưng vì khi anh đến nói chuyện với [chính quyền địa phương] có trách nhiệm về vấn đề của anh thì bị đánh đập – cái chết này là để tố cáo chính phủ”, một người biểu tình tại Tunis đã nói với một nhà báo Mỹ như thế. Tại Benghazi, cuộc nổi dậy của người Lybia bắt đầu với việc các đám đông hô vang khẩu hiệu, “Nhân dân muốn chấm dứt tham nhũng!” Tại Ai Cập, các đám đông đã “biểu lộ tinh thần tự cường của một dân tộc bị đàn áp quá lâu đã đến lúc không còn biết sợ hãi nữa, không muốn để cho giới lãnh đạo của mình tiếp tục tước đoạt tự do và chà đạp nhân phẩm”, cây viết chuyên đề của tờ New York Times, ông Thomas Friedman, đã tường thuật từ Cairo vào tháng Hai năm nay. [Nếu có mặt ở hiện trường], ông cũng có thể đã tường thuật như thế từ Mát-xkơ-va năm 1991.
“Nhâm phẩm có ưu tiên hơn bánh mì!” là khẩu hiệu của cách mạng Tuy-ni-di. Kinh tế Tuy-ni-di đã gia tăng trong khoảng 2 và 8 phần trăm một năm trong hai thập kỷ liền trước cuộc nổi dậy. Với giá dầu lửa ở mức cao, Libya cũng đang phát triển kinh tế khá mạnh ngay trước khi có cuộc nổi dậy. Cả hai trường hợp này nhắc nhở chúng ta rằng trong thế giới hiện nay, tiến bộ về mặt kinh tế không thể thay thế cho niềm tự hào và tự trọng trong tư cách công dân. Nếu chúng ta không nhớ kỹ điều này, chúng ta sẽ tiếp tục kinh ngạc – trước “các cuộc cách mạng màu” trong thế giới hậu Xô-viết, trước Mùa Xuân Ả Rập, và không chóng thì chầy trước một biến động dân chủ tất yếu tại Trung Quốc – như chúng ta từng kinh ngạc trước cuộc cách mạng tại Nga Xô. “Thượng Đế đã ban cho chúng ta một ý thức mãnh liệt về nhân phẩm khiến chúng ta không thể chấp nhận sự khước từ các quyền tự do và các quyền bất khả xâm phạm, bất chấp cả quyền lợi có thực hay giả tưởng nào mà các chế độ độc tài ‘ổn định’ có thể mang lại”, tổng thống của nước Kyrgyzstan, ông Roza Otunbayeva, đã viết vào tháng Ba năm nay. “Thật là kỳ diệu khi người dân, nam, phụ, lão, ấu, thuộc nhiều tôn giáo và khuynh hướng chính trị khác nhau, qui tụ trong các quảng trường thành phố và tuyên bố ‘chúng tôi đã chịu đựng đủ lắm rồi’ (enough is enough)”.
Hẳn nhiên, động lực đạo lý tuyệt vời, sự tìm kiếm chân và thiện, chỉ là một điều kiện cần nhưng không đủ để tái tạo một đất nước thành công. Nhân dân có thể đủ sức lật đổ chế độ cũ (ancien régime), nhưng không thể cùng một lúc khắc phục được nền văn hóa chính trị độc tài đã ăn sâu trên cả nước. Gốc rễ của các định chế dân chủ do những cuộc cách mạng có động cơ đạo lý có lẽ tỏ ra còn quá nông cạn, không thể giữ vững một nền dân chủ hữu hiệu trong một xã hội thiếu truyền thống quí giá là cơ sở hạ tầng biết tự tổ chức và biết tự trị. Đây là điều có thể gây trở ngại to lớn cho việc thực hiện những hứa hẹn của Mùa Xuân Á-rập – đã thấy ở Nga. Sự phục sinh đạo lý ở Nga đã bị trở ngại do sự phân hóa và ngờ vực mà 70 năm độc tài toàn trị sản sinh ra. Mặc dù Gorbachev và Yeltsin đã tháo dỡ một đế quốc, nhưng cái di sản của não trạng đế quốc trong hằng triệu người Nga đã khiến họ dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa tân độc tài của Putin (neo-authoritarian Putinism), với các chủ đề tuyên truyền to lớn như “sự bao vây của các thế lực thù nghịch” và “Nước Nga đứng dậy từ bước ngã quị”. Hơn thế nữa, bi kịch quốc gia to lớn (và tội lỗi quốc gia) mà chủ nghĩa Xit-ta-lin gây ra chưa bao giờ được tìm hiểu đầy đủ và chưa bao giờ được thống hối, vì vậy đã làm hỏng toàn bộ nỗ lực phục hồi đạo lý, đúng như các người rao giảng glasnost từng mạnh mẽ cảnh báo.
Đó là lý do nước Nga ngày nay một lần nữa đang từng bước tiến tới một thời điểm perestroika khác. Mặc dù những đợt cải tổ thị trường trong thập niên 1990 và giá dầu lửa tăng cao hiện nay đã kết hợp lại để tạo nên sự phồn vinh chưa từng có trong lịch sử cho hằng triệu người Nga, nhưng sự tham nhũng trắng trợn của tầng lớp cai trị ở chóp bu, chế độ kiểm duyệt kiểu mới, và việc công khai khinh thường dư luận đã tạo ra tình trạng bất mãn và yếm thế, một tình trạng đang bắt đầu lên tới (nếu không muốn nói đã thực sự vượt qua) mức độ của đầu thập niên 1980.
Người ta chỉ cần đến Mát-xcơ-va vài ngày để tiếp xúc với giới trí thức hiện nay hay, tốt hơn nữa, liếc qua các trang nhật ký mạng (blogs) trên LiveJournal (Zhivoy Zhurnal), diễn đàn Internet nổi tiếng nhất của Nga, hay qua các website của những nhóm trí thức đối lập và độc lập hàng đầu, là thấy được rằng câu châm ngôn của thập niên 1980 – “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa!” đang trở thành tín điều một lần nữa. Lệnh truyền đạo lý của tinh thần tự do đang tái khẳng định chính nó, và hiện tượng này không chỉ diễn ra hạn hẹp trong các giới trí thức và những nhà hoạt động dân chủ. Tháng Hai năm nay, Viện Phát triển Đương đại (the Institute of Contemporary Development), một viện nghiên cứu chính sách tự do do Tổng thống Dmitry Medvedev làm Chủ tịch, đã xuất bản một tài liệu có vẻ như là một chương trình vận động tranh cử Tổng thống Nga năm 2012:
Trong quá khứ nước Nga cần tự do để sống [tốt đẹp hơn]; hiện nay nước Nga cần tự do để sống còn… Thách thức của thời đại chúng ta là làm sao để rà soát lại hệ thống giá trị, hun đúc một ý thức mới. Chúng ta không thể xây dựng một đất nước hiện đại với tư duy cũ… Đầu tư tốt đẹp nhất [mà nhà nước có thể dành cho con người] là Tự do và Nền Pháp trị (the Rule of Law). Và tôn trọng Phẩm giá của con người.

Chính cuộc tìm kiếm có tính cách trí thức và đạo lý này, một nỗ lực khôi phục niềm tự hào và tự trọng, bắt đầu bằng một cuộc duyệt xét đạo lý không nương nễ đối với quá khứ và hiện tại của đất nước, chỉ vỏn vẹn trong vài năm đã khoét hổng nhà nước Xô-viết đồ sộ, tước sạch tính chính danh của nó, và biến nó thành một chiếc vỏ bị thiêu rụi (burned-out shell) để rồi tan rã vào tháng Tám 1991. Câu chuyện về hành trình đạo lý và trí thức này là một câu chuyện hoàn toàn chiếm vị trí trung tâm về cuộc cách mạng vĩ đại cuối cùng của thế kỷ 20.

Thứ Ba, ngày 25 tháng 8 năm 2015

Bùi Thanh Hiếu - Đàn em.

Link : http://nguoibuongio1972.blogspot.com/


Thỉnh thoảng những câu chuyện tôi viết lại mang bóng dáng của nhà tù. Một số bạn sẽ phát ngán về điều ấy. Nhưng sòng phẳng mà nói thì tôi viết cho mình, không phải là bắt ép các bạn phải đọc như những điều tôi viết.

 Nếu ai đã trải qua nhà tù, hay những năm tháng khó khăn dài. Bạn sẽ hiểu dù nó đã xa hàng chục năm, đôi khi bạn vẫn bị ám ảnh. Bạn đi trên đường nhìn một góc phố nào đó, tự nhiên bạn sẽ nhớ lại những ngày bạn xếp hàng giữa mùa đông chờ mua thứ gạo hôi rình, đầy sạn ở cửa hàng lương thực nhà nước ở góc phố đó. Bạn nhìn quán kem , nước dừa, chè đỗ đen nào đó, bạn sẽ nhớ lại cô bạn gái thời học trò ngay cả khi tóc bạn đã ngả màu muối tiêu.

Tuổi trẻ thường hay chán ngán khi nghe các cụ già động tí lại bảo ngày xưa thế này, ngày xưa thế kia....

Bây giờ ở tuổi trẻ đã qua, già chưa tới. Đôi khi tôi bần thần nghĩ đến chuyện của ngày xưa và chuyện của ngày nay, mọi thứ đan xen lẫn nhau.

Tôi ở trong trại tù, trong trại tù các phạm nhân thường kết hợp với nhau thành từng nhóm. Nhóm đó góp đồ ăn chung, bảo vệ nhau, giúp đỡ nhau. Nhóm như thế gọi là '' quẫy ''. Mỗi '' quẫy '' đều có một đàn anh cầm đầu, chỉ đạo việc trong '' quẫy''. Các '' quẫy '' va chạm với nhau thường xuyên, đâm chém, đánh lộn...Những lần như thế cán bộ phải dùng biện pháp giải tán '' quẫy ''  hay gọi là '' di cả quẫy ''. Nghĩa là phân tán các thành viên của '' quẫy '' đi các nơi khác nhau. Chuyển đi đội khác, nếu mâu thuẫn quá nặng nề có khi phải chuyển đi trại tù khác để cách biệt hẳn.

 Tôi ở một mình mặc dù nhiều '' quẫy '' rất muốn tôi ở cùng họ. Tôi tự bảo vệ được mình nên không cần đến anh em, nhiều khi có anh em ăn ở cùng nhau, họ gây sự với ai thành đánh lộn. Mình trong '' quẫy '' họ không thể đứng ngoài. Không chỉ chuyện đánh nhau mà còn bao nhiêu chuyện khác ví dụ như tìm kiếm vật chất phục vụ cuộc sống cho cả nhóm. Tìm củi , tìm nhựa làm chất đốt, tìm xoong nồi, tìm rau củ...rồi tìm cách xoay sở sao cho được chỗ nằm tốt, lo lót sao cho có được công việc tốt cho nhóm của mình.

Các tù nhân chỉ làm theo những việc có sẵn, tuỳ theo từng việc lo giá tiền để làm việc đó. Người cắt cỏ cá, người chăn trâu, người nuôi lợn, người phục vụ cán bộ, người làm đội trưởng, nhóm trưởng...tiền ít thì cuốc đất, gánh nước tưới. Các công việc có sẵn và có giá tiền sẵn. Việc '' lẻ '' là những việc tự do, không bị quản thúc chặt, tự giác làm và đóng tiền cao.

Có lẽ điều tôi tự hào nhất trong tù là tôi tự nghĩ ra việc cho mình, và ông quản giáo chấp nhận điều đó. Một ngoại lệ chưa từng có, tôi chả mất đồng nào mà vẫn làm tự giác.

Công việc của tôi là hàng ngày đi khắp đồng ruộng của đội tù, quan sát xem những việc nào cần làm, ví dụ như chỗ đất này mai phải cuốc để trồng gì, chỗ ruộng rau kia cần làm cỏ hay phun thuốc sâu. Bờ nào cần đắp, chỗ nào cần thêm người..cả đội tù có đến 60 con người và chục mẫu ruộng, mấy chục sào rau, bốn cái ao cá, ba con trâu, một đàn vịt hai trăm con, một đàn gà trăm con và tám con lợn. Tha hồ mà phải tính toán hợp lý, trong khi ông quản giáo chỉ thích ngồi đánh chẵn ăn tiền với các đồng nghiệp, còn đội trưởng chỉ lo chích cho phê rồi vừa nhắm mắt vừa phân công việc cho tù.

Tôi cải tạo theo đúng nghĩa tích cực nhất, không chạy chọt tiền nong, không nịnh bợ, không làm chỉ điểm. Ngày tôi ốm thì quản giáo lo sốt vó, còn đội trưởng thì cắt người chăm sóc tôi. Ông quản giáo bỏ đánh chẵn để đi sắp xếp việc, liên tục ông hỏi tôi đỡ chưa, đi làm được chưa. Hài hước là tôi được trại tặng bằng khen là phạm nhân xuất sắc của trại kèm tiền thưởng.

Cái mác phạm nhân xuất sắc khiến tôi đi lại tự do trong trại, thậm chí đi thẳng từ trong buồng giam qua ba lần cửa gác ra bên ngoài nhà dân để mua thứ gì mà không phải cần có cán bộ nào ký giấy bảo lãnh. Nguyên tắc canh gác của trại rất chặt chẽ, tù qua cửa phải có cán bộ ký nhận giấy và đưa ra, lúc về cũng ký trao trả. Tôi qua các cửa gác chỉ cúi chào và nói - thầy cho em ra ngoài. Lính gác nào cũng gật đầu, mặc dù họ là lính vũ trang, lính nghĩa vụ có thời hạn.

Tôi chả cần gì đến đàn em hay đàn anh, trong đội tù của tôi chẳng ai gây sự với tôi. Các đội tù khác cũng thế, họ luôn thân thiện để còn đôi lúc nhờ vả tôi chút gì, như nhắn tin, gửi thư hay mua hộ gì đó.

 Một ngày nọ, đội tù tôi có thêm mấy lính mới, trong đó có hai thằng chỉ mười tám tuổi phạm tội trấn lột. Cả hai thằng cùng vụ, mặt non choẹt. Chúng vào được đội mấy hôm thì gia đình chúng thăm. Mẹ thằng Tuấn Còi xin quản giáo cho gặp tôi, bà nói.

- Chúng tôi xin anh cho em nó ở cùng anh, có gì anh dạy bảo. Thưa với anh tôi là giáo viên, chồng tôi cũng vậy. Chúng tôi không biết nói thế nào, chỉ mong anh giúp bảo ban em nó. 

Tôi lắc đầu từ chối, tôi nói tôi không tốt đẹp gì, nếu tôi dạy chúng được những điều tốt thì tôi đã không phải ở đây. Trong đội này có nhiều nhóm, cô bảo nó thấy hợp nhóm nào thì xin ở cùng để bảo vệ, giúp đỡ nhau. Còn cháu không nhận đàn em bao giờ cả.

Tôi quay đi, thấy ánh mắt bà mẹ nhìn theo đầy vẻ van xin.

Hơn tháng sau, lại có một thằng mới về đội, nó là cháu của một anh bạn. Tôi để nó ở cùng tôi, mẹ Tuấn Còi đến thấy vậy lại gặp và nói tôi cho Tuấn ở cùng. Bà nói.

- Anh ở đây trước có kinh nghiệm, anh bảo ban coi nó như em anh, chúng tôi mang ơn anh nhiều.

Tôi nói.

- Kinh nghiêm ở đây đều trả giá đắt, cháu không tự nhiên mà có, tại sao cô cứ bắt em nó về với cháu, ở đây còn đầy người mà.

Bà mẹ giãi bày, bà thăm con, gặp quản giáo biếu tiền rồi ngỏ lời xin ông dạy bảo con mình. Ông quản giáo bảo tốt nhất để tù dạy tù, chứ ông không ở với tù 24 tiếng mà bảo ban được. Bà lân la hỏi cậu lính vũ trang trẻ, cậu ấy bảo cho ở với thằng Hiếu là tốt nhất.

Cậu lính vũ trang trẻ cũng tên là Tuấn, cậu chẳng hút thuốc lá bao giờ, nhưng gia đình phạm nhân gặp biếu gói thuốc nào là cậu đút túi. Sau đó dúi lại cho tôi. Chưa bao giờ cậu xưng mày tao với tôi mà chỉ gọi tên tôi và xưng tôi. 

Tôi nhận thằng Tuấn, thêm cả thằng Khiêm đồng vụ với nó, với thằng Cường. Tôi bỗng có ba thằng đàn em.

Chúng tôi sống chan hoà với nhau, không rượu, không cờ bạc, xăm trổ, không chích choác, không gây sự với ai, tiết kiệm không hoang phí những đồng tiền gia đình gửi. Cả ba thằng đều tuổi 18, khi chúng quen với nhà tù rồi mới thật khó khăn. Chúng đều muốn chứng tỏ sự ngang tàng, khệnh khạng để làm '' giá cả ''. Bọn tù là thế, lúc đầu thì nơm nớp, sợ hãi mọi thứ. Thời gian sau thấy quen rồi là muốn xưng hùng bá , xưng anh chị. Chỉ có những tay anh chị thật sự như Thành Xăm ở bến Long Biên, Dũng Gỗ ở Giảng Võ...thì họ vào tù thế nào ra thế ấy. Còn lại đa phần là bọn ma cũ bắt nạt ma mới, hay bọn tù tiền, tức là có tiền lo lót cho quản giáo để dương oai.

 Cả quãng dài khó khăn để ngăn cản, rồi dàn xếp với các nhóm khác. Cuối cùng thì chúng cũng lần lượt hết án tù ra về mà không bị kỷ luật, được xét giảm đầy đủ.

Hôm tôi hết án về, Tuấn còi đứng đón ngoài cổng trại.

Cuộc sống ngoài đời cho kẻ nhiều năm trong tù ra thật khó khăn, nhiều lúc thấy bơ vơ mất thăng bằng còn hơn ở trong nhà tù. Ở trong tù có vị trí, có công việc, có sự cần thiết cho nhiều người. Ra tù ai cũng lảng tránh, có lúc thấy mình như con nợ của gia đình, có lúc thấy cuộc đời này không có chỗ cho mình. Tôi lúc đi làm giao hàng, lúc đi làm bảo vệ, lúc làm thợ hàn, thợ xây ngay cả lúc lao động bằng sức lực cũng bị phân biệt đối xử vì là kẻ ở tù ra, những dè bỉu nghiệt ngã, ngờ vực ...

Cuộc sống quá bươn chải, công việc thay đổi liên tục,  không còn dịp gặp lại những anh em trong tù cũ nữa.

 Đến ngày tôi mở công ty quảng cáo, nhận được nhiều hợp đồng, tôi tìm đến những cậu bé đã ở cùng tôi trong tù. Tôi muốn chúng làm cùng tôi.

Cả ba đều trở lại nhà tù, đứa 8 năm, đứa 10 năm, đứa 18 năm.

Giá như tôi có điều kiện sớm ngay lúc ra tù, tôi sẽ khiến cuộc đời chúng khác đi. Vì ý nghĩ như thế nên bao nhiêu năm rồi tôi vẫn tự trách mình. 

Tôi không trách chúng, khi tôi trở về vật lộn lại với cuộc sống đời thường, nhiều lúc phẫn nộ tôi đã có ý tìm lại con đường cũ. 

Nhiều lúc đương đêm tôi tỉnh dậy, nhớ đến chúng tôi khóc. Tôi thương chúng và khóc thương cho cả mình nữa. Vì tôi thấu nỗi cay đắng khi ra tù về lại xã hội. Tôi chỉ may mắn hơn chúng chút ít, còn không được may thế, có lẽ tôi cũng quay về trại giam như chúng mà thôi.

Thứ Năm, ngày 20 tháng 8 năm 2015

Bùi Thanh Hiếu - Đại Vệ Chí Dị

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 70
Vệ Kính Vương năm thứ tư.

Nhà Sản cai trị đất nước 70 năm, trải qua bao binh biến cơ đồ vẫn vững như bàn thạch. Đến năm Vệ Kính Vương thứ tư nhà Sản một mặt thuần phục nước Tề láng giềng phương Bắc, mặt khác kết giao với Cờ Hoa phương xa. Thế đứng càng vững chắc.

 Trong nước dân tình đói khổ, điêu linh. Tầng lớp trọc phú nhờ và quan lại cấu kết với nhau thống trị thâu tóm tài sản trong thiên hạ thành một lớp quý tộc mới, lại có một lũ hầu hạ bọn quý tộc này được ban chút bổng lộc cũng đủ thành lớp trung lưu.

Các phường nghệ sĩ, con hát, văn sĩ cũng gia sức hầu hạ bọn quý tộc để thành lớp trung lưu.

Bấy giờ nước Vệ trong dân đen loạn lắm, giết người cướp của xảy ra như cơm bữa. Thiên hạ ngày đêm làm đồ giả, bán đồ gian, bày đủ mưu kế lường gạt dẫm lên nhau mà sống. Người Vệ có lúc ban ngày không dám ra khỏi cửa.

Nghĩa binh nổi lên khắp nơi, nhưng sức yếu, thế cô chỉ như ngọn lửa bùng lên rồi lại tắt.

Nhà Sản vẫn vững như bàn thạch. Quan lại nhũng nhiêu trắng trợn, công sai giết người thẳng tay. Nước Vệ vô pháp lẫn vô đạo.

Mỗ là kẻ vô học, từ nhỏ quen thói lưu manh, chớp được cơ hội bèn khăn gói tót khỏi nước Vệ chạy tít sang trời Âu. Thỉnh thoảng nhớ quê cũ biên vài chuyện cho vơi nỗi nhớ nhà. Người trong thiên hạ gọi là Lái Gió, ý chỉ kẻ chuyên bịa chuyện hươu vượn mua vui.

Ngày nọ có nhân sĩ Vệ qua nơi mỗ ở, họ ghé thăm rồi hỏi.

- Nước Vệ sẽ thế nào.?

Mỗ chắp tay xá.

- Nước Vệ kẻ sĩ nhiều vô kể, bên trong có đến hàng vạn, bên ngoài cũng đến hàng ngàn. Nữ nhi nước Vệ oai chả kém San Cửu Kỳ nước Miến, thiếu niên anh dũng chả kém Hoàng Chí Phong khu Hồng. Bên ngoài nhóm Hoàng Kỳ nghe nói cũng tinh thông, thao lược, uyên thâm. Hỏi chuyện nước Vệ phải hỏi những người như thế mới rõ. Còn hỏi chuyện ăn chơi, đàng điếm, hút xách, hoang đàn thì mỗ có thể kể ngọn ngành các ngón.

Nhân sĩ điềm nhiên nói.

- Kẻ sĩ  đã từng gặp nhiều, hỏi qua gần hết. Giờ tiện đây muốn hỏi kẻ lưu manh như ngươi. Nước Vệ sẽ thế nào.?

Mỗ đáp.

- Ngài hỏi nước Vệ sẽ thế nào, không hỏi nhà Sản ra sao. Phải chăng ý ngài muốn nói sau khi nhà Sản mất nước Vệ sẽ thế nào.?

Nhân sĩ mỉm cười gật đầu nhẹ.

Mỗ tiếp.

- Tôi thân phận hèn mọn, nghĩ không quá xa bãi nước tiểu của mình. Sợ lời nói nông cạn làm nản lòng kẻ sĩ, xin cho được nói chuyện khác.

Nhân sĩ nói.

- Nước Vệ sau thế nào.?

Mỗ thấy nhân sĩ kiên quyết, lòng muốn cáo từ, nhưng thấy khó, bèn nói bừa cho qua chuyện.

- Nước Vệ ngày trước đói khổ, gạo không có mà ăn, phải độn khoai sắn. Nhưng lúc ấy hàng xóm tối lửa, tắt đèn tương thân, tương ái với nhau. Đến khi nhà Sản hội ước với Tề ở Thành Đô nhận làm chư hầu. Người Vệ có dư dật hơn, nhưng đạo đức ngày càng xuống cấp. Con giết cha, vợ giết chồng, anh em lừa hại lẫn nhau, tớ phản chủ, thầy thông dâm với trò. ...như thế không có gì khiến nhà Sản phải sụp đổ cả, đừng nói chuyện nước Vệ ngày sau.?

Nhân sĩ ngừng tay quạt, nghiêm mặt hỏi.

- Nhà Sản cai trị, nước Vệ vô đạo. Trời không dung, đất không tha. Tại sao vô đạo mà không thể sụp đổ. ?

Mỗ đáp.

- Phàm vô đạo do u mê như Trụ Vương, Đường Minh Hoàng, Lê Long Đĩnh đều phải sụp đổ. Nhà Sản khiến thiên hạ vô đạo là do chủ trương chiến lược của họ. Cho nên nước càng vô đạo thì nhà Sản càng vững chắc. Đó là kế tiêu thổ đao đức của nhà Sản.

Nhân sĩ hoài nghi.

- Xưa nay chỉ nghe nói đốt kho tàng, thành quách, nhà cửa, chưa từng nghe tiêu thổ đạo đức bao giờ.?

Mỗ đáp.

- Người xưa chú trọng cái ăn, cho nên ngày xưa tiêu thổ cái ăn, chỗ ở. Ngày nay thế giới tiến bộ, cái ăn đã nhiều hơn xưa. Giả dụ có lật đổ được một triều đại, dù vườn không, nhà trống cũng chả phải là mỗi lo lớn cho kẻ đến sau. Nhà Sản được Tề chỉ cho bí kíp cai trị là tiêu thổ đạo đức người dân. Chuyện người dân tự tiện mở lòng tốt làm từ thiện phát gạo, cấp nước cho dân là chuyện nhỏ với đời, nhưng là chuyện lớn với nhà Sản. Bởi thế ta hay thấy người làm việc thiện không được tuỳ tiện mà phải trình qua quan phủ địa phương, phải biếu xén, nịnh bợ quan lại địa phương để làm từ thiện. Qua việc biêú xén, nịnh bợ tự nhiên tư cách cũng bị xói mòn đi. Còn không biêú xén hay nịnh bợ lập tức bị cản trở, tịch thu đồ từ thiện. Người làm từ thiện là người tốt, bị ép đến khi nào trở thành người không tốt mới được làm từ thiện. Như thế  còn ai dám làm người tốt.

 Nhân sĩ trầm ngâm nói.

- Chuyện rông dài, chưa thấy liên quan gì.

Mỗi kiên nhẫn đáp.

- Người tốt không có, bởi thế nghĩa quân nổi lên năm lần bảy lượt mà không có hưởng ứng. Tất không thành đại sự.

Nhân sĩ nói.

- Tức nước vỡ bờ, như các cuộc cách mạng khác, chỉ cần mồi lửa là bùng thiêu cháy hết bọn tham tàn.

Mỗ chắp tay không dám nhìn nhân sĩ, cúi đầu đáp.

- Dân nước Vệ vô đạo, nhà Sản triệt tiêu đạo đức là có ý tiêu thổ nhân cách con người.  Con người không có nhân cách thì không có lòng tự trọng, không có lòng tự trọng thì không biết phẫn uất. Đã không biết phẫn uất thì không thể nào làm cách mạng. Nhà Sản đã thành công huấn luyện tiêu thổ đạo đức con người nước Vệ, tức là cách phòng thủ hữu hiệu nhất để triệt tiêu mầm mống phản kháng của con người. Đội quân tiêu thổ đạo đức con người của nhà Sản tinh nhuệ, hùng hậu, tiền bạc dồi dào từ ban tư tưởng, tuyên giáo, ban tôn giáo tổng cục chính trị, bộ văn hoá, thông tin, giáo dục, tuyên truyền viên, dư luận viên...ngày đêm ra sức triệt tiêu ý chí của con người. Không những thành công khiến họ mất ý chí phản kháng mà còn khiến họ thành những kẻ vô đạo, thủ lợi riêng tư, chỉ mong mưu cầu lợi ích cho bản thân. 

Xưa nay những kẻ đại ác trong thiên hạ chỉ nghĩ đến tiêu thổ vật chất, còn tiêu thổ tính cách nhân phẩm con người thì chỉ có nhà Sản mới dám làm mà thôi. Chưa có cách nào phá được kế sách ấy thì đừng nói đến chuyện nhà Sản sụp đổ, huống chi là nói chuyện Nước Vệ sau này ra sao.

Nhân sĩ đứng lên, không buồn nghe nữa, ngài đi thẳng.

Mỗ đứng nhìn theo, khi ngài khuất xa sau hàng cây. Ngẩng nhìn trời phía Nam thấy sao các tướng, quan lại nhà Sản vẫn sáng rõ, chỉ có đám dân đen là mờ mịt như muốn rụng.


Tỉnh dậy mới biết là mình mơ, bỗng tự trách mình mang bụng tiểu nhân mà luận chuyện nước nhà.

Thứ Ba, ngày 11 tháng 8 năm 2015

Bùi Thanh Hiếu - Lòng tham đến tình thương.


Một vụ trộm tiền được miêu tả trong sách, bối cảnh vụ trộm diễn ra trong thời thực dân Pháp có mặt ở Việt Nam. Người có tiền cẩn thận đặt bọc tiền dưới một cái nồi, anh ta ngồi lên trên và chắc mẩm không kẻ nào lấy trộm được tiền của anh ta.

Nhưng những tên kẻ trộm láu cá, chúng đánh vào lòng tham của anh ta. Một tên trộm đi trước giả vờ đánh rơi ít tiền lẻ. Người có tiền nhổm dậy với tay nhăt, lại một tờ tiền nữa rơi ra xa hơn, khiến anh bước thêm bước nữa để nhặt. Chỉ cần thế, tên trộm đồng bọn phục đằng sau anh ta nhấc cái nồi lên và lấy mất bọc tiền.

 Đến thập kỷ 80 của thế kỷ trước, thời kỳ bao cấp ở Việt Nam. Những tên trộm Việt Nam thường sử dụng việc giả vờ một tên đánh rơi nhẫn vàng, dây chuyện vàng. Một tên nhặt được, cố ý cho nạn nhân trông thấy, một tên khác giả vờ người đi đường chứng kiến nhảy đến đòi chia, kéo cả nạn nhân vào cuộc với vai trò người làm chứng. Vòng vèo thì trị giá dây chuyền được ước lượng để chia chác. Giá của nó sẽ khoảng gấp hai lần chiếc xe đạp mà nạn nhân đang đi. Sau hồi dẫn dụ nạn nhân mê hoặc với lòng tham bỗng dưng cũng được chia phần. Hai tên trộm sẽ đổi cái dây chuyền lấy cái xe đạp của nạn nhân. Đường ai nấy đi, nạn nhân ra về mang vàng ra thử mới biết là vàng giả. 

Màn kịch dây chuyền diễn đi diễn lại nhiều, được dân chúng kể lại cảnh báo với nhau nhiều, nhưng vì lòng tham mù quáng mà nhiều người vẫn mắc bẫy. Đến từ những năm 90 trở đi thì trò lừa đảo này kết thúc vì nó quá cũ.

Trên đây  là những điển hình các vụ trộm cắp, lừa đảo đánh vào lòng tham của nạn nhân.

Sau này có vô vàn màn lừa đảo, trộm cắp đa dạng đánh vào mọi yếu tố tâm lý của nạn nhân. Các phương thức cực kỳ đa dạng và phức tạp như một trận đồ. 

Nhưng có một điều mà những tay trộm sừng sỏ huyền thoại của thời thực dân chiếm đóng hay thời bao cấp nếu còn đến ngày nay chắc phải lắc đầu bái phục. Đó là trộm cắp bằng thủ đoạn đánh vào sự nhân ái của con người.

Có lần tôi và một người đàn ông rất từng trải đứng ở sân ga Châu Âu, tôi hỏi anh ta đứng trông hành lý thế nào khỏi bị mất cắp. Anh ta trả lời anh sẽ chú ý, không lơ là. Tôi kể câu chuyện về tên trộm đánh rơi tiền thời Pháp thuộc ở Việt Nam. Anh ta cười và nói mình sẽ gọi người đánh rơi chứ không nhặt. Chúng tôi đều cười vang, anh ta là người tử tế, con người như anh ta sẽ chẳng bao giờ làm điều như vậy. Nhưng khi cười dứt, anh ta nhìn tôi hoài nghi. Chắc anh ta nghĩ tôi còn có điều gì nữa, vì ví dụ đánh rơi tiền của tôi chắc hẳn không dành cho anh ta. Tôi lấy ví dụ . Giả sử bây giờ có một người phụ nữ bế đứa bé đi qua anh, người phụ nữ trượt chân, ngã lăn quay cùng đứa bé, anh có nhao ra đỡ không.?

Anh ta tái mặt rồi gật đầu.

Tôi nói chẳng sự từng trải nào cho đủ. Anh ta lắc đầu và thú nhận, nếu bất chợt gặp tình huống ấy anh sẽ lao tới đỡ hai mẹ con người kia.  Tôi an ủi người đàn ông hơn mình gần 20 tuổi ấy rằng, không phải anh kém cỏi đâu, nếu là tôi thì cũng vậy. Nhưng may ở Châu Âu này điều đó chưa xảy ra. Những tên trộm cắp lừa đảo ở đây chỉ đáng hàng nhãi nhép so với bọn trộm cắp Việt Nam về thủ đoạn, đến bây giờ vài ba tên trộm vẫn dùng cách tì đè, chen lấn ở cửa tàu điện để móc túi. Một vài tên trộm ở Pari thì lừa tàu điện sắp đóng cửa giật điện thoại nhảy ra, hoặc vài tên khác thì thầm bán điện thoại đểu như ra vẻ vừa lấy được.

Người vì lòng tham mà bị lường gạt, họ giận mình, trách móc mình ngu dại, tham lam, họ sẽ dằn vặt mình để lần sau cảnh giác. Thậm chí họ còn phổ biến cho người khác cảnh giác.

Nhưng nếu họ bị lường gạt vì lòng tốt thì sao.? Chả lẽ dằn vặt mình vì mình làm điều tốt, chả lẽ nhắc nhở mình lần sau không làm điều tốt để khỏi bị lừa. Rồi đi phổ biến cho mọi người thân quen đừng làm điều tốt nếu không sẽ bị thiệt thân. Bạn nghĩ thế nào khi bạn dặn con bạn rằng, nếu con thấy một người già ngã. Trước tiên con phải cảnh giác nhìn quanh, nếu con xô vào đỡ thì sẽ có một số kẻ lu loa còn làm ngã cụ già, rồi có khi chính cụ già cũng bảo con làm ngã, sau đó họ bắt con bồi thường tiền. Hoặc khi con đỡ cụ già ấy dậy, chính cụ sẽ móc ví của con.

Nếu ở thủ đoạn của bọn trộm cắp đánh vào lòng tham, bạn sẽ còn cao giọng dạy bảo con mình phải từ bỏ thói xấu tham lam thì mới tránh được tai hoạ. Cái triết lý ấy có ở nước Việt này cả ngàn năm theo trào lưu của Phật Giáo, Khổng Tử. Nhưng khi mà thủ đoạn của bọn trộm cắp đánh vào tình thương, lòng nhân ái, trắc ẩn của con người. Dạy thế nào cho phải, dạy quay mặt đi, dạy đừng đưa người khác đi cấp cứu khi thấy họ tai nạn, đừng chỉ đường, đừng giúp đỡ ai.

 Vừa rồi trên báo chí xuất hiện hai clip những tên trộm xe giả vờ hỏi đường, những người tử tế đã trở thành nạn nhân bởi sự tận tình muốn giúp đỡ người khác. Hai clip ấy là điển hình cho thủ đoạn đánh vào lòng nhân ái, tính tốt của con người. Những tên lưu manh ngày nay đã vượt xa tiền bối ngày trước về khai thác tâm lý con người. Lợi dụng tâm lý nhân ái để bày ra thủ đoạn trục lợi là tận cùng của giới lưu manh. Trong xã hội Việt Nam ngày này, lưu manh đã đi đến cái tận cùng của sự táng tận như vậy. Đáng nói là thủ đoạn như thế càng ngày càng lan rộng. Hậu quả của nó sẽ là không ai dám động lòng trắc ẩn, muốn giúp đỡ người khác nữa.

Hôm qua tôi cũng xem ông chủ tịch tỉnh Sơn La nói rằng xây khu quảng trường, tượng đài Hồ Chí Minh hết 1400 tỷ đồng là để đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân Sơn La. http://thoidai.com.vn/Lanh-dao-Son-La-noi-xay-tuong-dai-1400-ty-la-dap-ung-tinh-cam-cua-dong-bao-15-16805.html


Đừng nói rằng chỉ có lưu manh mới lợi dùng lòng tốt, tình cảm của con người để trục lợi. Cũng đừng vội nhận định rằng sự táng tận lương tâm lợi dụng tình cảm, lòng tốt của con người để trục lợi là từ lưu manh mà ra.

Thứ Bảy, ngày 08 tháng 8 năm 2015

Rafael Zoehler - "Khi cha ra đi" - Những lá thư xúc động cha gửi con sau khi đã chết

Người cha chết ở tuổi 27, khi đứa con trai còn rất bé. Nhưng không ngờ, những lá thư ông gửi cậu bé ngay cả sau khi ông đã chết, chính là những hướng dẫn cậu bé cần cho cả cuộc đời.


Đăng lúc 18:16 ngày 07/08/2015 Bởi Khải Đơn
Cái chết lúc nào cũng bất ngờ cả. Chẳng ai đón nó đúng lúc.  Ngay cả bệnh nhân nan y cũng không bao giờ nghĩ họ sắp chết trong vài ngày tới.  Có chết thì chắc cũng phải cả tuần chứ.  Nhưng ai dè được cái “tuần” ấy chính là tuần sau.
Chúng ta chưa bao giờ sẵn sàng. Chẳng thể nào biết chính xác thời điểm đó. Khi cái chết ập đến, ta thường chưa hoàn thành những gì mình muốn làm. Sự ra đi luôn đến bất ngờ, trong khoảnh khắc đầy nước mắt của người góa phụ, là cảm giác lơ ngơ của những đứa con chưa kịp biết tang lễ có ý nghĩa gì (Cảm ơn Chúa!).

Cha tôi cũng không là ngoại lệ. Trong thực tế, cái chết của ông còn bất ngờ hơn cả. Ông mất khi 27 tuổi. Cùng cái tuổi mà rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng qua đời. Cha còn trẻ. Rất trẻ. Cha tôi không phải một nhạc sĩ và cũng chẳng nổi tiếng. Bệnh ung thư không chọn nạn nhân. Cha mất khi tôi còn nhỏ, và đó là lúc tôi hiểu một đám tang nghĩa là gì. Lúc đó tôi 8 tuổi rưỡi, đủ lớn để nhớ ông suốt cuộc đời dài sau này. Nếu ông mất trước đó, có lẽ tôi chẳng có ký ức gì nhiều. Có lẽ tôi sẽ không cảm thấy đau đớn. Nhưng nếu thế tôi sẽ không có một người cha sẽ ở bên mình cả đời. Thật vậy, tôi đã có một người cha.
Tôi có một người cha vừa vững chãi, vừa hài hước. Người sẽ luôn nói một câu gì đó hài trước khi ôm tôi. Bằng cách đó, tôi sẽ cảm thấy không khó chịu lắm để ông ôm. Người sẽ luôn hôn vào trán tôi khi tôi đi ngủ. Một thói quen mà sau này tôi đã làm y hệt với những đứa con của mình. Cha bắt tôi phải cổ vũ cho đội bóng mà ông ủng hộ, và cha cũng giỏi giải thích mọi thứ rõ ràng hơn mẹ. Bạn có hiểu ý tôi nói không? – Một người cha như vậy mình không thể nào quên được.  
Cha chưa bao giờ nói ông sẽ chết. Ngay cả khi ông đang nằm trong bệnh viện với dây nhợ quanh mình, cha cũng không nói đến chuyện đó. Cha đã lên kế hoạch cho năm tới dù thậm chí ông biết ông sẽ không sống qua tháng sau. Năm tới, chúng ta sẽ đi câu cá, sẽ du lịch, nhà mình sẽ đến thăm những nơi mình chưa từng đến. Năm tới sẽ là một năm tuyệt vời. Tôi và cha ở trong cùng một giấc mơ.
Tôi tin rằng – thực ra, tôi chắc chắn rằng – ông nghĩ cách này sẽ đem lại may mắn. Ông là người hơi mê tín. Nghĩ về tương lai là cách mà cha giữ lại hi vọng cho chính mình. Ông già đã làm tôi cười với ông đến tận những ngày cuối cùng. Ông biết. Ông không nói thật với tôi. Ông không thấy tôi khóc.
Thình lình, cái năm tới ấy đã kết thúc trước khi nó kịp bắt đầu.
Mẹ đón tôi ở trường, đưa tôi đến bệnh viện. Bác sĩ báo tin với cơn xúc động dường như đã chai sạn qua nhiều năm làm việc. Mẹ tôi khóc. Dường như trước đó mẹ đã có chút hy vọng. Như tôi đã nói, mọi người đều hi vọng. Tôi thấy mình sụp đổ. Thông báo này có nghĩa là gì? – Đây không phải một bệnh thông thường, thứ bệnh mà bác sĩ tiêm một mũi là khỏi sao? Con ghét cha, cha ạ. Con cảm thấy bị phản bội. Con đã gào lên tức giận trong bệnh viện, cho đến khi con nhận ra cha không còn đó để ôm con nữa. Con đã khóc.
Sau đó, cha tôi lại một lần nữa trở lại làm người cha của tôi. Cô y tá đến và an ủi tôi, cầm theo một hộp đựng giày. Cái hộp đầy những phong bì dán kín, với những câu viết trên dòng địa chỉ. Tôi không hiểu chính xác đó là gì. Cô y tá đưa cho tôi một lá thư. Lá thư duy nhất nằm ngoài hộp.
“Cha con nhờ cô đưa cho con bức thư này. Ông đã dành thời gian suốt cả tuần để viết, và ông muốn con đọc nó. Hãy mạnh mẽ lên.” – Cô y tá nói, và ôm tôi.
Ngoài phong bì đề chữ KHI CHA RA ĐI. Tôi mở lá thư ra.

Cha khiến tôi ngưng khóc ngay với mấy dòng viết tay nguệch ngoạc. Thời đó in ấn chưa dễ dàng lắm. Cha viết chữ xấu, nhưng tôi cũng đọc được, và cảm thấy bình tĩnh lại. Lá thư làm tôi mỉm cười. Cha luôn làm mọi việc như vậy. Như một câu đùa trước khi ôm lấy tôi.
Chiếc hộp trở thành báu vật quan trọng nhất trên đời của tôi. Tôi dặn mẹ không được mở nó ra. Cha viết thư này cho tôi, nên không ai được phép đọc chúng. Tôi đinh ninh tất cả những thời khắc trong đời ghi trên phong bì sẽ xảy ra cho mình. Nhưng cần phải có thời gian mới đến từng chuyện một. Và tôi quên mất mớ thư.
Bảy năm sau, mẹ con tôi dọn về nhà mới, tôi không nhớ đã cất cái hộp ở đâu. Tôi quên mất rồi. Khi chúng ta không nhớ điều gì đó, nghĩa là ta không còn quan tâm đến nó nữa rồi. Nhưng nếu điều gì đó mất đi trong trí nhớ của mình, không có nghĩa là mình mất nó. Điều đó chỉ đơn giản là không còn tồn tại nữa. Cứ như tiền lẻ bạn để quên trong túi quần vậy.
Chuyện đó đã xảy ra. Những năm tuổi dậy thì của tôi và bạn trai mới của mẹ kích thích khiến tôi nhớ lại những gì cha đã dự đoán nhiều năm trước. Mẹ có nhiều bạn trai, và tôi luôn hiểu cho mẹ. Mẹ không bao giờ kết hôn. Tôi không biết tại sao, nhưng tôi thích tin rằng cha tôi chính là tình yêu của đời bà. Nhưng gã bạn trai này của mẹ thì khác. Lão hoàn toàn vô dụng. Tôi nghĩ bà đã tự hạ mình khi yêu lão. Ông ta chẳng hề tôn trọng mẹ. Mẹ xứng đáng với một ai đó tốt đẹp hơn là một gã vớ vẩn gặp trong quán rượu.  
Tôi vẫn còn nhớ mẹ đã tát tôi sau khi tôi phát âm từ “quán bar”. Quả thật, tôi xứng đáng ăn cú tát ấy. Tôi đã hiểu thêm nhiều điều theo thời gian. Lúc đó, khi da mặt tôi rát bỏng vì cú tát, tôi nhớ đến cái hộp và thư. Tôi nhớ có một lá thư, đề rất rõ “KHI CON CÓ MỘT TRẬN CÃI NHAU TỆ NHẤT VỚI MẸ”
Tôi đã lục tung phòng ngủ để tìm cái hộp, khiến mẹ tát tôi thêm một cái nữa. Tôi tìm thấy cái hộp bên trong một chiếc va-li nằm trên đỉnh tủ quần áo. Một cõi khác. Tôi nhìn qua những lá thư, và nhận ra tôi đã quên không mở lá thư đề “KHI CON HÔN LẦN ĐẦU TIÊN”. Tôi tự ghét mình vì đã quên, nên tôi quyết định mở lá thư đó ra. Lá thư  “KHI CON MẤT ZIN” xuất hiện ngay sau đó, hi vọng là tôi có thể mở cái thư này sớm. Cuối cùng, tôi cũng tìm được lá thư kia.

Cha tôi không phải một người viết giỏi, ông chỉ là một kế toán ngân hàng. Nhưng từng từ ông viết có tác động rất lớn đến tôi. Đó là những từ ngữ khôn ngoan hơn cả 15 năm tuổi đời của tôi cộng lại. (Thực ra cũng không khó để làm được vậy!)
Tôi chạy đến phòng mẹ, và mở cửa phòng. Tôi khóc khi mẹ quay đầu lại nhìn tôi. Bà cũng đang khóc. Tôi không nhớ mẹ đã hét lên câu gì vào mặt tôi, đại loại ý “Giờ con muốn gì?” – Và tôi nhớ mình đã đi lại gần bà, tay cầm lá thư cha viết. Tôi ôm bà bằng hai cánh tay của mình. Tay tôi vò nhàu nát tờ giấy. Mẹ ôm tôi. Mẹ con tôi đứng đó trong im lặng.
Lá thư của cha đã làm mẹ cười chỉ sau đó vài phút. Mẹ con tôi làm hòa và nói một chút về cha. Mẹ kể về một vài sở thích kỳ dị của cha, như ăn xúc xích Ý với dâu tây. Tự dưng, tôi cảm thấy ông đang ngồi cạnh mẹ con tôi. Tôi, mẹ và một phần của cha, một phần mà cha để lại cho chúng tôi, một mảnh giấy. Thật dễ chịu.
Chẳng lâu sau, tôi đã đọc đến bức thư “KHI CON MẤT ZIN” 

Cha đã theo tôi suốt cuộc đời. Cha luôn ở bên tôi, ngay cả khi ông không còn gần tôi nữa. Những từ ông nói đã làm được điều không ai có thể làm, đó là tiếp thêm sức mạnh cho tôi vượt qua vô số khoảnh khắc gay cấn trong đời. Ông luôn tìm ra cách để đặt một nụ cười lên môi tôi khi mọi thứ trở nên tối tăm, hoặc giúp tâm trí tôi thông suốt mỗi khi giận dữ.
Lá thư KHI CON KẾT HÔN khiến tôi xúc động. Nhưng không xúc động bằng lá thư KHI CON TRỞ THÀNH MỘT NGƯỜI CHA.

Lá thư đau đớn nhất tôi đọc trong suốt cuộc đời  lại là lá thư ngắn nhất cha viết. Khi ông viết 4 từ đó, hẳn ông đã đau đớn hệt như tôi. Phải mất một thời gian chần chừ, nhưng cuối cùng tôi cũng mở lá thư KHI MẸ CON MẤT ra.

Một câu đùa. Một anh hề buồn lúc nào cũng giấu nỗi buồn của mình sau nụ cười nở trên lớp trang điểm. Đó là lá thư duy nhất khiến tôi không cười, nhưng tôi hiểu lý do.
Tôi đã luôn giữ lời với thỏa thuận giữa hai cha con. Tôi không bao giờ đọc lá thư nào trước khi thời điểm đến. Chỉ có một lá thư ngoại lệ KHI CON NHẬN RA CON LÀ GAY. Vì tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ mở lá thư này, nên tôi quyết định đọc luôn cho xong. Đó là một trong những lá thư hài hước nhất.

Tôi luôn chờ đến khoảnh khắc để mình được đọc lá thư kế tiếp, kế tiếp. Bài học nào cha sẽ dạy tôi sau đấy. Thật tuyệt vời khi một người đàn ông 27 tuổi có thể dạy một đứa to đầu 85 tuổi như tôi.
Giờ tôi đang nằm trong bệnh viện, với dây nhợ trên mũi và cổ cũng vì căn bệnh ung thư chết tiệt. Tôi di những ngón tay lần tìm tờ giấy bạc màu của lá thư duy nhất tôi chưa mở ra. Ngoài thư đề “KHI THỜI KHẮC CỦA CON ĐẾN”, nét chữ dù phai đi, vẫn còn có thể nhìn rõ.
Tôi không muốn mở lá thư. Tôi sợ. Tôi không muốn tin rằng thời khắc của tôi sắp đến. Bạn biết không, tất cả là tại hi vọng. Chẳng ai tin rằng mình sắp chết cả.
Tôi thở sâu, mở lá thư ra.

Rafael Zoehler  

(Dịch từ Medium.com)