Thứ Sáu, ngày 27 tháng 5 năm 2016

GIÁO SƯ NGUYỄN MINH THUYẾT - Câu Kiều tặng Tổng thống Obama

LTS: Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Obama và bài phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong dư luận truyền thông quốc tế cũng như trong lòng người dân Việt Nam.
Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Đại biểu Quốc hội gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài phân tích của ông về sự kiện này, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của Giáo sư đến quý bạn đọc. Văn phong và nội dung bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

Tổng thống Mỹ Barack Obama thăm chính thức Việt Nam và có bài phát biểu đầy cảm hứng tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình hôm 24/5. Bài phát biểu trước trí thức, sinh viên và đại diện nhiều giới khác nhau hôm đó đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện ngoại giao thường thấy, trở thành một hiện tượng xã hội.
Người dân Việt Nam từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh dõi theo từng cử chỉ, lời nói, hành động của ông Obama với một tình cảm nồng nhiệt, yêu mến, khâm phục và kính trọng. Đặc biệt là trên truyền thông và mạng xã hội tuần qua, có thể nói Tổng thống Obama đã trở thành tâm điểm, hiện tượng mà dư luận quan tâm.
Cá nhân người viết cho rằng, làm nên hiện tượng Obama không phải kỹ xảo, thủ thuật chính trị hay cách đánh bóng hình ảnh quá chuyên nghiệp của chính khách nước ngoài, mà chính là sự lịch duyệt, thân thiện và chân thành sẵn có trong tố chất của con người ông, trong thói quen hằng ngày của ông.
Sự chân thành làm nên sức hấp dẫn của "hiện tượng" Obama
Yếu tố đầu tiên và quan trọng hơn cả làm nên sức hút của ông Obama chính là sự chân thành của ông đối với Việt Nam. Trước ông Obama, chưa có vị Tổng thống, Ngoại trưởng hay quan chức cấp cao nào của Hoa Kỳ đến thăm nhà sàn, ao cá Bác Hồ.
Việc ông Obama chọn địa điểm này để gặp gỡ Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã cho thấy, nhà lãnh đạo Hoa Kỳ thực sự chân thành muốn hòa giải và hợp tác.
Bởi lẽ Chủ tịch Hồ Chí Mình là một lãnh tụ cộng sản và là biểu tượng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, hai cuộc kháng chiến trường kỳ trong lịch sử hiện đại Việt Nam.
Năm trước, trong khi tại Hoa Kỳ vẫn còn những nhận thức và tranh cãi khác nhau về ý thức hệ, Tổng thống Obama đã quyết định mời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Phòng Bầu dục, Nhà Trắng với vị thế quốc khách, nguyên thủ quốc gia.
Và lần này, đến thăm Việt Nam, ông đã đến nhà sàn, ao cá Bác Hồ. Cá nhân tôi cho rằng phải là một chính khách bản lĩnh, thông minh và chân thành, thiện chí mới làm được điều đó.
Sự chân thành của Tổng thống Obama đã "chạm đến trái tim" của mọi người Việt Nam khi ông nhắc tên vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt và đọc hai câu thơ thần trong bải "Nam Quốc sơn hà" – bài thơ được coi như bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam. 
Thật thú vị và ý nghĩa, cách đây 71 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ khi viết Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
71 năm sau, cũng chính tại Thủ đô Hà Nội, nguyên thủ của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ lại nhắc đến bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của Việt Nam.
Điều đó cho thấy, quyền sống, quyền tự quyết của mỗi dân tộc là tư tưởng chung, là lẽ sống, là lựa chọn chung của hai dân tộc Việt Nam và Hoa Kỳ. Điều này càng được khẳng định trong bài phát biểu của ông Obama với tuyên bố: 
"Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền và không có quốc gia nào khác có thể áp đặt ý chí của họ lên người dân Việt Nam. Độc lập, chủ quyền của Việt Nam do người dân Việt Nam quyết định. Mỹ rất quan tâm đến sự thành công của đất nước Việt Nam."

Quan trọng hơn nữa là sự chân thành ấy không chỉ dừng ở những lời nói đi vào lòng người, mà còn là hành động rất thiết thực:
Tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam tăng cường năng lực tuần tra hàng hải trên Biển Đông, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam và hàng hóa Việt Nam vào thị trường Mỹ để tránh lệ thuộc vào một "quốc gia duy nhất nào đó"…
Trong số những hành động thể hiện sự chân thành ấy, có thể nói quyết định dỡ bỏ cấm vận vũ khí là món quà cực lớn của ông Obama dành cho Việt Nam.
Sở dĩ người viết nhận định như vậy là vì, những năm trước đây các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ bao giờ cũng đòi có đi có lại nếu Việt Nam muốn dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm này, đặc biệt là có đi có lại trong vấn đề nhiều người quan tâm và được cho là khá nhạy cảm - nhân quyền. 
Nhưng ông Obama không đặt ra bất cứ điều kiện gì cho việc dỡ bỏ lệnh cấm, ít nhất về mặt công khai. Cá nhân tôi cho rằng, sự chân thành này thể hiện cách tiếp cận rất mới của cá nhân ngài Tổng thống Obama, đúng như khẩu hiệu của ông lúc tranh cử: “Change we need” (Chúng ta cần thay đổi).
Bởi lẽ Việt Nam có mua những vũ khí hiện đại như máy bay, tên lửa, tàu ngầm thì cũng để phòng thủ, bảo vệ đất nước chứ không phải để chống lại nhân dân.
Việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam không ảnh hưởng gì đến quan hệ giữa nhà nước với nhân dân. Ghép hai vấn đề này vào với nhau thật khiên cưỡng và chẳng giúp ích gì cho quan hệ hai nước.
Tổng thống Obama là một người lịch duyệt, thân thiện
Yếu tố thứ hai làm nên sự lôi cuốn của "hiện tượng Obama" chính là sự lịch duyệt và thân thiện. Riêng với cá nhân người viết, ấn tượng đặc biệt về sự lịch lãm trong con người Tổng thống Obama nằm ngay ở một chi tiết rất nhỏ. 
Đó là khi ông cùng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm áo cá Bác Hồ và cho đàn cá ăn. Lúc được mời đi tiếp, ông Obama đã cười rất tươi và vẫy tay chào đàn cá. Cử chỉ đó tuy rất nhỏ nhưng rất tinh tế, thể hiện tầm vóc văn hóa của ông Obama. Ông là một người thật lịch lãm.
Sự lịch lãm ấy của ông Obama còn thể hiện rất rõ trong cách tiếp cận khéo léo với những vấn đề nhạy cảm, như Chiến tranh Việt Nam hay nhân quyền.  Nói về chiến tranh ông đã rất chân thành và khéo léo không để mất lòng ai, mượn lịch sử để đặt vấn đề cho tương lai.
Có 2 điểm nổi bật nhất trong cách tiếp cận những chương buồn trong lịch sử quan hệ Việt - Mỹ của ông Obama: Một là ông chỉ ra, có rất nhiều cách giải quyết vấn đề chứ không phải chỉ có chiến tranh.
Hòa bình luôn tốt đẹp hơn chiến tranh và quan hệ Việt - Mỹ là bài học cho thế giới. Tôi cho rằng, việc Tổng thống Mỹ đúc rút ra được điều này từ quan hệ Việt - Mỹ là cực kỳ sâu sắc và tinh tế.
Điểm nổi bật thứ hai khi nói về chiến tranh, ông Obama đã hướng tới tương lai bằng cách không quên quá khứ: Mỗi khi hai nước có khúc mắc nào đó, hãy nghĩ đến những người đã ngã xuống trong chiến tranh để tìm cách xử lý hòa bình, bởi vì nền hòa bình này đã phải đánh đổi bằng xương máu của cả hai bên. Đây là một gợi mở, một cách ứng xử nhân văn sâu sắc.
Về các giá trị dân chủ hay nhân quyền mà dư luận vẫn xem là vấn đề nhạy cảm trong quan hệ Việt - Mỹ, ông Obama tiếp cận rất khiêm tốn, thông minh, khách quan và cầu thị.
Lâu nay, dư luận vẫn có những người ấn tượng rằng, Mỹ là nước lớn thường lấy nhân quyền để gây sức ép trong quan hệ với các nước khác.
Nhưng khi thăm Việt Nam, ông Obama tiếp cận rất khéo, không lên lớp, không áp đặt. Ông nói rất lịch sự khi cho biết, chính phủ Mỹ luôn bị người dân phê bình, nhưng chính nhờ phê bình mà nhận ra sai sót. Đó là tinh thần Hiến pháp Mỹ  - người dân có quyền bộc lộ bất bình, đòi chính phủ điều chỉnh chính sách. 
Nói cho cùng chân lý của Hoa Kỳ hay Việt Nam cũng chỉ là một. Bởi lẽ cách đây mấy chục năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần: Ở đất nước ta nhân dân làm chủ, chính phủ là đầy tớ của dân, dân có quyền đôn đốc chính phủ, chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ.
Nói cho đúng là Cụ Hồ phát biểu còn mạnh hơn ông Obama rất nhiều, nhưng cả hai người đều khẳng định chân lý lấy dân làm gốc.
Sự trùng hợp giữa hai ý kiến khiến chúng ta phải suy nghĩ. Tại sao Mỹ và các nước phương Tây phát triển mạnh mẽ? Đó là vì tự do, dân chủ được đề cao và có cơ chế thực thi hiệu quả. Ở đâu cũng vậy, càng có tự do dân chủ thì càng có sáng tạo, càng ngăn ngừa và hạn chế được lạm quyền, tham nhũng, càng kịp thời ngăn chặn và sửa chữa những sai sót của người cầm quyền. 
Thiết nghĩ đó cũng là lý do tại sao Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ Việt Nam khóa mới nhấn mạnh chiến lược xây dựng một Chính phủ kiến tạo và phục vụ, thay vì chỉ đóng vai trò là một cơ quan quản lý nhà nước.
Với sự thân thiện bộc lộ rất rõ qua từng nụ cười, ánh mắt, cử chỉ khi giao tiếp với các nhà lãnh đạo cũng như người dân Việt Nam, Tổng thống Hoa Kỳ đã chiếm trọn tình cảm của người Việt và tình cảm của người Việt đã in sâu trong trái tim ông chủ Nhà Trắng. 
Sự thân thiện của ông Obama không chỉ thể hiện ở những nụ cười tươi thường trực trên môi, những cái bắt tay thân thiện, chọn ăn tối ở quán bún chả bình dân hay dừng lại cổng làng Mễ Trì mua cốm, trú mưa và trò chuyện ít phút với người dân.
Dù rằng tất cả những hoạt động này đã có kịch bản từ trước, đồng thời nằm trong một chương trình truyền hình thực tế mà ông Obama tham gia, nhưng cái bắt tay nồng ấm, nụ cười thân thiện của vị Tổng thống này hoàn toàn không phải "diễn", không phải tự nhiên mà có.
Nó là một thói quen thường trực.
Obama rất hiểu nền văn hóa, tập quán văn hóa của Việt Nam. Ba lần các nhà lãnh đạo cao nhất của Hoa Kỳ "lẩy" Kiều, lần nào và câu nào cũng hay, cũng trúng, cũng giàu cảm xúc và ý nghĩa.
Nhưng người viết tâm đắc và đánh giá cao nhất là câu Kiều mà Tổng thống Obama đã chọn, nhất là việc lấy đó làm câu kết bài phát biểu quá hợp cảnh hợp tình, khó có thể có câu nào trong truyện Kiều hợp hơn câu Kiều ấy:
"Rằng: Trăm năm cũng từ đây,
Của tin gọi một chút này làm ghi".
Trước tấm chân tình đối với Việt Nam, sự lịch duyệt và thân thiện cũng như tầm vóc mà Tổng thống Obama đã thể hiện, tôi xin gửi tặng ngài Tổng thống một câu Kiều nói lên ấn tượng sâu sắc của tôi cũng như rất nhiều người dân Việt Nam về ông:
"Thiên tư, tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa".


Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết

Thứ Tư, ngày 25 tháng 5 năm 2016

Khắc Bình Nguyễn' s facebook : Viết cho những người Việt dám yêu thương...

Link : https://www.facebook.com/khacbinh.nghean?pnref=story  

Hà Nội mưa, buồn, suy tư. Nghĩ về chuyện ông tây vừa ghé chơi, thấy tủi thân lẫn buồn thương cho dân chúng Việt Nam mình.
Ngày mai thôi, khi con chim sắt đưa ông ta rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, tất cả những giây phút náo nhiệt hôm nay bổng trở thành hoài niệm. Đám đông kia bị bỏ rơi và rồi sẽ trở về với thực tại, với vòng quay cướp bóc quen thuộc.
Con chim sắt kia bay đi, mang theo cả những lợi ích của nước Mỹ. Chân lý luôn thuộc về kẻ mạnh và giờ đây nó cũng lu mờ bởi những đồng đô la béo bở. Lợi ích quốc gia của họ là tối thượng. Còn chúng ta, điều gì khiến ta say mê cuồng nhiệt, để rồi sau tất cả, chúng ta lại trở thành những kẻ vô cảm, hẹp hòi, ích kỷ và man rợ. Chúng ta lại lo âu mỗi khi ngoại bang xâm lấn. Chúng ta lại cúi đầu mỗi khi xuất ngoại đến năm châu?
Ai dám chắc rằng trong đám đông nhào ra đường chào đón tên tổng thống tư bản kia không phải đa phần là fan cuồng của đảng? Ai dám bảo đám đông kia ngày mai và sau này không nguyền rủa những người dấn thân cho nền dân chủ nước nhà là phản động? Ai chắc rằng được 5% trong số đó hiểu được giá trị của tự do và họ dám công khai đòi hỏi tự do, dân chủ.
Đến những người mang danh là đại diện cho các nhóm XHDS như Hoàng Oanh, Phan Mai Lợi, Mai Khôi, Lê Quang Bình... mang tiếng là có học thức và nhận thức mà còn chả thèm hoặc dám đả động một từ nào đến cái gọi là "chính trị" nữa là. Như bà Hoàng Oanh trả lời BBC rằng, mỗi đại diện đều nêu lên những đòi hỏi trong lĩnh vực của mình. Như vậy, chính trị mà thực ra là tự do, dân chủ là cái gì đó rất xa vời, mà cũng chẳng quan trọng gì với người dân Việt Nam. Chỉ cần một thứ thôi, lợi ích của họ, của tổ chức họ được đảm bảo.
Những đêm cô đơn bao giờ cũng để lại trong tôi nhiều xúc cảm. Những ý nghĩ mông lung, từ thuở tiền nhân khuơ chiêng mở đất đến những giây phút thực tại đầy bi ai, Lịch sử chúng ta dày cả nghìn năm. Nghìn năm bao biến cố, cả đau thương lẫn ngọt ngào. Nhưng tại sao chúng ta can tâm để thua nước Mỹ, vỏn vẹn vài trăm năm?
Lịch sử Việt Nam biết bao lần sang trang, nhưng rồi chúng ta vẫn mãi mãi là kẻ yếu. Thành bại của những triều đại phong kiến kéo theo sinh mệnh của cả dân tộc. Nước Việt đời nào cũng có anh hùng hào kiệt, nhưng sức mạnh cá nhân không thể nào siêu nhiên như thần thánh. Quan hệ xã hội thời phong kiến lỏng lẽo đòi hỏi cần có một thủ lĩnh đủ mạnh để thị uy phần còn lại. Rõ ràng khi loài người tiến lên nấc thang mới, xã hội ràng buộc nhau thông qua những khế ước mà người ta thường gọi là luật pháp. Khi đó tự thân những cá nhân trong xã hội chọn ra thủ lĩnh bằng cách thực thi khế ước. Obama hôm nay có thể vĩ đại, quyền lực với người dân Mỹ, nhưng chỉ một năm sau thôi, ông ta sẽ trở thành một chuyên gia hay chủ 1 tiệm bánh mì như bao người bình thường khác. Như vậy, không phải Obama vĩ đại mà chính là những người dân Mỹ vĩ đại. Bởi họ tuân thủ và thực thi tuyệt đối khế ước của họ.
Nhiều lúc tôi tự hỏi rằng, điều gì khiến nước Mỹ giàu mạnh. Và tôi chắc rằng vì khế ước thứ nhất của nền dân chủ Mỹ đã giữ nguyên hàng thế kỷ.
Đời này qua đời khác, người này đến rồi đi khỏi Nhà Trắng nhưng Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1776 vẫn còn đó như một chân lý vĩnh cửu. Các đời tổng thống Mỹ luôn dùng quyền lưc mềm và kiểu đối ngoại khôn ngoan, mềm dẻo. Duy chỉ có một thứ cứng nhắc đến mức bảo thủ đó là sự tuân thủ Hiến pháp thứ Nhất. Đến nổi, hàng loạt vụ nổ súng xảy ra, Obama bật khóc trước Quốc hội nhưng vẫn không tài nào thay đổi được đạo luật cho phép sử dụng súng ống dân sự. Bởi lẽ người Mỹ quan niệm rằng, công dân có quyền tự vệ trước vũ trang nhà nước cũng như kẻ yếu có quyền tự vệ trước kẻ mạnh.
Hàng trăm năm, quân đội Mỹ mang súng ống đi khắp Thế giới với danh nghĩa hoặc sự thật là bảo vệ tự do, dân chủ. Họ mang về các quan hệ đồng minh hoặc là tiền bạc. Điều đáng ngạc nhiên là sau tất cả những hoài nghi đó, dòng chất xám cứ thi nhau chảy về Mỹ. Và cũng từ Hiến pháp thứ nhất đó người ta chọn nên người giỏi nhất làm tổng thống.
Nước Mỹ là một Hợp chủng quốc, tức quốc gia của nhiều chủng người trên khắp thế giới. Tuy có những bất đồng nhất định nhưng họ là một quốc gia đoàn kết. Điều đó có lẽ xuất phát từ những giá trị Mỹ được thực thi một cách nghiêm túc, hơn nữa nó đến từ nền giáo dục thực dụng và nhân bản.
Nhiều lúc nằm suy nghĩ về xã hội Việt Nam, tôi chợt rùng mình sợ hãi. Không phải là sợ hãi trước kẻ mạnh, trước cái ác mà là trước sự cô đơn của những người tốt. Hàng ngàn năm qua, người Việt luôn đoàn kết, yêu thương khi bị dồn đến đường cùng. Còn khi thảnh thơi, họ bắt đầu quay sang đố kỵ hoặc độc tài. Những kẻ có cơ đồ, quyền bính không chịu buông bỏ lợi ích cá nhân để làm điều hiệp nghĩa. Những kẻ yếu thế thì tìm cách luồn lách để dẫm lên vai những kẻ yếu hơn mình để mà tồn tại. Họ thiếu lòng tin hoặc là hèn mọn không dám đoàn kết để làm nên những khế ước. Họ dẫm đạp lên nhau để chào đón một ngôi sao, một người nổi tiếng hay giành giật ổ bánh mì miễn phí mà không biết cách nắm chặt tay nhau để tạo nên thay đổi. Nói đúng hơn họ giống những mảnh đời thừa mà tạo hoá đã lầm lỡ tạo ra.
Ngoài kia trời vẫn mưa, ngày mai con chim sắt kia sẽ bay đi cũng những xạ thủ, trong ngục tù kia, những người thực tâm hi sinh cho nền dân chủ Việt Nam vẫn đang chịu đoạ đày. Người ta hoan hỉ, tiếc nuối, luyến lưu nhưng chắc gì có ai hổ thẹn? Người Việt Nam không thiếu nhân tài nhưng đời nào cũng thiếu đi những nhân dân vĩ đại.
Hà Nội đêm mưa, viết cho những người Việt dám yêu thương...

Thứ Ba, ngày 24 tháng 5 năm 2016

Remarks by President Obama in Address to the People of Vietnam


The White House 
Office of the Press Secretary
For Immediate Release               May 24, 2016 
National Convention Center 
Hanoi, Vietnam
12:11 P.M. ICT
PRESIDENT OBAMA: Xin chào! (Applause.) Xin chào Vietnam! (Applause.) Thank you. Thank you so much. To the government and the people of Vietnam, thank you for this very warm welcome and the hospitality that you have shown to me on this visit. And thank all of you for being here today. (Applause.) We have Vietnamese from across this great country, including so many young people who represent the dynamism, and the talent and the hope of Vietnam.
On this visit, my heart has been touched by the kindness for which the Vietnamese people are known. In the many people who have been lining the streets, smiling and waving, I feel the friendship between our peoples. Last night, I visited the Old Quarter here in Hanoi and enjoyed some outstanding Vietnamese food. I tried some Bún Chả. (Applause.) Drank some bia Ha Noi. But I have to say, the busy streets of this city, I’ve never seen so many motorbikes in my life. (Laughter.) So I haven’t had to try to cross the street so far, but maybe when I come back and visit you can tell me how.
I am not the first American President to come to Vietnam in recent times. But I am the first, like so many of you, who came of age after the war between our countries. When the last U.S. forces left Vietnam, I was just 13 years old. So my first exposure to Vietnam and the Vietnamese people came when I was growing up in Hawaii, with its proud Vietnamese American community there.
At the same time, many people in this country are much younger than me. Like my two daughters, many of you have lived your whole lives knowing only one thing -- and that is peace and normalized relations between Vietnam and the United States. So I come here mindful of the past, mindful of our difficult history, but focused on the future -- the prosperity, security and human dignity that we can advance together.
I also come here with a deep respect for Vietnam’s ancient heritage. For millennia, farmers have tended these lands -- a history revealed in the Dong Son drums. At this bend in the river, Hanoi has endured for more than a thousand years. The world came to treasure Vietnamese silks and paintings, and a great Temple of Literature stands as a testament to your pursuit of knowledge. And yet, over the centuries, your fate was too often dictated by others. Your beloved land was not always your own. But like bamboo, the unbroken spirit of the Vietnamese people was captured by Ly Thuong Kiet -- “the Southern emperor rules the Southern land. Our destiny is writ in Heaven’s Book.”
Today, we also remember the longer history between Vietnamese and Americans that is too often overlooked. More than 200 years ago, when our Founding Father, Thomas Jefferson, sought rice for his farm, he looked to the rice of Vietnam, which he said had “the reputation of being whitest to the eye, best flavored to the taste, and most productive.” Soon after, American trade ships arrived in your ports seeking commerce.
During the Second World War, Americans came here to support your struggle against occupation. When American pilots were shot down, the Vietnamese people helped rescue them. And on the day that Vietnam declared its independence, crowds took to the streets of this city, and Ho Chi Minh evoked the American Declaration of Independence. He said, “All people are created equal. The Creator has endowed them with inviolable rights. Among these rights are the right to life, the right to liberty, and the right to the pursuit of happiness.”
In another time, the profession of these shared ideals and our common story of throwing off colonialism might have brought us closer together sooner. But instead, Cold War rivalries and fears of communism pulled us into conflict. Like other conflicts throughout human history, we learned once more a bitter truth -- that war, no matter what our intentions may be, brings suffering and tragedy.
At your war memorial not far from here, and with family altars across this country, you remember some 3 million Vietnamese, soldiers and civilians, on both sides, who lost their lives. At our memorial wall in Washington, we can touch the names of 58,315 Americans who gave their lives in the conflict. In both our countries, our veterans and families of the fallen still ache for the friends and loved ones that they lost. Just as we learned in America that, even if we disagree about a war, we must always honor those who serve and welcome them home with the respect they deserve, we can join together today, Vietnamese and Americans, and acknowledge the pain and the sacrifices on both sides.
More recently, over the past two decades, Vietnam has achieved enormous progress, and today the world can see the strides that you have made. With economic reforms and trade agreements, including with the United States, you have entered the global economy, selling your goods around the world. More foreign investment is coming in. And with one of the fastest-growing economies in Asia, Vietnam has moved up to become a middle-income nation.
We see Vietnam’s progress in the skyscrapers and high-rises of Hanoi and Ho Chi Minh City, and new shopping malls and urban centers. We see it in the satellites Vietnam puts into space and a new generation that is online, launching startups and running new ventures. We see it in the tens of millions of Vietnamese connected on Facebook and Instagram. And you’re not just posting selfies -- although I hear you do that a lot -- (laughter) -- and so far, there have been a number of people who have already asked me for selfies. You’re also raising your voices for causes that you care about, like saving the old trees of Hanoi.
So all this dynamism has delivered real progress in people’s lives. Here in Vietnam, you’ve dramatically reduced extreme poverty, you've boosted family incomes and lifted millions into a fast-growing middle class. Hunger, disease, child and maternal mortality are all down. The number of people with clean drinking water and electricity, the number of boys and girls in school, and your literacy rate -- these are all up. This is extraordinary progress. This is what you have been able to achieve in a very short time.
And as Vietnam has transformed, so has the relationship between our two nations. We learned a lesson taught by the venerable Thich Nhat Hanh, who said, “In true dialogue, both sides are willing to change.” In this way, the very war that had divided us became a source for healing. It allowed us to account for the missing and finally bring them home. It allowed us to help remove landmines and unexploded bombs, because no child should ever lose a leg just playing outside. Even as we continue to assist Vietnamese with disabilities, including children, we are also continuing to help remove Agent Orange -- dioxin -- so that Vietnam can reclaim more of your land. We're proud of our work together in Danang, and we look forward to supporting your efforts in Bien Hoa.
Let’s also not forget that the reconciliation between our countries was led by our veterans who once faced each other in battle. Think of Senator John McCain, who was held for years here as a prisoner of war, meeting General Giap, who said our countries should not be enemies but friends. Think of all the veterans, Vietnamese and American, who have helped us heal and build new ties. Few have done more in this regard over the years than former Navy lieutenant, and now Secretary of State of the United States, John Kerry, who is here today. And on behalf of all of us, John, we thank you for your extraordinary effort. (Applause.)
Because our veterans showed us the way, because warriors had the courage to pursue peace, our peoples are now closer than ever before. Our trade has surged. Our students and scholars learn together. We welcome more Vietnamese students to America than from any other country in Southeast Asia. And every year, you welcome more and more American tourists, including young Americans with their backpacks, to Hanoi’s 36 Streets and the shops of Hoi An, and the imperial city of Hue. As Vietnamese and Americans, we can all relate to those words written by Van Cao -- “From now, we know each other’s homeland; from now, we learn to feel for each other.”
As President, I’ve built on this progress. With our new Comprehensive Partnership, our governments are working more closely together than ever before. And with this visit, we’ve put our relationship on a firmer footing for decades to come. In a sense, the long story between our two nations that began with Thomas Jefferson more than two centuries ago has now come full circle. It has taken many years and required great effort. But now we can say something that was once unimaginable: Today, Vietnam and the United States are partners.
And I believe our experience holds lessons for the world. At a time when many conflicts seem intractable, seem as if they will never end, we have shown that hearts can change and that a different future is possible when we refuse to be prisoners of the past. We've shown how peace can be better than war. We've shown that progress and human dignity is best advanced by cooperation and not conflict. That’s what Vietnam and America can show the world.
Now, America’s new partnership with Vietnam is rooted in some basic truths. Vietnam is an independent, sovereign nation, and no other nation can impose its will on you or decide your destiny. (Applause.) Now, the United States has an interest here. We have an interest in Vietnam’s success. But our Comprehensive Partnership is still in its early stages. And with the time I have left, I want to share with you the vision that I believe can guide us in the decades ahead.
First, let’s work together to create real opportunity and prosperity for all of our people. We know the ingredients for economic success in the 21st century. In our global economy, investment and trade flows to wherever there is rule of law, because no one wants to pay a bribe to start a business. Nobody wants to sell their goods or go to school if they don’t know how they're going to be treated. In knowledge-based economies, jobs go to where people have the freedom to think for themselves and exchange ideas and to innovate. And real economic partnerships are not just about one country extracting resources from another. They’re about investing in our greatest resource, which is our people and their skills and their talents, whether you live in a big city or a rural village. And that’s the kind of partnership that America offers.
As I announced yesterday, the Peace Corps will come to Vietnam for the first time, with a focus on teaching English. A generation after young Americans came here to fight, a new generation of Americans are going to come here to teach and build and deepen the friendship between us. (Applause.) Some of America’s leading technology companies and academic institutions are joining Vietnamese universities to strengthen training in science, technology, engineering, mathematics, and medicine. Because even as we keep welcoming more Vietnamese students to America, we also believe that young people deserve a world-class education right here in Vietnam.
It's one of the reasons why we're very excited that this fall, the new Fulbright University Vietnam will open in Ho Chi Minh City -- this nation’s first independent, non-profit university -- where there will be full academic freedom and scholarships for those in need. (Applause.) Students, scholars, researchers will focus on public policy and management and business; on engineering and computer science; and liberal arts -- everything from the poetry of Nguyen Du, to the philosophy of Phan Chu Trinh, to the mathematics of Ngo Bao Chau.
And we're going to keep partnering with young people and entrepreneurs, because we believe that if you can just access the skills and technology and capital you need, then nothing can stand in your way -- and that includes, by the way, the talented women of Vietnam. (Applause.) We think gender equality is an important principle. From the Trung Sisters to today, strong, confident women have always helped move Vietnam forward. The evidence is clear -- I say this wherever I go around the world -- families, communities and countries are more prosperous when girls and women have an equal opportunity to succeed in school and at work and in government. That's true everywhere, and it's true here in Vietnam. (Applause.)
We’ll keep working to unleash the full potential of your economy with the Trans-Pacific Partnership. Here in Vietnam, TPP will let you sell more of your products to the world and it will attract new investment. TPP will require reforms to protect workers and rule of law and intellectual property. And the United States is ready to assist Vietnam as it works to fully implement its commitments. I want you to know that, as President of the United States, I strongly support TPP because you'll also be able to buy more of our goods, “Made in America.”
Moreover, I support TPP because of its important strategic benefits. Vietnam will be less dependent on any one trading partner and enjoy broader ties with more partners, including the United States. (Applause.) And TPP will reinforce regional cooperation. It will help address economic inequality and will advance human rights, with higher wages and safer working conditions. For the first time here in Vietnam, the right to form independent labor unions and prohibitions against forced labor and child labor. And it has the strongest environmental protections and the strongest anti-corruption standards of any trade agreement in history. That’s the future TPP offers for all of us, because all of us -- the United States, Vietnam, and the other signatories -- will have to abide by these rules that we have shaped together. That's the future that is available to all of us. So we now have to get it done -- for the sake of our economic prosperity and our national security.
This brings me to the second area where we can work together, and that is ensuring our mutual security. With this visit, we have agreed to elevate our security cooperation and build more trust between our men and women in uniform. We’ll continue to offer training and equipment to your Coast Guard to enhance Vietnam’s maritime capabilities. We will partner to deliver humanitarian aid in times of disaster. With the announcement I made yesterday to fully lift the ban on defense sales, Vietnam will have greater access to the military equipment you need to ensure your security. And the United States is demonstrating our commitment to fully normalize our relationship with Vietnam. (Applause.)
More broadly, the 20th century has taught all of us -- including the United States and Vietnam -- that the international order upon which our mutual security depends is rooted in certain rules and norms. Nations are sovereign, and no matter how large or small a nation may be, its sovereignty should be respected, and it territory should not be violated. Big nations should not bully smaller ones. Disputes should be resolved peacefully. (Applause.) And regional institutions, like ASEAN and the East Asia Summit, should continue to be strengthened. That’s what I believe. That's what the United States believes. That’s the kind of partnership America offers this region. I look forward to advancing this spirit of respect and reconciliation later this year when I become the first U.S. President to visit Laos.
In the South China Sea, the United States is not a claimant in current disputes. But we will stand with partners in upholding core principles, like freedom of navigation and overflight, and lawful commerce that is not impeded, and the peaceful resolution of disputes, through legal means, in accordance with international law. As we go forward, the United States will continue to fly, sail and operate wherever international law allows, and we will support the right of all countries to do the same. (Applause.)
Even as we cooperate more closely in the areas I’ve described, our partnership includes a third element -- addressing areas where our governments disagree, including on human rights. I say this not to single out Vietnam. No nation is perfect. Two centuries on, the United States is still striving to live up to our founding ideals. We still deal with our shortcomings -- too much money in our politics, and rising economic inequality, racial bias in our criminal justice system, women still not being paid as much as men doing the same job. We still have problems. And we're not immune from criticism, I promise you. I hear it every day. But that scrutiny, that open debate, confronting our imperfections, and allowing everybody to have their say has helped us grow stronger and more prosperous and more just.
I’ve said this before -- the United States does not seek to impose our form of government on Vietnam. The rights I speak of I believe are not American values; I think they're universal values written into the Universal Declaration of Human Rights. They're written into the Vietnamese constitution, which states that “citizens have the right to freedom of speech and freedom of the press, and have the right of access to information, the right to assembly, the right to association, and the right to demonstrate.” That’s in the Vietnamese constitution. (Applause.) So really, this is an issue about all of us, each country, trying to consistently apply these principles, making sure that we -- those of us in government -- are being true to these ideals.
In recent years, Vietnam has made some progress. Vietnam has committed to bringing its laws in line with its new constitution and with international norms. Under recently passed laws, the government will disclose more of its budget and the public will have the right to access more information. And, as I said, Vietnam has committed to economic and labor reforms under the TPP. So these are all positive steps. And ultimately, the future of Vietnam will be decided by the people of Vietnam. Every country will chart its own path, and our two nations have different traditions and different political systems and different cultures. But as a friend of Vietnam, allow me to share my view -- why I believe nations are more successful when universal rights are upheld.
When there is freedom of expression and freedom of speech, and when people can share ideas and access the Internet and social media without restriction, that fuels the innovation economies need to thrive. That's where new ideas happen. That's how a Facebook starts. That's how some of our greatest companies began -- because somebody had a new idea. It was different. And they were able to share it. When there’s freedom of the press -- when journalists and bloggers are able to shine a light on injustice or abuse -- that holds officials accountable and builds public confidence that the system works. When candidates can run for office and campaign freely, and voters can choose their own leaders in free and fair elections, it makes the countries more stable, because citizens know that their voices count and that peaceful change is possible. And it brings new people into the system.
When there is freedom of religion, it not only allows people to fully express the love and compassion that are at the heart of all great religions, but it allows faith groups to serve their communities through schools and hospitals, and care for the poor and the vulnerable. And when there is freedom of assembly -- when citizens are free to organize in civil society -- then countries can better address challenges that government sometimes cannot solve by itself. So it is my view that upholding these rights is not a threat to stability, but actually reinforces stability and is the foundation of progress.
After all, it was a yearning for these rights that inspired people around the world, including Vietnam, to throw off colonialism. And I believe that upholding these rights is the fullest expression of the independence that so many cherish, including here, in a nation that proclaims itself to be “of the People, by the People and for the People.”
Vietnam will do it differently than the United States does. And each of us will do it differently from many other countries around the world. But there are these basic principles that I think we all have to try to work on and improve. And I said this as somebody who's about to leave office, so I have the benefit of almost eight years now of reflecting on how our system has worked and interacting with countries around the world who are constantly trying to improve their systems, as well.
Finally, our partnership I think can meet global challenges that no nation can solve by itself. If we’re going to ensure the health of our people and the beauty of our planet, then development has to be sustainable. Natural wonders like Ha Long Bay and Son Doong Cave have to be preserved for our children and our grandchildren. Rising seas threaten the coasts and waterways on which so many Vietnamese depend. And so as partners in the fight against climate change, we need to fulfill the commitments we made in Paris, we need to help farmers and villages and people who depend on fishing to adapt and to bring more clean energy to places like the Mekong Delta -- a rice bowl of the world that we need to feed future generations.
And we can save lives beyond our borders. By helping other countries strengthen, for example, their health systems, we can prevent outbreaks of disease from becoming epidemics that threaten all of us. And as Vietnam deepens its commitment to U.N. peacekeeping, the United States is proud to help train your peacekeepers. And what a truly remarkable thing that is -- our two nations that once fought each other now standing together and helping others achieve peace, as well. So in addition to our bilateral relationship, our partnership also allows us to help shape the international environment in ways that are positive.
Now, fully realizing the vision that I’ve described today is not going to happen overnight, and it is not inevitable. There may be stumbles and setbacks along the way. There are going to be times where there are misunderstandings. It will take sustained effort and true dialogue where both sides continue to change. But considering all the history and hurdles that we've already overcome, I stand before you today very optimistic about our future together. (Applause.) And my confidence is rooted, as always, in the friendship and shared aspirations of our peoples.
I think of all the Americans and Vietnamese who have crossed a wide ocean -- some reuniting with families for the first time in decades -- and who, like Trinh Cong Son said in his song, have joined hands, and opening their hearts and seeing our common humanity in each other. (Applause.)
I think of all the Vietnamese Americans who have succeeded in every walk of life -- doctors, journalists, judges, public servants. One of them, who was born here, wrote me a letter and said, by “God’s grace, I have been able to live the American Dream…I'm very proud to be an American but also very proud to be Vietnamese.” (Applause.) And today he’s here, back in the country of his birth, because, he said, his “personal passion” is “improving the life of every Vietnamese person.”
I think of a new generation of Vietnamese -- so many of you, so many of the young people who are here -- who are ready to make your mark on the world. And I want to say to all the young people listening: Your talent, your drive, your dreams -- in those things, Vietnam has everything it needs to thrive. Your destiny is in your hands. This is your moment. And as you pursue the future that you want, I want you to know that the United States of America will be right there with you as your partner and as your friend. (Applause.)
And many years from now, when even more Vietnamese and Americans are studying with each other; innovating and doing business with each other; standing up for our security, and promoting human rights and protecting our planet with each other -- I hope you think back to this moment and draw hope from the vision that I’ve offered today. Or, if I can say it another way -- in words that you know well from the Tale of Kieu -- “Please take from me this token of trust, so we can embark upon our 100-year journey together.” (Applause.)
Cam on cac ban. Thank you very much. Thank you, Vietnam. Thank you. (Applause.)

END

Truyện vui sưu tầm trên Facebook.com nhân dịp Tổng thống Hoa Kỳ thăm Việt Nam

Năm 2012, Tập Cận Bình sang thăm Mỹ, trên đường đến Nhà Trắng, họ Tập rẽ vào một cửa hàng socola, nhiễm thói quen của người Tàu ở Mỹ, Tập thó 3 thanh socola cho vào túi. Đến Nhà Trắng, sau khi đàm phán xong, đến đoạn tâm sự riêng tư, Tập rút socola ra khoe với Obama, tất nhiên cũng chả ngại kệ chuyện mình có nó mà không mất tiền. Obama nghe xong nói: “Người Mỹ chúng tôi cũng có thể kiếm socola free mà không cần phải ăn cắp hèn hạ thế!” Tập vừa xấu hổ vừa bực mình, bèn to tiếng thách Ma demo. Ma và Tập bèn lên Limousine quay lại cửa hàng socola nọ. Ma đến quầy thấy có mỗi ông chủ cửa hàng và mấy đứa trẻ con. Ma bèn nói: "Cho tôi mượn 3 thanh socola tôi muốn biểu diễn ảo thuật cho bọn trẻ con xem". Ông chủ đưa cho Obama 3 thanh socola, Ma bèn bóc ra và ăn hết, rồi đút vỏ vào túi áo, xong đứng huýt sáo. Tay chủ quán vốn dân texas, nghĩ chắc mình bị lừa, đưa tay rờ báng súng và hỏi Ma: "Thế trò ảo thuật của ông đâu?". Obama nhún vai chỉ Tập Cận Bình và nói với chủ quán: "Ông nghĩ tôi ăn socola của ông ư? Không, tôi vừa đút 3 thanh đó vào túi ông này". Những đứa trẻ chứng kiến xung quanh vỗ tay rần rần khi ông chủ rút ra 3 thanh socola từ túi ông Tập.
--------------------------
Sáng hôm nay, Obama cũng vừa trình diễn màn ảo thuật rút hàng tỉ USD tiền bán vũ khí từ túi Putin và đút vào túi các nhà sản xuất vũ khí Mỹ, chỉ bằng một tuyên bố "gỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sát thương cho Việt Nam". Còn những đứa trẻ người Việt vẫn đang vỗ tay và sung sướng viết lên facebook về màn ảo thuật đó...

Thứ Bảy, ngày 21 tháng 5 năm 2016

Hân Phan : “Người việt nam hèn hạ” - Một đoản văn làm sôi mạng xã hội


Tác giả bài viết người việt nam hèn hạ, Cô Hân Phan, sinh năm 1979, tốt nghiệp ngành Luật, đang là Giám đốc của một công ty Truyền thông ở Sài Gòn.

Trang mạng xã hội lại một lần nữa dậy sóng bởi bài viết ngắn của một cô gái rất trẻ nói về thực trạng đời sống xã hội cũng như tâm tính, văn hóa, thói quen ứng xử của người Việt Nam mà dưới ánh mắt của cô nó đáng được gọi là hèn hạ cùng với hai chữ Việt Nam không được viết hoa.
Thuyết phục
Bài viết dài nhưng thuyết phục và rất dễ gây tranh cãi nếu người đọc nó với tư duy của những năm tháng mà đất nước được tô đầy những màu hồng rực rỡ. Màu của chiến thắng, màu của lòng tự hào dân tộc, màu của cường điệu và đôi khi tự cho phép vượt cả sự thật để xoa bóp cơ bắp teo tóp của mình về mọi thứ, kể cả lòng nhân đạo và sự tự trọng cần thiết.
Bài viết có tên: “Người việt nam hèn hạ”, bắt đầu bằng một mệnh đề ngắn nhưng với sức mạnh của một trái bộc phá:
“Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa. Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.”
Lần lượt từng vấn đề một, tác giả bảy ra dưới ánh sáng của chiếc đèn giải phẩu. Cô soi rọi những góc ẩn mà không ai muốn nhắc tới. Trước nhất, Hân Phan viết về thế hệ của cô, những người lớn lên 40 năm sau khi đất nước gom vể một mối:
“Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường… trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm.” Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình.” Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường.
Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất.
Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Ðơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân … gia đình nó- nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Ðừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động.”
Đọc tới đây chắc nhiều người trong chúng ta vẫn cho rằng cô gái này đang nói ai đấy chứ không phải mình….nhưng khoan đã, hãy bình tĩnh với những giòng kế tiếp. Tôi chắc rằng trong đó sẽ có chúng ta, kể cả tôi, người đang đọc thật kỹ từng con chữ để mong tìm ra có gì quá đà trong bài viết này không, thế nhưng tôi chỉ thấy mình là một cá nhân trong đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt.
“Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết…
Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?
Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh… ức hiếp bên dưới.”
Tác giả bài viết này là Hân Phan, cô sinh năm 1979, tốt nghiệp Luật, đang là Giám đốc của 1 cty Truyền thông ở Sài Gòn. Sau một lúc vẽ ra khung cảnh thật đang xảy ra chung quanh mình, tác giả lặng lẽ than thở:
“Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?”
Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!
Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài Gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.
Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Ðáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.
Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.
Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.
Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.
Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.
Tôi đọc tin bọn chủ… lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.
Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.
Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp… Còn rất nhiều tin.
Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế? Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.”
Còn văn chương xã hội chủ nghĩa thì sao? Hân Phan không ngại chút nào khi lôi ra từng cuốn sách đóng mốc lên meo của chủ thuyết văn chương phải đạo, hay văn chương than khóc, cho chúng ta nhìn ngắm:
Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc.”
Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa.
– Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.
– Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?
– Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi!
Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.”
Nút thắt của những điều mà tác giả vừa nói phải chăng chỉ do mô hình sai lầm là chủ nghĩa cộng sản hay do sự dung túng, lộng hành và tiếm quyền của người cộng sản? hay do xã hội đang run sợ trước họng súng đến nỗi không còn một phản ứng nào đáng được gọi là con người? Hân Phan thẳng thắn chỉ ra, chỉ một phần thôi, tuy rất lớn, và tất cả người Việt phải nhìn thấy trách nhiệm ấy thuộc về mình, từng người một. Tác giả viết:
“Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi? Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.
Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản. Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!
Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?
Ngoài sự cấu kết quyền lực-quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?”
Là một người tốt nghiệp trường luật, Hân Phan hiểu rõ mình đang nói gì khi chứng minh rằng đạo đức hỗ trợ pháp luật trong những ngóc ngách mà pháp luật không thể với tới. Đạo đức, tiếc thay đã biến dạng thành khuôn mặt tươi cười của ác quỷ.
“Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ, …Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?”
Tác giả hỏi mình mà sức mạnh của nó làm cho hầu hết chúng ta phải thổn thức, tác giả viết: “Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?”
Và bây giờ là chúng ta, tất cả chúng ta, những người có trách nhiệm với ngôi nhà mang tên Việt Nam nhưng đang giương mắt nhìn ngoại bang cấu kết với bọn lãnh đạo làm mất dần đất nước, hay ít ra mất hẳn cái gọi là lòng yêu nước, vốn luôn bị lợi dụng trong các cuộc chiến tranh “thần thánh”.
“Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Ðông,” “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn,”… để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Ðĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?
Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.
Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.”
Hân Phan thố lộ với chúng tôi bài viết đã xuất hiện cách đây nhiều năm, và mỗi lần nó ồn ào trở lại thì một lần gây tranh cãi. Cô cũng có ý định sửa lại nó nhưng sau vài năm sự mong muốn ngày một nhạt dần vì không có một dấu hiệu nào cho thấy một chút hy vọng, dù mong manh có thể thay đổi xã hội và con người Việt Nam.
“Thật ra nếu mà cháu sửa thì cái ý nó sẽ khác đi một chút chứ không phải là sửa từ ngữ, vì bài đó rất dài mà lúc đó còn lãng mạn, còn kỳ vọng nhiều thứ lắm nhưng bây giờ thực sự nó khó làm cho người ta hy vọng. Khi viết thì ý tứ bài đó nó có thể khác đi một chút.”
Khi được hỏi phản ứng của người đọc ra sao trước bài viết nặng ký như vậy, Hân cho biết:
“Trời ơi, người ta khen thì cũng có khen nhưng người ta vào người ta chửi cháu không còn gì hết! Nhưng cháu không có phản hồi ai hết vì những gì muốn nói thì mình đã nói hết rồi. Mình viết bài đó không phải để tranh luận, nếu có người suy nghĩ khác người ta không đồng ý họ chửi mình là thiếu giáo dục, không có tinh thần dân tộc…nhưng cháu nghĩ không cần thiết tranh luận với những người đó. Chuyện người ta nghĩ khác mình thì cũng là chuyện bình thường.
Hơn nữa thực ra cháu nghĩ là mình bị theo dõi lâu rồi, trong inbox hay trong mail cháu vẫn để đó cho họ đọc vì họ càng đọc thì càng thấy mình không có động cơ gì xấu hết mà mình chỉ muốn cho xã hội tốt hơn thôi nên kệ họ. Cháu có rất nhiều bạn bè làm an ninh làm này làm kia nhưng cháu vẫn coi mỗi người một con đường, mỗi người một chí hướng thì họ làm gì họ làm còn mình cũng không có ý nghĩ hằn học hay cái gì cũng đổ cho cộng sản…cho nên cháu không sợ.  Việc gì phải sợ, sợ thì mình đã không viết rồi.”

Đóng bài giới thiệu này lại tôi nhận ra thêm một điều nữa về mình: Suốt cả bài viết mặc dù tác giả không hể viết hoa hai chữ Việt Nam, nhưng tôi lại thiếu can đảm để làm điều ấy. Có một cảm giác mong manh nào đó vẫn thiêng liêng lắm trong tiềm thức của tôi mặc dù biết rằng chính mình không xứng đáng để viết hoa hai chữ Việt Nam nữa.

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 5 năm 2016

THƯ GỬI TỔNG THỐNG HOA KỲ (Bức thư rất kịp thời của một số trí thức Sài Gòn)

THƯ GỬI TỔNG THỐNG HOA KỲ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20.5.2016
Kính gửi: Ngài Tổng thống Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ Barack Obama
Thưa Ngài,
Chúng tôi rất vinh dự và có trách nhiệm gửi thư trực tiếp đến Ngài Tổng thống qua Tổng Lãnh sự Quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh để bày tỏ ý kiến và nguyện vọng của chúng tôi, một nhóm trí thức, nhân sĩ Sài Gòn nhân chuyến thăm của Ngài đến Việt Nam và sẽ thăm thành phố Hồ Chí Minh.
Với lòng kính trọng và tin tưởng, chúng tôi muốn trình bày với Ngài Tổng thống mấy vấn đề sau đây:
1. Chúng tôi hiểu rất rõ tầm quan trọng có ý nghĩa sống còn của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ mật thiết giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, hiện đang là đối tác toàn diện trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư với những bước tiến vượt bực trong những năm qua từ khi có Hiệp ước Thương Mại Việt Mỹ sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Những thành tựu đó là điểm tựa cho những hoạt động khác, đưa sự phát triển của Việt Nam bước vào một giai đoạn mới để giảm bớt sự lệ thuộc quá nguy hiểm bởi sự thao túng và áp lực của Trung Quốc. Bằng những hành động cụ thể của đối tác đáng tin cậy để trở thành đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Mỹ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tình hình đất nước chúng tôi hiện nay trong bối cảnh khu vực và quốc tế đang có nhiều biến động. Gay gắt nhất là hành động hung hãn của Trung Quốc trên Biển Đông nhằm thực hiện “giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình, một Frankenstein thế kỷ XXI như cảnh báo của Tổng thống Nixon trước khi qua đời “Chúng ta có thể đã tạo ra con quái vật Frankenstein”.
2. Chẳng phải hôm nay, mà trước đây hơn nửa thế kỷ, Việt Nam đã biểu tỏ mong muốn có mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ. Trước và sau ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi 14 lá thư cho lãnh đạo Hoa Kỳ, trong đó có Tổng thống Truman, đề nghị thiết lập quan hệ “hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”. Ngay sau Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, trong diễn văn tiếp theo Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Mỹ là nước dân chủ, không có tham vọng về đất đai mà lại có công nhất trong việc đánh bại kẻ thù của ta […] nên ta coi Mỹ như một người bạn tốt”. Cơ hội lịch sử đã bị bỏ lỡ và cả hai nước chúng ta đã phải gánh chịu những đau thương mất mát quá lớn không đáng có.
Một Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với mục tiêu Độc lập, Tự do, Hạnh phúc như đã từng Tuyên bố trước thế giới ngày 2.9.1945, trải qua bao thăng trầm biến động, nay đang cố gắng hội nhập và đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng khu vực và quốc tế là phù hợp với lợi ích của hoà bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở Châu Á – Thái Bình Dương và các nước khác trên thế giới. Một Việt Nam giàu mạnh, phát triển bền vững, có đủ tiềm lực kinh tế và quốc phòng là phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ. Cùng chung lợi ích, đó là nhân tố quyết định cho việc thắt chặt mối quan hệ đối tác toàn diện sớm trở thành đối tác chiến lược Việt Nam – Hoa Kỳ đang là đòi hỏi nóng bỏng nhất hiện nay, cũng là khát vọng mãnh liệt của nhân dân Việt Nam chúng tôi hôm nay.
Là một khát vọng mãnh liệt, vì chúng tôi đang đối diện với những áp lực nặng nề của Trung Quốc, mà Trung Quốc thì hiểu rất rõ rằng Mỹ là cường quốc duy nhất có khả năng ngăn chặn và đập nát âm mưu độc chiếm biển Đông của họ. Họ biết rằng, nếu có một Hiệp định An ninh Việt Mỹ, thì đó sẽ là lưỡi gươm sắc bén đủ để chặt đứt cái lưỡi bò tham vọng ngông cuồng và lố bịch mà họ đang theo đuổi.
Vì thế, nếu Mỹ tuyên bố dỡ bõ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam và cam kết hỗ trợ Việt Nam trong cố gắng bảo vệ chủ quyền chính đáng và hợp pháp của mình thì đó là một hành động có ý nghĩa nhất đối với đất nước chúng tôi hiện nay. Chính vì thế, chúng tôi chân thành cám ơn Thượng nghị sĩ John McCain với thông cáo ngày 18.5.2016 khẳng định “Chúng ta tăng cường khả năng của Việt Nam đóng góp vào hoạt động hàng hải bằng việc gỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí với chính phủ Việt Nam”.
Cùng với điều đó, việc hoàn tất tiến trình Việt Nam tham gia TPP sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho thương mại giữa hai nước, giữa Hoa Kỳ và ASEAN bởi lẽ hàng hoá Hoa Kỳ sẽ vào thị trường Việt Nam của hơn 90 triệu dân, được kết nối với thị trường ASEAN hơn 600 triệu dân. Việc Hoa Kỳ sớm công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam là bước đi cần thiết cho cả hai bên theo hướng đó. Cũng vì thế, chúng tôi cám ơn Ngoại trưởng John Kerry khi ông nhìn nhận “Không ai có thể tưởng tượng nổi Hoa Kỳ và Việt Nam bắt tay cùng mười quốc gia khác để đạt được một cơ hội giao thương vô giá”.
Theo chúng tôi, nếu thực hiện thành công những vấn đề nói trên, những điều đang được thế giới quan tâm theo dõi, Ngài sẽ đi vào lịch sử với những quyết định có tầm cỡ lịch sử bằng Hiệp Định TPP, bình thường hóa quan hệ với Cuba sau hơn 60 năm đối đầu căng thẳng, thỏa thuận hạt nhân với Iran, và nay là bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí, mở rộng cửa cho Việt Nam vào TPP, một quốc gia cựu thù mà hội chứng Việt Nam vẫn chưa phai trong lòng nước Mỹ. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự sáng suốt và bản lĩnh của Ngài như chúng tôi đã chứng kiến.
3. Để làm được những điều ấy, chúng tôi hiểu rõ Ngài phải đối diện với những thách thức khá gay gắt, mà đáng buồn nhất trước hết – vì lí do nào đó – lại là với thái độ không minh bạch và sòng phẳng của một bộ phận những người trong bộ máy quyền lực của Việt Nam về mối quan hệ Việt-Mỹ đang chịu áp lực nặng nề và sự chi phối thường xuyên và xảo quyệt của Bắc Kinh.
Thế lực này bị ràng buộc về mặt lợi ích và cái ghế quyền lực được khoác cái mặt nạ cùng chung ý thức hệ Xã hội chủ nghĩa với cộng sản Trung Quốc. Những vi phạm về nhân quyền đặc biệt được thể hiện rõ trong việc đàn áp đánh đập dã man những người tuần hành ôn hòa trong tay không có một tấc sắt, kể cả phụ nữ và trẻ em nhằm thực hiện quyền biểu tình vốn đã được ghi trong Hiến Pháp, nhằm lên tiếng trước thảm họa môi trường, cá biển chết suốt dọc bờ biển Miền Trung. Nhiều nghi vấn đặt ra, tại sao người ta lại đàn áp người dân như vậy trước chuyến thăm của Tổng thống Hoa kỳ vốn được nhân dân Việt Nam mong đợi?
Người ta biết quá rõ, vấn đề dỡ bõ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cũng như vấn đề Việt Nam gia nhập TPP gắn liền với đòi hỏi về cải thiện nhân quyền ở Việt Nam. Phải chăng, một thế lực nào đó được sự hỗ trợ của Bắc Kinh muốn ngăn cản tiến trình ấy sẽ được đẩy mạnh với chuyến đi của Ngài Tổng thống? Ngăn cản tiến trình đó đồng nghĩa với việc thực thi chiến lược và sách lược của Trung Quốc trói chặt Việt Nam trong quỹ đạo áp đặt của Bắc Kinh, biến Việt Nam thành chư hầu ngoan ngoãn của Trung Quốc như những triều đại phong kiến Trung Hoa hàng ngàn năm trước đây đã làm. Bắc Kinh rất lo ngại quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam được đẩy mạnh sẽ gây một phản ứng dây chuyền với chế độ toàn trị phản dân chủ đang kìm kẹp nhân dân Trung Quốc.
Tập Cận Bình đang hung hăng thực thi luật rừng, coi trọng quyền lực cứng mà coi nhẹ quyền lực mềm, tập trung quyền lực cá nhân, phục hồi “sùng bái cá nhân”, và công khai thách thức Mỹ. Tập đang thực hành chính sách “bên miếng hố chiến tranh” nhằm đưa mâu thuẫn ra bên ngoài, không chỉ uy hiếp đe dọa và cướp biển, cướp đảo của Việt Nam, mà còn làm cho quan hệ Trung-Nhật căng thẳng, thách thức Mỹ trong việc thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông. Chính vì thế, Trung Quốc hết sức lo ngại khi Việt Nam sẽ ngả hẳn về phía Mỹ.
Một mặt khác, thực tế tình hình cho thấy, nếu thỏa hiệp và nhượng bộ những toan tính của Trung Quốc ở Việt Nam để mong giữ được ổn định, nhằm dồn sức cho những mục tiêu chiến lược dài hạn khác của Mỹ, thì sẽ phải trả giá đắt. Tình hình Việt Nam sau chuyến đi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Mỹ và cuộc diện kiến của Tổng bí thư với Ngài Tổng thống tại Phòng Bầu dục và tiếp đó là Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã không tốt lên như một số người lầm tưởng, mà ngược lại. Chúng tôi phải đau đớn và thẳng thắn nói lên điều đó.
Không cần phải có cuộc điều tra nghiên cứu công phu, chỉ bằng sự chứng kiến và miêu tả lại của các phóng viên và khách du lịch nước ngoài đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mấy tháng qua cho thấy tình hình đã xấu đi nhiều, niềm tin của người dân ngày càng giảm sút, thiên tai và nhân họa đang đẩy xã hội Việt Nam vào những biến động mới rất đáng lo ngại. Chúng tôi biết rõ điều này khiến Bắc Kinh rất hài lòng, vì Việt Nam càng yếu, càng mất ổn định thì sự lệ thuộc về kinh tế, về chính trị vào Trung Quốc càng thắt chặt hơn, những toan tính thâm độc của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán muôn thuở càng có điều kiện thực hiện hơn. Dân tộc Việt Nam chúng tôi hiểu rõ hơn ai hết tham vọng này của Bắc Kinh.
Là những trí thức có sự hiểu biết về tình hình trong nước và quốc tế, sống trong nỗi đau của người dân trước thảm họa của môi trường đang uy hiếp nghiêm trọng đời sống, công ăn, việc làm của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là mấy chục triệu dân nghèo đang khốn đốn cần phải được cứu trợ khẩn cấp cũng như cần những giải pháp lâu dài để cải thiện đời sống cho hơn 90 triệu dân, chúng tôi hiểu rõ cần phải có một chuyển biến mang tính đột phá. Chuyến đi của Ngài Tổng thống đến Việt Nam là một cơ hội vàng để những nhà cầm quyền có trách nhiệm thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân tìm thấy những chuyển biến mang tính đột phá ấy để đưa đất nước vượt qua những thách thức hiểm nghèo mà bứt lên. Chúng tôi đặt nhiều hy vọng vào Ngài Tổng thống.
Về phần chúng tôi, những trí thức từng đọc và tìm hiểu về những hoạt động của Ngài Tổng thống, chúng tôi hiểu rằng hai nhiệm kỳ Tổng Thống của Ngài diễn ra trong một bối cảnh thế giới nhiều biến động và quá nhiều những thách đố. Ngài đã vượt qua những thách đố đó một cách ngoạn mục nhờ vào bản lĩnh, trí tuệ và phẩm chất mạnh mẽ của một người hành động vì mục tiêu cao cả. Chính vì thế, chúng tôi kỳ vọng về chuyến đi của Ngài đến Việt Nam lần này.
Khẩu hiệu tranh cử của Ngài “Change – Yes, we can” cũng đã trở thành phương châm hành động chúng tôi trong cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ mà chúng tôi đang dấn bước. Chúng tôi cám ơn Ngài Tổng thống đã tiếp thêm nghị lực cho chúng tôi và mong mỏi Ngài sẽ thổi một nguồn sinh khí mới vào đất nước chúng tôi từ cuộc viếng thăm của Ngài.
Chào mừng Ngài Tổng thống đến Việt Nam và kính chúc sức khỏe.
Danh sách những người ký tên:

1. Hồ An, nhà văn, nhà báo
2. Bùi Tiến An, cựu tù Côn Đảo
3. Vũ Thị Phương Anh, giảng viên về hưu
4. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức yêu nước TPHCM
5. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo
6. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao động
7. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu
8. Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, nguyên Tổng Biên tập báo Thanh niên, hiện là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TPHCM
9. Hoàng Dũng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên Đại học
10. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Thành đoàn TPHCM
11. Nguyễn Văn Hạnh, Giáo sư, nguyên Phó trưởng Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục
12. Mai Hiền, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
13. Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh), nhà báo tự do
14. Lại Thị Ánh Hồng, nghệ sĩ
15. Hà Thúc Huy, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên Đại học
16. Hoàng Hưng, nhà thơ
17. Tuấn Khanh, nhạc sĩ
18. Lê Phú Khải, nhà báo, nguyên phóng viên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại đồng bằng sông Cửu Long
19. Nguyễn Sỹ Kiệt, Tiến sĩ, nguyên cán bộ Tổng Công ty Dầu khí
20. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam
21. Nguyễn Văn Ly, nguyên thư ký của ông Mai Chí Thọ Chủ tịch UBNDTPHCM
22. Huỳnh Công Minh, linh mục
23. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng
24. Hạ Đình Nguyên, cựu tù Côn Đảo
25. Nguyễn Minh Nguyệt, nguyên giảng viên Khoa Sinh vật, Đại học Tổng hợp Hà Nội
26. Phan Đắc Lữ, nhà thơ
27. Ý Nhi, nhà thơ nữ
28. Hồ Ngọc Nhuận, nhà báo
29. Phan Thị Hoàng Oanh, Tiến sĩ, giảng viên Đại học
30. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Tuổi trẻ
31. Trần Minh Quốc, nhà giáo nghỉ hưu
32. Tô Lê Sơn, kỹ sư
33. Thiều Thị Tạo, cựu tù Côn Đảo
34. Thiều Thị Tân, cựu tù Côn Đảo
35. Trần Công Thạch, nhà giáo về hưu
36. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo
37. Lê Thân, cựu tù Côn Đảo
38. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM
39. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TPHCM
40. Hà Quang Vinh, Cao học Luật, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận Bình Thạnh, TPHCM