Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Chuyện của mãnh hổ và chó điên: Đọc và ngẫm, hầu hết chúng ta sẽ có "thu hoạch"!

Một con hổ dũng mãnh đã làm gì khi gặp một con chó điên? Cách mà nó chọn trong câu chuyện dưới đây thực sự đã gợi mở cho chúng ta rất nhiều.

Một con hổ nhìn thấy một con chó điên, nó vội vã tránh ra thật xa. Hổ con nói với bố: "Bố ơi, bố dám đấu với sư tử, dám tranh hùng với báo săn, vậy mà lại phải tránh một con chó điên, thật mất mặt quá!"
Hổ bố hỏi: "Theo con, đánh bại một con chó điên có vinh quang không?"
Hổ con lắc đầu.
"Để con chó điên cắn phải một nhát, có đen đủi không?"
Hổ con gật gật đầu.
"Đã như vậy, chúng ta việc gì phải động chạm đến một con chó điên? – Không phải người nào cũng có thể coi làm đối thủ của con, không nên tranh biện với những người không có tố chất, cứ mỉm cười một cái rồi tránh thật xa, đừng để họ cắn được con.
Điều này nhất định con phải nhìn cho thấu đáo, bởi lẽ trong thực tế cuộc sống này, vẫn có rất nhiều người đang đấu với chó điên mà không ý thức được vấn đề."

Tản mạn những câu chuyện điển hình
Vào một ngày hè của năm 2014, tại Đan Mạch xảy ra một vụ án giết người. Người phụ nữ bị hại nhất định chưa từng nghe đến "Quy luật kẻ rác rưởi!" Khi người bình thường gặp phải những kẻ cặn bã, chớ dùng những cách bình thường để công kích hay phản ứng với họ. 
Hy vọng rằng những người lương thiện ghi nhớ thật kỹ điều này!
Đầu tháng 5/2015, việc một nam tài xế người Thành Đô, Trung Quốc đã ra tay đánh một nữ lái xe ngay trên đường phố vì người phụ nữ đột ngột thay đổi làn đường càng cho thấy mỗi chúng ta nên nhớ thật kỹ "Quy luật kẻ rác rưởi".
Trong vụ việc này, nữ lái xe đã không tuân thủ quy định giao thông, tùy tiện thay đổi làn đường, gây mất an toàn cho người khác, cô ta là một mẫu người "rác rưởi" điển hình.
Còn nam tài xế kia là một mẫu người nóng nảy, việc anh ta đánh phụ nữ giữa phố cũng đã khiến anh ta tự biến mình thành một kẻ "rác rưởi".
Người phụ nữ đã phải trả giá theo cách bị người khác đánh, thậm chí còn bị phạt vì vi phạm quy định an toàn giao thông. Còn người đàn ông phải chịu trách nhiệm hình sự, phải chịu hình thức xử lý nặng hơn.
Một cặp tình nhân ăn tối trong nhà hàng. Cô bạn gái xinh đẹp bị gã đàn ông say rượu ở bàn bên cạnh trêu chọc. Cậu bạn trai thấy vậy nói, dù sao cũng ăn xong rồi, chúng ta đi đi.
Cô bạn gái vùng vằng: "Sao anh tồi thế, anh có còn là đàn ông không?"
Cậu bạn trai đáp lại, rằng mình không muốn đấu với kẻ lưu manh. Cô bạn gái bắt đầu nóng nảy, sau khi mắng xong bạn trai lại tiếp tục quay sang mắng đám đàn ông say rượu, kết quả là bị đám người đó vây lại đánh.
Cậu bạn trai bị đâm 3 nhát dao, tử vong tại bệnh viện. Trước khi chết, cậu hỏi bạn gái một câu: Bây giờ anh đã được coi là đàn ông chưa?
Trong xã hội hiện đại ngày nay, dường như đã không còn cái gọi là giới hạn đạo đức cơ bản. Bi kịch ập đến với con người ta chỉ sau một suy nghĩ thiếu chín chắn, thực sự rất đáng sợ.
Một người bạn của tôi đang lái xe đúng làn đường của mình. Đột nhiên một chiếc xe màu đen khởi động từ vị trí đỗ xe, xuất hiện ngay trước đầu xe của bạn tôi.
Anh vội phanh gấp, chiếc xe trượt đi một đoạn đường, chỉ cách vài cm nữa là 2 chiếc xe đã va chạm với nhau.
Người lái chiếc xe đen như nổi điên, nhảy xuống quát tháo chúng tôi. Nhưng anh bạn tôi chỉ cười, vẫy tay chào đối phương rồi đi.
Ý của tôi muốn nói ở đây là: Biểu hiện của bạn tôi rất lương thiện. Tôi hỏi anh: "Sao lúc nãy anh lại làm vậy? Suýt chút nữa người ta đã làm hỏng xe của anh, thậm chí có thể làm hại chúng ta."
Anh bạn tôi giải thích: "Không ít người cư xử như những ‘kẻ rác rưởi’, họ suốt ngày chạy đi chạy lại khắp nơi, trên người đầy rác rưởi, đầy khó chịu, bực dọc, đố kỵ, tính toán, thù hận, đầy ngạo mạn và phiến diện.
Họ tham lam không biết thỏa mãn, họ oán hận, so đo, chẳng nhìn thấy người hay thứ gì tốt đẹp xung quanh, ngu muội, vô tri, phiền não, có tâm lý muốn báo thù nhưng trong người chỉ có cảm giác thất vọng.
Và như thế, rác trong lòng mỗi lúc một nhiều thêm, buộc họ phải tìm chỗ để trút xuống.
Có những lúc, chúng ta gặp đúng phải người như thế và rác cứ thế bị đổ lên người chúng ta…

Cho nên, không cần phải để ý! Chỉ cần mỉm cười, vẫy tay, tránh xa họ ra và tiếp tục công việc của mình. Những con người thông minh và lương thiện, tuyệt đối đừng tiếp nhận rác từ họ để rồi sau đó lại mang rác đó trút lên người nhà, bạn bè, đồng nghiệp hay những người đi đường khác."

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

Bí mật phong thuỷ linh thiêng của Hồ Tây, ngay cả Cao Biền cũng không thể phá giải

Lời toà soạn: Các dân tộc Á Đông có một nền văn minh vô cùng xán lạn. Lịch sử Á Đông nói chung, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, rất hào hùng, tràn đầy khí chất. Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu của người Á Đông, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Việt Nam, Trung Hoa… gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay. 
Cách đây gần 200 năm, khi vãn cảnh Tây Hồ, nhà thơ Cao Bá Quát từng rung động trước cảnh sắc mỹ lệ của chốn “danh thắng đệ nhất kinh kỳ” ấy mà thốt lên rằng: Tây Hồ đích thực là nàng Tây Thi!
Quả thật, ai cũng biết Hồ Tây rất đẹp. Nhưng đằng sau cái long lanh sóng nước, đằng sau cái lãng đãng sương mờ ấy, Hồ Tây lại ẩn chứa biết bao điều bí ẩn lạ kỳ…
Phải nói rằng hiếm có nơi nào quy tụ nhiều truyền thuyết và thần thoại như ở Hồ Tây, mà mỗi truyền thuyết, mỗi thần thoại lại gắn liền với những địa danh trên hồ. Và nếu dạo một vòng quanh Hồ Tây, ta sẽ có cảm giác như dưới mỗi bước chân đi đều có một sự tích, một huyền thoại nào đó: Từ bến bắt thuồng luồng đến đảo cá vàng Kim Ngư; Từ cây muỗm Quán Trấn Vũ đến cây thị cổ thụ trước sân đình Quán La; Từ đầm Xác Cáo gắn liền với sự tích Lạc Long Quân diệt hồ ly tinh, cho đến đền Kim Ngưu giải thích cho câu chuyện Trâu Vàng dưới đáy hồ; Từ miếu thần Cẩu Nhi kể chuyện Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi trong thời điểm Lý Công Uẩn dời đô, được vua phong làm Phúc thần và cho lập miếu thờ, đến bảy cây gạo huyền thoại, tương truyền là do bà Lạc phi – vợ của Lạc Long Quân – trồng để ghi dấu bảy trứng nở bảy rồng bay khắp nước non.
Và tất nhiên, cũng không thể không nhắc đến rất nhiều đền, chùa, miếu, quán, là nơi thờ cúng các vị Phật – Đạo – Thần và danh nhân lịch sử, như Phủ Tây Hồ thờ Tiên chúa Liễu Hạnh; đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ – một trong bốn vị thần trấn giữ kinh thành Thăng Long; chùa Thiên Niên thờ bà chúa dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô – thứ phi của vua Lê Thánh Tông; hay chùa cổ Trấn Quốc – trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long dưới thời Lý, Trần.
Có ý kiến cho rằng, đứng trước Hồ Tây người ta luôn thấy choáng ngợp trước cái mênh mông và rộng lớn. Nhưng đó không chỉ là cái bao la của khoảng cách dài – rộng, mà còn là chiều sâu văn hóa và bề dày của hơn 4000 năm lịch sử nước nhà.
Vậy, yếu tố nào khiến Hồ Tây đặc biệt đến thế, khiến hồn thiêng núi sông ngàn năm có thể lắng đọng lại nơi này?

Thăng Long – Tinh hoa của đất Việt

Khoảng 1200 năm trước, tướng Cao Biền nhà Đường sang nước ta làm An Nam tiết độ sứ. Vốn là bậc thầy phong thủy, Cao Biền đã phát hiện một mạch đất cực lớn thuộc loại “đại cán long” xuất phát từ núi Côn Lôn bên Trung Quốc, chạy đến Việt Nam chia làm ba chi lớn, trong đó có hàng chục ngôi đất xuất sinh thiên tử và hàng nghìn ngôi đất lớn nhỏ sẽ sinh ra các bậc anh tài. Bởi vậy, có thể nói vùng đất Giao Chỉ có linh khí đặc biệt, là nơi địa linh nhân kiệt, có thể sản sinh ra những bậc hiền tài.
Truyền thuyết dân gian kể rằng, Cao Biền đã đi khắp nơi để tầm long điểm huyệt, ông không ngờ trên dải đất phương nam nhỏ bé kia lại có nhiều điểm huyệt quý giá đến vậy. Thậm chí, ông đã ghi chép lại toàn bộ những địa điểm được cho là long mạch của Giao Chỉ và tổng hợp thành cuốn “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” trình lên vua Đường. Cho đến nay, người đời vẫn truyền tụng nhiều câu chuyện về việc Cao Biền trấn yểm long mạch, từng chạm trán Tản Viên Sơn Thần ở Ba Vì, hay gặp thần Long Đỗ trong giấc mộng ở thành Đại La.
“Đệ nhất đại huyết mạch, đế vương quý địa”
Sách “Lĩnh Nam Chích Quái” có câu chuyện kể về thuật phong thuỷ của Cao Biền, nhưng cả “Đại Việt sử ký toàn thư” và rất nhiều sách chính sử khác đều né tránh điều này. Nói cách khác, chính sử có xu hướng loại bỏ những yếu tố thần bí và tâm linh, trong khi các yếu tố huyền sử chỉ được tìm thấy trong truyền thuyết dân gian.
Tương truyền, Cao Biền sớm nhận thấy vùng đất mà về sau là kinh thành Thăng Long có vượng khí cực thịnh, nên gọi đây là nơi “đệ nhất đại huyết mạch, đế vương quý địa”, đáng chú ý là:
·         Giao châu hữu chi địa, thăng long thành tối hùng
(Giao Châu có một ngôi đất, thế rồng bay cực kỳ hùng mạnh)
·         Tam hồng dẫn hậu mạch, song ngư trĩ tiền phương
(Ba sông lớn dẫn mạch phía sau, hai con cá dẫn đường phía trước)
·         Tản Lĩnh trấn Kiền vị, đảo sơn đương Cấn cung
(Núi Tản Lĩnh trấn tại phương Kiền, núi Tam Đảo giữ tại cung Cấn)
·         Thiên phong hồi Bạch Hổ, vạn thủy nhiễu Thanh Long
(Nghìn núi quay về thành Bạch Hổ, muôn dòng uốn quanh tạo Thanh Long)
·         Ngoại thế cực trường viễn, nội thế tối sung dong
(Thế bên ngoài rộng dài, thế bên trong mạnh mẽ)
·         Chúng sơn giai củng hướng, vạn thủy tận chiều tông
(Mọi núi non đều quy phục, các dòng nước về chầu)
·         Vị cư cửu trùng nội, ức niên bảo tộ long
(Là nơi đế vương ở, bền vững chục vạn năm)
Cao Biền cũng sớm nhận ra vị trí trọng yếu của Hồ Tây. Nếu coi Thăng Long là long mạch vượng khí cực thịnh thì Hồ Tây chính là cái rốn trung tâm của long mạch ấy. Sử sách cũ có chép rằng, Cao Biền sang nước Việt đã trấn yểm nhiều long mạch nhưng chỉ Hồ Tây là không thể đụng chạm tới. Sách “Tây Hồ chí” chép: “Cao Biền sang phá những thắng địa của nước Nam ta, đến Hồ Tây thì thấy kiểu đất Phượng Hoàng ẩm thủy liền tâu sớ về triều. Lại xuống Sơn Nam, khai thông làm đứt long mạch, có thần núi hoá trâu vàng chạy ẩn vào hồ“. Như thế đủ thấy dù nhận ra vị trí đắc địa, huyệt mạch của Hồ Tây nhưng bậc thầy phong thuỷ Cao Biền cũng không cách nào phá giải được.
Long chầu hổ phục, sông tụ núi chầu
Quả thật, không ngẫu nhiên mà Thăng Long được gọi là nơi có thế đất “long chầu – hổ phục”, là nơi “sông tụ – núi chầu”. Hơn 1000 năm trước, khi Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội), vua đã viết trong “Chiếu dời đô” rằng:
“Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước (…) Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.”
Bởi vậy mà kể từ khi Lý Thái Tổ chọn Đại La làm kinh đô và đặt tên là Thăng Long, nước ta từ một quốc gia bé nhỏ mất quyền tự chủ gần 10 thế kỷ, đã vươn mình mạnh mẽ, thiết lập được nền thịnh trị lâu dài, không những thế còn nhiều lần đánh bại những đội quân phương Bắc hùng mạnh của các triều đại phong kiến Trung Hoa.
Điều ấy cũng được thể hiện trong hai câu đối trên cổng chùa Quán Thánh:
“Hữu quốc gia dĩ lai, vượng khí kinh kim tồn nhạc độc 
Trung thiên địa nhị lập, thần quang cái cổ trấn quy xà”
(Từ khi có quốc gia đến nay, vượng khí vẫn tồn giữ nguyên vẹn khắp sông núi,
Đứng trong trời đất, Thần quang trấn áp được các loài ác quái hơn cả khi xưa)
Điểm sáng “Mắt Rồng”
Và nếu nhìn xa hơn nữa, ta sẽ thấy cái đắc địa của thế đất, thế sông đều tụ họp ở nơi kinh kỳ này.
Đất nước Việt Nam cong cong hình chữ S giống như một con rồng uốn lượn. Trên “đỉnh đầu” là vùng núi phía Bắc với những dãy núi cao hiểm trở. Phần “mặt rồng” đất đai bằng phẳng với mạng lưới sông ngòi chằng chịt, được gọi là đồng bằng Bắc Bộ. Chạy dọc theo “thân rồng”, kéo dài từ phía Bắc tới cực nam Trung Bộ là những dãy núi trùng điệp, sát cạnh đó là dải duyên hải miền Trung dài và hẹp. Cuối cùng là “bụng” và “đuôi rồng”, chính là miền Nam Bộ, là đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, đất đai màu mỡ phì nhiêu, hoa trái hai mùa tươi tốt.
Và ở đây ta bắt gặp một sự tương đồng, sự tương đồng đến lạ kỳ khi đặt tấm bản đồ Việt Nam bên cạnh “Nội kinh đồ” – bức đồ hình cổ xưa và bí ẩn trong Đạo gia.

Hình phải: Bản đồ địa hình Việt Nam ; Hình trái: “Nội kinh đồ”. Mô tả sơ lược về Nội kinh đồ hình: Trên đỉnh đầu là núi non trùng điệp; Sau đó chạy dọc theo xương sống với các dãy núi đồi và rừng cây; Cuối cùng xuống vùng bụng và đan điền, tương ứng với mảnh đất canh tác màu mỡ, phì nhiêu.
Vì sao lại có sự tương đồng kỳ lạ đến thế? “Nội kinh đồ” (內經圖) không phải là bản đồ quốc gia, cũng không phải là mô tả địa lý của bất kỳ vùng đất nào. Thực chất, đây là bức đồ hình về dưỡng sinh và tu luyện thân thể người, trong đó ẩn chứa các bí mật về tu tiên, luyện đạo, cũng như các đường kinh mạch và huyệt vị. Người nào giải mã được “Nội kinh đồ” sẽ có thể tu hành đắc đạo, đạt được trường sinh, do đó đây còn được gọi là “duyên thọ tiên đồ”. Điểm đặc biệt của “Nội kinh đồ” là các đường kinh mạch và huyệt vị, cũng như các nội tạng chủ chốt trong cơ thể được thể hiện trên một bức tranh sơn thủy, có hồ có núi, có con người, có lâu đài đền quách, có ruộng nương, v.v., giống hệt như tấm bản đồ địa lý hoàn chỉnh.
Tất nhiên, tác giả của “Nội kinh đồ” không hề có ý mô tả Việt Nam trong bức đồ hình. Nhưng từ sự trùng hợp lạ kỳ đó, thì xét từ góc độ phong thủy, ta sẽ thấy địa hình Việt Nam cũng giống như một cơ thể hoàn chỉnh, được tạo hoá hữu ý sắp đặt một cách thần kỳ. Chẳng thế mà cổ nhân vẫn thường nói: đây là vùng đất địa linh nhân kiệt, văn hiến ngàn đời.
Vậy thì, nếu đối chiếu theo “Nội kinh đồ”, kinh thành Thăng Long đứng ở vị trí nào? Chính là Mắt Rồng – vị trí được minh họa giống như mặt trời đỏ rực trên đồ hình. Trong nguyên tác tiếng Hán, vị trí này được mô tả là “昇法之源 (thăng pháp chi nguyên), tạm hiểu là ‘cái gốc để pháp thăng cao’.

Hồ Tây – Tinh hoa của Thăng Long

Tất cả những điều trên nói với chúng ta rằng, Thăng Long là vùng đất linh thiêng, vùng đất thần thánh, là điểm sáng tâm linh, cũng là tinh hoa của nước Việt.
Vậy còn Tây Hồ? Hồ Tây nằm giữa đất kinh kỳ, cũng có thể coi là trung tâm của cố đô xưa. Khi xây thành Đại La (về sau là thành Thăng Long), Cao Biền đã gọi Hồ Tây là “não thủy”, ý nói rằng đây là nơi yếu huyệt của kinh thành. Trong sách ‘Tây Hồ chí’ cũng viết: “Thăng Long là thắng địa của phương Bắc, mà Tây Hồ là một thắng cảnh của đất Thăng Long” – điều ấy nói nên rằng, nếu như Thăng Long là tinh hoa của đất Việt, thì Hồ Tây lại là nơi tinh hoa trong cái tinh hoa ấy.
Trải qua hàng ngàn năm, chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, Hồ Tây vẫn mãi là một địa danh linh thiêng với nhiều truyền thuyết thần kỳ. Tất cả những sự tích bên lề giống như chuỗi “vành đai tâm linh” ôm lấy hồ Tây. Nếu ví Hồ Tây là nhụy hoa thì những Trấn Quốc, Tĩnh Lâu, Thiên Niên, Tảo Sách, Kim Liên… lại tựa như cánh sen bao bọc lấy đài nhụy thuần khiết… Ở mỗi nơi tôn kính ấy là kho tàng câu chuyện về cõi tâm linh, là câu chuyện hư mà thật, thật mà hư bên màn sương mờ ảo Hồ Tây.

Hồng Liên

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông số mệnh muốn sinh con làm Thiên Tử

Muốn con mình trở thành Thiên Tử, người phụ nữ này lại sinh ra hai người con là Trạng Nguyên và đều là những nhân tài hiếm có trong lịch sử.

Chỉ có ước vọng duy nhất: Sinh ra con là bậc Thiên Tử 

Vào thời là Lê ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) có người phụ nữ thông minh đặc biệt tên là Nhữ Thị Thục – sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng danh giá, con gái của quan Thượng thư bộ Hộ, tiến sĩ Nhữ Văn Lan.
Là gia gia đình khoa bảng nên bà thông minh và học rất giỏi, tính tình quyết đoán, thông kinh sử; không chỉ thế bà thông tỏ cả dịch lý, tướng số, mang chí lớn của bậc trượng phu.
Biết tướng mạo của mình sẽ sinh quý tử, lại thấy khí số nhà Lê đã đến hồi suy tàn và mất, nên bà quyết phải lấy được người người chồng có số làm vua hoặc có số sinh ra được con thành bậc Thiên Tử tử này.
Chính vì thế mà dù sinh trưởng trong gia đình quý tộc, có rất nhiều trang tuấn kiệt được giới thiệu hay để mắt đến bà đều lần lượt từ chối, bởi bà biết rằng vận mệnh họ chỉ làm quan phục tùng Vua mà thôi, tuổi trẻ của bà dần trôi qua với những cuộc giao du sơn thủy.
Vào những cuối của thời trẻ bà đã gặp được ông đồ nhà quê ít tiếng tăm tên là Nguyễn Văn Định ở huyện Vĩnh Lại (tức Vĩnh Bảo ngày nay), sở dĩ bà Nhữ Thị Thục đến với ông vì và biết rằng ông có tướng sinh ra quý tử.
Tương truyền thì bà Thục đã tính toán rất cẩn thận ngày giờ hợp cẩn nhằm sinh ra con có thể lên ngôi Thiên Tử – đây là mong ước lớn nhất cả đời của bà.
Đêm tân hôn bà dặn đi dặn lại chồng rằng khi trăng lên đến đầu ngọn tre mới được động phòng. Ông Nguyễn Văn Định cứ phải đi qua đi lại ngoài sân, rồi cứ liên tục ngước nhìn ngọn tre mong cho sớm đến giờ. Giai thoại lưu truyền trong dân gian kể rằng ông Nguyễn Văn Định sốt ruột mà động phòng hơi sớm vì thế mà dù sinh con là bậc thiên tài nhưng cũng không thể làm được Thiên Tử.
Sau đó bà thụ thai, sau khi sinh con đặt tên là Nguyễn Văn Đạt, là tên khai sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này.
Bà Nhữ Thị Thục rất kỳ vọng vào con nên ngày từ thuở nhỏ đã chăm sóc dạy dỗ rất chu đáo, từ khi mới sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm được mẹ hát ru bằng những câu dân ca hoặc những vần thơ do bà sáng tác.
Theo truyện kể trong dân gian thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy thôi nôi đã biết nói, lên 4 tuổi đã được mẹ dạy học thuộc lòng các bài chính nghĩa của kinh, truyện cùng với mười bài thơ Nôm.
Công lao dạy dỗ của bà đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến trong bài “Tựa Bạch Vân am” của ông.
Vì muốn con sau này làm Vua, vì thế mà bà Nhữ Thị Thục có những xích mích với chồng, trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện những xích mích này.
Một lần khi bà Nhủ Thị Thục đi chợ, ông Văn Định ở nhà buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và nói “nguyệt treo cung, nguyệt treo cung!”
Tưởng con không biết gì, ai ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nói “vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”
Thấy vợ đi chợ về, ông Văn Định kể lại chuyện khoe, chẳng ngờ bà lại nói “nguyệt tượng trưng cho bầy tôi! Nuôi con mong thành Vua, thành Chúa, chứ thành bầy tôi thì nói làm gì”.
Lần khác lúc vợ đi vắng, ôngVăn Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu: “Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng”.
Ông Văn Định hoảng sợ, lo con đọc có khi bị cho là tội phản nghịch bị chém đầu bèn sửa chữ “tựa” thành chữ “vịn”.
Bà Thục biết chuyện thì than “sinh con ra, mong con làm ‘vua’ thiên hạ. Nay thầy nó dạy con làm ‘tôi’, chán quá! Rất tiếc thân này là phận gái.”
Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm dần khôn lớn, bà thục thấy con mình có tướng mạo rất tốt, hiềm nỗi da hơi dày nên biết dù có là thiên tài cũng chẳng thể làm Vua, bà chán nản bỏ đi, ít lâu sau bà gặp và lấy ông Phùng Chí Công và sinh được một ông Trạng nữa cũng nổi danh đất Việt là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.
Về việc này gia phả họ Phùng ở Phùng Xá, Thạch Thất, Sơn Tây, mang tên “Ký lục tiên tổ sự tích” có ghi như sau: “Khi thân phụ Phùng Khắc Khoan ở Từ Sơn, có gặp một thiếu phụ từ Hải Dương đến. lông mày lá liễu, sắc mặt hơi buồn. Bà đi cùng đường với ông, được chừng một dặm, ông thấy bà nhàn rỗi như đi dạo, bèn trò chuyện, hỏi han. Thấy ông có phúc tướng, bà mới bộc bạch nỗi lòng. Ông rơi lệ cảm động. Hai người kết nghĩa vợ chồng. Qua năm sau, sinh được con trai có tướng lạ, mới 5-6 tuổi mà đã có khí vũ của bậc trượng phu. Bà mừng rỡ bảo ông nên dạy cho nó học, nếu trời xanh không phụ, may gặp thời phò được thiên hạ nghiêng đổ thì chí thiếp mãn nguyện”.
Người dân làng Phùng xá cũng nhà nghiên cứu đều nhìn nhận rằng người phụ nữ Hải Dương ấy mang họ Nhữ, mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Không phải là Vua nhưng lại là người quyết định thế cuộc

Sức người không thay đổi được thiên định, dù không được làm Vua nhưng hai đứa con của bà Nhữ Thị Thục đều là những nhân tài hiếm có trong lịch sử.
Nguyễn Bỉnh Khiêm dù không phải là vua, nhưng các bậc vua chúa thời đó đều phải tới hỏi ý kiến ông.
Khi vận nước rối bời, vua Mạc Mậu Hợp đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế cuộc, Trạnh Trình đã đáp rằng “Ngày sau nước có việc, đất Cao Bằng tuy nhỏ, cũng giữ được phúc đến vài đời”. 7 năm sau vua Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long, nhớ lời dặn cụ Trạng liền về đất Cao Bằng, quả nhiên giữ thêm được 96 năm nữa.
Khi Nguyễn Hoàng lo lắng bị chúa Trịnh sát hại bèn hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Trình không trả lời chỉ nói rằng
“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”
Nghĩa là:
“Hoành sơn một dãy, dung thân ngàn đời”
Nguyễn Hoàng liền đến phía nam dãy Hoàng Sơn chính là vùng đất Thanh Hóa, xây dựng cát cứ lập ra nhà Nguyễn sau này.
Khi vua Lê Trung Tông mất, Trịnh Kiểm muốn nhân cơ hội này muốn chiếm ngôi Vua của nhà Lê, bèn hỏi ý kiến Phùng Khắc Khoan, nhưng ông cũng không phải nên làm thế nào bèn phái người bí mật hỏi anh mình là Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rằng “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”, “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”
Phùng Khắc Khoan hiểu ý anh mình, nói với chúa Trịnh rằng phải thờ vua Lê thì mới được lâu dài
Sau này con cháu nhà Trịnh nhiều người muốn cướp ngôi nhà Lê, tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông đều nói rằng “Lê tồn, Trịnh tại; Lê bại, Trịnh vong” khiến chúa Trịnh không dám cướp ngôi vua Lê. Đến đời vua cuối cùng của nhà Lê là Lê Chiêu Thống mất ngôi thì nhà Trịnh cũng bị diệt.
Nguyễn Bỉnh Khiêm dù không là là Vua nhưng tiếng nói của ông lại quyết định cuộc cờ của các thế lực Vua Chúa thời bất giờ.
Sau này những nhà nghiên cứu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đều đánh giá cao vai trò của bà Nhữ Thị Thục trong việc giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo sư sử học Trần Quốc Vượng có nhận xét rằng: “Bà Nhữ Thị Thục – thân mẫu danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong ba người phụ nữ nổi tiếng, tài trí hơn người của Việt Nam ở thế kỷ XVI. Đó là Trạng nguyên Linh phi Nguyễn Thị Duệ, Quận công Nhữ Thị Thuận và phu nhân Nhữ Thị Thục”.

Trần Hưng

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2017

ĐÂY MỚI CHÍNH LÀ CẢNH GIỚI CAO NHẤT CỦA GIÁO DỤC, ĐỌC XONG CHẤN ĐỘNG SÂU SẮC


Một vị giáo viên người Mỹ đang sinh sống và làm việc tại Trung Quốc đã kể câu chuyện như sau:
Buổi sáng sớm sau cơn bão, trong lúc đi dạo bên bờ biển, người đàn ông nhìn thấy ở vũng nước cạn trên bờ cát có rất nhiều cá nhỏ bị cơn bão đêm qua thổi trôi dạt vào bờ. Những vũng nước trên bãi biển này sẽ nhanh chóng bị cát hút khô hoặc bị ánh mặt trời làm cạn kiệt. Khi ấy thì mấy trăm ngàn con cá nhỏ này sẽ bị chết khô.
Người đàn ông này đột nhiên phát hiện trên bờ biển ấy có một bé trai không ngừng nhặt những con cá nhỏ trong vũng nước cạn thả về biển lớn.
Thấy tò mò, anh bước tới hỏi: “Cậu bé, trong vũng nước cạn này có mấy trăm ngàn con cá nhỏ, cháu không cứu hết được đâu.”
“Cháu biết chứ.”, cậu bé trả lời mà không ngoảnh đầu lại nhìn.
“Ồ? Vậy tại sao cháu vẫn còn thả cá đi? Có ai quan tâm đâu?”
“Con cá nhỏ này quan tâm!”, cậu bé vừa trả lời vừa nhặt con cá nhỏ thả về biển lớn.
Câu chuyện này mang ý nghĩa rất hay, lại còn tương ứng với một câu nói của nhà thơ Tagore: “Mục đích của giáo dục là phải truyền tải hơi thở của cuộc sống cho con người.
Vì vậy, giáo dục nên bắt đầu từ việc tôn trọng sinh mệnh, làm con người hướng thiện, mở rộng tấm lòng, giúp con người tự đánh thức “thiện căn” tốt đẹp sẵn có bên trong.
Làm vậy cũng chính là để học sinh có được suy nghĩ “con cá này quan tâm”. Có nghĩa là việc làm của cậu bé không nhất thiết để người khác nhìn nhận, đánh giá ra sao, chỉ cần cậu làm một việc có ích, xuất phát từ tấm lòng lương thiện của mình để cứu những sinh mệnh đang cần giúp đỡ.
Một người may mắn sống sót tại trại tập trung của Đức Quốc Xã được bầu lên làm hiệu trưởng của một ngôi trường trung học ở Mỹ.
Mỗi lần có một vị giáo viên mới đến trường, ông luôn đưa cho vị giáo viên đó một bức thư. Trong thư viết rằng:
Gửi cô/ thầy,
Tôi đã tận mắt nhìn thấy những cảnh tượng mà con người không nên nhìn thấy: Phòng hơi ngạt được kỹ sư có chuyên môn tạo ra; trẻ em bị bác sĩ có học thức uyên bác đầu độc; trẻ sơ sinh bị y tá được huấn luyện chuyên môn sát hại.
Chứng kiến tất cả những điều này, tôi suy nghĩ rằng: “Giáo dục rốt cuộc là vì cái gì?”
Lời thỉnh cầu của tôi là: “Xin hãy giúp đỡ học sinh lớn lên trở thành người có nhân tính thực sự. Chỉ có trong tình huống đó thì khả năng đọc-viết-tính toán mới có giá trị.”
Rõ ràng là con người có mặt tốt và mặt xấu, mặt độc ác và mặt lương thiện. Tuy vậy bản chất của con người là lương thiện, bởi vậy người xưa luôn nói câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”.
Tuy vậy trong quá trình trưởng thành, người ta phải đối mặt với những cám dỗ về danh-lợi-tình, phần thuần chân, thuần thiện, trong sáng trong bản tính dần bị “mài mòn”. Thay vào đó là sự khôn khéo, lõi đời, tính toán, đố kỵ… Vì vậy, mục đích của người làm giáo dục là rèn luyện con người, khắc phục ác-xấu để chuyển hóa về mặt lương thiện, tốt đẹp.
Cốt lõi của giáo dục là cần thay đổi tâm hồn, thay đổi bản chất của con người chứ không phải chỉ đơn giản là việc truyền đạt khối lượng kiến thức khổng lồ và nắm bắt tri thức.
Chỉ có như vậy con người mới có thể duy trì tiêu chuẩn đạo đức cao thượng để đối đãi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống, chứ không bị cuốn theo dòng chảy của cảm xúc hoặc ngoại cảnh.
Chỉ có như vậy con người mới có thể dùng tấm lòng chân thành để lắng nghe cảm xúc của người khác, dùng trái tim thiện lương để tha thứ cho lỗi lầm của người khác, dùng thái độ bao dung để chấp nhận sự khiếm khuyết của người khác.
Thực tế cũng từng có những bài học quá đau thương về việc không coi trọng bồi dưỡng đạo đức mà chỉ chú trọng thành tích và kiến thức.
Một học trò xuất sắc của một vị Tiến sĩ vì bị loại trong giải thưởng luận văn không ngờ đã nổ súng bắn chết 4 nhà vật lý học không gian, rồi tiếp tục sát hại bạn học được giành giải của mình. Đó là do sự thất vọng về bản thân, sự đố kỵ với người khác đã tạo nên những hành động thiếu lý trí như vậy. Một người có nhiều trí thức nhưng tâm hồn lại không thánh thiện, mang nhiều tâm không tốt thì sẽ tạo họa khôn lường.
Một thiếu niên vì cãi nhau với bạn gái đã chán nản nên lái xe hơi đâm thẳng vào đám người đi bộ trên đường, dẫn đến 2 người chết và 13 người bị thương. Đây cũng là một ví dụ đáng sợ khi con người không có nhân tâm lương thiện.
Ngày nay, giáo dục trong nhà trường chúng ta nhiều khi vẫn bỏ sót vấn đề nhân cách, đạo đức và sự trưởng thành trong tình cảm cơ bản của học sinh. Điều đó dẫn đến sự lạnh lùng và vô cảm đáng sợ của một số học sinh khi đối xử với người khác.
Một nhà giáo dục Nhật Bản từng nói rằng chúng ta phải đào tạo học sinh để chúng “đối mặt với một đám hoa cục dại mà cảm xúc dâng trào phấn khích”. Loại cảm xúc này cũng giống như cảm xúc mà cậu bé quan tâm đến sinh mệnh của mỗi một con cá nhỏ trên bãi cát có được.
Trân trọng con người, kính nể vũ trụ, trời đất là điều mà con người nên làm. Con người không nên vô cớ sát hại những sinh mệnh khác, cho dù nó vô cùng thấp kém. Một người không có chút lòng thương xót đối với động thực vật bậc thấp vốn không có khả năng phản kháng thì có thể mong đợi người đó tôn trọng sinh mệnh khác sao? Ngược lại, khi một người chứa đầy tình yêu thương đối với cỏ cây, hoa lá thì đối với sinh mệnh con người, anh ta có thể không tôn trọng sao?
Người xưa nói: “Không gì đáng buồn hơn trái tim nguội lạnh”. Một người lạnh nhạt vô tình đối với thế giới bên ngoài là người ích kỷ, không quan tâm đến người khác, không biết hy sinh vì người khác. Nếu như cả một thế hệ, hoặc cả một dân tộc trở nên lạnh lùng, thờ ơ thì dân tộc ấy tương lai sẽ như thế nào đây?
Những người làm giáo dục có rất nhiều kiến thức cần truyền đạt cho học sinh. Nhưng bồi dưỡng phẩm chất tư tưởng và giá trị nhân văn tốt đẹp cho học sinh là điều tối quan trọng, đặc biệt là việc đánh thức thiện niệm cơ bản, sự tôn trọng các sinh mệnh trong tâm hồn học sinh.

Châu Yến Lâm

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng Đế Trung Hoa

Dõi theo diễn biến của lịch sử, khó ai có thể ngờ rằng một người mang dòng máu Việt trôi nổi sang Trung Quốc lại là người đánh bại quân Nguyên trở thành Hoàng Đế Trung Hoa.
Lần theo nguồn gốc vị Hoàng Đế này sẽ thấy có xuất thân từ thời nhà Trần của Đại Việt.
Vào thời kỳ vua Trần Thái Tông trị vì đã sinh hạ 6 hoàng tử: Trần Quốc Khang, Trần Hoảng (Vua Trần Thánh Tông sau này), Trần Quang Khải, Trần Nhật Vĩnh, Trần Ích Tắc và Trần Nhật Duật, cùng hai công chúa là Thiều Dương và Thụy Bảo
Vì Trần Ích Tắc là người đem cả gia quyến đầu hàng quân Nguyên Mông, nên ngày nay nhiều sách không nói đến tư chất thông minh của ông; cho rằng ông hèn nhát đầu hàng giặc, nhưng thực chất không phải như vậy.
Vì sao Trần Ích Tắc đầu hàng quân Nguyên?
Cuốn Đại Việt sử ký Toàn thư có viết về Trần Ích Tắc như sau: “Khi Ích Tắc chưa sinh, vua Thái Tông nằm mộng thấy một vị thần có 3 mắt từ trên trời xuống nói rằng: Thần bị Thượng Đế trách phạt, xin ký thác vào vua, sau này lại về phương Bắc. Khi Ích Tắc sinh, giữa trán có vết giống như con mắt, hình dáng cũng giống như người trong mộng”
Cuốn lịch sử này cũng mô tả về Trần Ích Tắc là “thông minh hiếu học, thông hiểu kinh sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như bọn Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu v.v… gồm 20 người, đều được dùng cho đời”.
Trong sách “Đông A di sự” của nhà Trần có ghi chép chi tiết khi Huệ Túc Phu Nhân xem lá số cho Hoàng Thân Quốc Thích nhà Trần đã nói với vua Trần Thái Tông rằng: “Thiếp xem Tử Vi cho các thiếu niên trong Hoàng Tộc thấy họ đều là các vị anh hùng xã tắc mai sau. Sự nghiệp của Quang Khải, Quốc Tuấn mai sau rực rỡ vô cùng. Số của Quốc Tuấn là số của một vị anh hùng, là bậc thánh nhân chắc không có việc tạo phản đâu. Trong số các vị thái tử, thiếp chỉ lo có số của đệ tứ thái tử Trần Ích Tắc thông minh, nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi ”
Trần Ích Tắc là hoàng tử thứ 5 của vua Thái Tông, nhưng Huệ Túc Phu Nhân lại dùng từ “đệ tứ” có thể do không tính con đầu Trần Quốc Khang do là con của bà Thuận Thiên với anh ruột Vua là Trần Liễu.
Trong khi Hoàng Tộc nhà Trần hầu như ai cũng giỏi võ nghệ, vì kế thừa môn phái võ Đông A từ thời Trần Tự Viễn (582 – 637), thế nhưng Trần Ích Tắc lại không thích võ thuật, nhưng về văn thì lại giỏi nhất trong tất cả các hoàng tử con vua Thái Tông, ông cũng chê bai anh em của mình chỉ là bậc “võ biền”.
Thế nhưng khi quân Nguyên đánh bại nhà Tống, chuẩn bị tiến đánh Đại Việt, tình thế giang sơn nguy ngập, vì thế các võ tướng đều rất được trọng dụng. Trong khi đó Trần Ích Tắc lại giỏi văn nhưng không biết võ thuật cũng như cách bày binh bố trận nên trong được trọng dụng như những người khác. Chính vì thế mà tâm tật đố cũng như bất bình của Trần Ích Tắc nổi lên, vì văn tài giỏi nhất trong các hoàng tử nhưng lai không được trọng dụng.
Năm 1285 đại quân Nguyên Mông 50 vạn quân tiến đánh Đại Việt, Trần Ích Tắc đưa cả gia quấn ra đầu hàng, và được phong làm An Nam Quốc Vương. Với ý định sau này khi quân Nguyên Mông đánh bại nhà Trần thì Trần Ích Tắc sẽ được lên ngôi vua.
Như vậy có thể thấy rằng Trần Ích Tăng đầu hàng không phải vì hèn nhát sợ giặc như các sách ngày nay hay mô tả, sách sử từ xưa ghi chép lại cho thấy là do sự đố kỵ khi mà văn tài của mình không được trọng dụng, vì thế mà đầu hàng quân Nguyên với hy vọng sau này sẽ được làm vua.
Thế nhưng quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn đã đánh bại đại quân Nguyên Mông. Không chỉ thế, đến năm 1288 quân Nguyên cũng lại đưa thêm 50 vạn quân đến đánh Đại Việt nhưng cũng lại thảm bại phải chạy trốn về nước.
Hậu duệ nhà Trần ở Trung Quốc
Quân Nguyên thua trận, Trần Ích Tắc mang theo cậu con trai đầu sinh năm 1275 là Trần Hữu Thành cùng gia đình đến ở Ngạc Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), giữ chức quan Hồ quảng Bình chương Chính sự. Điều này ứng với điềm báo trong giấc mơ vua Trần Thái Tông khi sinh ra Trần Ích Tắc “Thần bị Thượng Đế trách phạt, xin ký thác vào vua, sau này lại về phương Bắc”, việc này cũng diễn ra đúng như dự báo mà Huệ Túc Phu Nhân báo khi xem lá số tử vi của ông “Trần Ích Tắc thông minh, nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi”.
Ở phương bắc, Trần Ích Tắc sinh được thêm người con thứ đặt tên là Trần Hữu Lượng, nhưng đến đây có sự mâu thuẫn trong sử sách nhà Minh và Đại Việt.
Theo Minh sử thì Trần Hữu Lượng sinh ở tỉnh Hồ Bắc trong già đình đánh cá, ông nguyên họ Tạ nhưng vì tổ tiên ở nhà họ Trần nên đổi sang họ Trần. Ông là con Trần Phổ Tài. Sau khi Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) bình định xong Vũ Xương có phong cho Trần Phổ Tài làm Thừa Ân hầu, con thứ của Trần Hữu Lượng làm Quy Đức hầu.
Theo các bộ sử Việt như Đại Việt Sử ký Toàn thư, Việt sử Tiêu án của Ngô Thời Sĩ, Đại nam Thực lục, Đại Việt Sử ký Bản kỷ cùng gia phả nhà Trần để lại thì những ghi chép về Trần Hữu Lượng chi tiết rõ hơn, nhưng khác với sử nhà Minh, các bộ sử Việt đều khẳng định Trần Hữu Lượng là con thứ của Trần Ích Tắc.
Các bộ sử Việt khác như Đại Việt Sử ký Tiền biên, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục đều có nhắc đến Trần Hữu Lượng qua các sự kiện có liên quan, đặc biệt 2 lần Trần Hữu Lượng muốn được liên minh với Đại Việt đều có ghi chép
Theo ghi chép của nhà Trần thì Trần Ích Tắc sinh Trần Hữu Lượng ở Hồ Bắc. Khi ông qua đời, con cả là Trần Hữu Thành thay cha dạy học cho Trần Hữu Lượng. Vì thế câu chuyện về cha mình xưa kia đúng sai thế nào thì Trần Hữu Lượng không tỏ tường, nhưng nguồn gốc từ nhà Trần Đại Việt thì lại biết rõ.
Trần Hữu Lượng biết rõ tổ tiên mình là cụ tổ Trần Tự Minh thuộc nhóm tộc người Bách Việt ở vùng Mân Việt (nay thuộc Phúc Kiến – Trung Quốc), theo dòng người Bách Việt xuống phía nam giúp vua An Dương Vương, ông cùng Cao Lỗ trở thành những vị tướng tài ba trụ cột, là hai cánh tay đắc lực giúp An Dương Vương nhiều lần đánh bại quân Triệu Đà.
Lúc này ở Trung Quốc nổi lên phong trào noi gương Đại Việt từng 3 lần đánh bại quân Nguyên, nhiều phong trào nổi dậy chống Nguyên nổ ra. Trần Hữu Lượng âm thầm dùi mài kinh sử, học võ theo cuốn sách Đông A võ phái của cụ tổ là Trần Tự An.
Tham gia khởi nghĩa chống quân Nguyên, liên kết “hòa thân” với nhà Trần nhưng không thành
Năm 1354, Trần Hữu Lượng tham gia khởi nghĩa chống quân Nguyên, nhớ lại nguồn gốc từ nhà Trần ở Bách Việt của mình, ông cho người sang gặp vua Trần Dụ Tông muốn được “hòa thân”.
Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi chép rằng: “Giáp Ngọ, [Thiệu Phong] năm thứ 14 [1354], (Nguyên Chí Chính năm thứ 14). Mùa xuân, tháng 2, quan trấn giữ biên giới phía bắc cho chạy trạm tâu việc Trần Hữu Lượng nước Nguyên dấy binh, sai sứ sang xin hòa thân (Hữu Lượng là con Trần Ích Tắc)”.
Sách Việt sử Tiêu án có ghi chép rằng: “Trần Hữu Lượng khởi binh ở Giang Châu, sai sứ giả sang nước ta xin hòa (Hữu Lượng là con của Ích Tắc, cuối đời Nguyên cùng vua Minh Thái Tổ khởi binh).”
Tuy nhiên từ khi Trần Ích Tắc chạy theo quân Nguyên, nhà Trần đã xem ông ta như kẻ phản bội và không công nhận là dòng tộc nữa, nên đã từ chối “hòa thân”.
Việc Trần Hữu Lượng mới khởi binh đã muốn “hòa thân” với nhà Trần cho thấy nhiều khả năng ông ta là con Trần Ích Tắc, vì nếu không phải con Trần Ích Tắc thì một người lúc mới khởi binh không có tên tuổi hay sự nghiệp gì thì làm sao dám “hòa thân” với nhà Trần, vì nhà Trần đương nhiên chẳng có lý do gì để “hòa thân” với một cuộc khởi nghĩa chưa có một tiền đồ gì ở tương lai.
Sự việc Trần Hữu Lượng tham gia khởi nghĩa cũng được ghi chép trong Cuốn gia phả của hậu duệ của Trần Quốc Toản là “Viêm phương Trần tộc Lưu phả” , theo đó thì dậu duệ Trần Quốc Toản theo quân khởi nghĩa của Trần Hữu Lượng rất đông. Điều này cho thấy khả năng Trần hữu Lượng chính là hậu duệ nhà Trần, vì nếu không phải thì không có lý do gì để hậu duệ của Trần Quốc Toản tham gia đông đến thế, vì thời diểm đó có nhiều cuộc khởi nghĩa chống quân Nguyên khác còn mạnh hơn.
Trở thành Hoàng Đế Trung Hoa
Theo Minh sử ghi chép thì năm 1354 nhờ sự giới thiệu của Từ Thọ Huy, Trần Hữu Lượng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Nghê Văn Tuấn và trở thành một trong những trụ cột của nghĩa quân.
Năm 1357 ông giết Nghê Văn Tuấn vì âm mưu định giết Từ Thọ Huy, sau đó tự xưng là Tuyên úy sứ kiêm Bình chương chính sự, khởi binh tấn công các lộ thuộc Giang Tây;  tổng chỉ huy quân đội các vùng Giang Tây, An Huy, Phúc Kiến.
Năm 1359, sau nhiều trận thất bại, quân Nguyên hoàn toàn suy yếu, Trong số các cuộc khởi nghĩa chống Nguyên thì mạnh nhất chính là quân của Trần Hữu Lượng, yếu hơn là đội quân của Trương Sĩ Thành,  Chu Nguyên Chương. Cũng trong năm này Trần Hữu Lượng xưng làm Hán Vương.
Năm 1360, trước sức mạnh vượt trội của mình, Trần Hữu Lượng xưng là Hoàng Đế, quốc hiệu là Đại Hán, niên hiệu là Đại Nghĩa; tiếp tục đánh đuổi tàn dư của quân Nguyên và thu phục các cuộc khởi nghĩa chống Nguyên khác.
Các cuốn sử học của Việt Nam ghi chép Trần Hữu Lượng là con Trần Ích Tắc, như vậy theo đúng như sử Việt thì hậu duệ của nhà Trần đã trở thành Hoàng Đế Trung Hoa.
Cuộc chiến với Chu Nguyên Chương
Năm 1360 Trần Hữu Lượng dẫn đại quân thủy bộ tiến đánh Chu Nguyên Chương. Quân Chu Nguyên Chương dù yếu hơn nhiều, nhưng ông ta lại có được vị quân sư lừng danh trong lịch sử, đó là Lưu Bá Ôn, người Trung Quốc vẫn có câu rằng:
Vạn thế quân sư Gia Cát Lượng
Nhất thống thiên hạ Lưu Bá Ôn
Khi đại quân do đích thân Trần Hữu Lượng tiến đến, quân tướng của Chu Nguyên Chương nhiều người e sợ, xuống tinh thần, có ý kiến nên lui binh về cố thủ Trung Sơn (Tử Kim Sơn, Đông Giao, Nam Kinh), có mưu sĩ cho rằng tốt nhất nên đầu hàng rồi sáp nhập vào quân của Trần Hữu Lượng. Chu Nguyên Chương lắng nghe chưa biết thế nào, nhìn lại thấy Lưu Bá Ôn vẫn lặng thinh, đoán biết ông ta đã có diệu kế nên ra lệnh ngừng tranh luận để gặp riêng Lưu Bá Ôn.
Chu Nguyên Chương mời Lưu Bá Ôn vào phòng riêng rồi hỏi “Địch đã tới gần, tiên sinh có cao kiến gì chăng?”, Bá Ôn đáp rằng: “Kẻ địch kiêu ngạo, thì nên dụ địch vào sâu rồi dùng phục binh tiêu diệt”.
Sau khi bàn tính, Chu Nguyên Chương cho bạn cũ trước đây của Trần Hữu Lượng là Triệu Khang Mậu Tài trá hàng, sai một lão bộc mang thư đến cho Trần Hữu Lượng nói cứ đưa quân đánh vào thành Ứng Thiên, còn mình sẽ làm nội ứng ở cửa thành vào bắt Chu Nguyên Chương.
Trần Hữu Lượng rất mừng, nhưng cũng nghi ngờ, cất vấn lão bộc đưa thư nhiều điều nhưng lão này đều trả lời rất trôi chảy,
Trần Hữu Lượng đưa quân đến nhưng rất thận trọng vì nghi có thể chỉ là trá hàng, tuy nhiên đến cầu Giang Đông thì bị tập kích bất ngờ, thiệt hại nhiều không kể xiết. Trần Hữu Lượng nhờ các tướng hộ vệ, lên thuyền nhỏ mới chạy thoát.
Năm 1361 Chu Nguyên Chương tiến đánh Giang Châu, nhờ mưu kế của Lưu Bá Ôn mà quân Chu Nguyên Chương thắng trận, Trần Hữu Lượng phải cho quân rút về Vũ Xương, biết mình bại bởi mưu kế của Lưu Bá Ôn, Trần Hữu Lượng đã nói rằng: “Dưới tay ta thiếu một mưu sĩ như Lưu Bá Ôn. Sau này kẻ tiêu diệt ta, chắc chắn chính là Bá Ôn rồi. Chả lẽ ý trời nghiêng về Chu Nguyên Chương, nên mới sai Bá Ôn tới trợ giúp đó chăng?”
Lần thứ hai tìm trợ giúp từ nhà Trần
Đại Việt Sử ký Toàn thư cùng các sách sử khác đều đề cập đến sự việc vào năm 1361, để đương đầu với Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng lại cho người sang Đại Việt xin hợp quân, tuy nhiên vua Trần Dụ Tông vẫn cự tuyệt với dòng họ của Trần Ích Tắc nhất quyết không mang quân trợ giúp.
Cuộc chiến cuối cùng
Theo Minh sử các cuộc giao tranh giữa Trần Hữu Lượng và Chu Nguyên Chương sau đó đều bất phân thắng bại. Năm 1363 diễn ra trận chiến trên hồ Bà Dương, quân của Trần Hữu Lượng có 60 vạn, Chu Nguyên Chương có 20 vạn quân.
Với lực lượng mạnh hơn, sau 3 ngày đại chiến dữ dội, quân của Trần Hữu Lượng giành được chiến thắng. Sau đấy, nhận thấy các thuyền của Trần Hữu Lượng đều to lớn và sát vào nhau, Chu Nguyên Chương nghe lời khuyên, dùng hỏa công nên đánh thắng được, Trần Hữu Lượng bị tử trận trong cuộc chiến này.
Trần Hữu Lượng mất, còn là Trần Lý lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Đức Thọ. Năm sau Chu Nguyên Chương đưa quân đến thành Vũ Xương đánh bại Trần Lý, chính thức đánh bại triều đại do Trần Hữu Lượng dựng lập nên.
Dù Vương triều chỉ tồn tại vài năm ngắn ngủi, nhưng nếu theo như sử Việt ghi chép, thì đã có một Hoàng Đế mang dòng máu người Việt trị vì tại Trung Quốc.
Không đồng ý liên minh với Trần Hữu Lượng liệu có phải là sai lầm đáng tiếc?
Ở Trung Quốc, Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh, năm 1368 vua Trần Dụ Tông của Đại Viêt phải sang thần phục nhà Minh. Ở Đại Việt, năm 1399 Hồ Quý Ly xử tử 370 tướng lĩnh tôn thất nhà Trần, năm 1400 thì lên ngôi Vua.
Tuy nhiên cha con Hồ Qúy Ly cũng nhanh chóng đầu hàng khi bị quân Minh tiến đánh, đó là lần duy nhất Việt Nam bị mất quyền tự chủ bởi phương bắc tính từ thời Ngô Quyền (năm 939) đến nay. Quân Minh đã vơ vét rất nhiều tài nguyên, nhiều người tài giỏi, thầy thuốc có tiếng bị bắt sang phục vụ cho nhà Minh, ví như Hồ Nguyên Trừng là nhân tài người Việt sang bên Minh đã sáng tạo ra súng thần công rất nổi tiếng lúc đó.
Một số nhà nghiên cứu tiếc rẻ cho rằng, nếu vua Trần Dụ Tông liên minh với Trần Hữu Lượng, thì nhiều khả năng Trần Hữu Lượng sẽ thống nhất Trung Hoa với một triều đại vững chắc, không phải chỉ vài năm ngắn ngủi mà là tồn tại hàng trăm năm, hai triều đại nhà Trần của hai nước sẽ tương hỗ với nhau, như thế Hồ Quý Ly không thể cướp ngôi, Đại Việt cũng không bị xâm chiếm đô hộ bởi nhà Minh. Lịch sử sẽ theo một chiều hướng khác.

Trần Hưng