Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

Bloger Người Buôn Gió - Bức thư của người đã khuất.

Link : https://www.facebook.com/notes/875673179124571/

Mấy hôm nay tôi không ngủ, từ khi tôi đọc được một lá thư viết tay cách đây chắc tầm 20 năm hoặc hơn thế. Bức thư của một người bố rất yêu thương con trai của mình.

Tôi vẫn nhớ ông, người làm nghề kẻ biển quảng cáo. Ông chăm chỉ cặm cụi làm việc, ông thích đọc sách, ông yêu thương đứa con của mình.

Tôi cũng giống ông là có lúc làm nghề biển quảng cáo, cũng chăm chỉ, cặm cụi làm việc và thích đọc sách cũng như yêu thương con của mình.

Có điều tôi khác ông , ông là một người lương thiện, hiền lành. Tôi thì không như vậy, hoặc lúc tôi gặp ông thì tôi không như vậy.

Định mệnh thật trớ trêu, khi bạn còn trẻ, hãy nhớ một điều. Những việc bạn làm bây giờ có thể vài chục năm sau , nhỡ khi  bạn phải đối mặt với nó. 

Tuần trước tôi đưa tấm ảnh ngôi nhà của mình do Gã Đầu Bạc chụp. Mọi việc bắt đầu đơn giản là vậy, tôi nhận tin nhắn của một người qua FB, anh ta hỏi tôi có nhận ra anh ta không, còn anh ta nhận ra tôi bởi tấm hình ngôi nhà.

 Tôi nhìn tấm hình gã đàn ông khoảng 40 tuổi, to béo và dữ dằn, đôi lông mày đen rậm. 

Ký ức hơn 20 năm trước trở về, hôm đó mùa đông thì phải, Chiến dắt theo một thằng trẻ đến chỗ tôi. Chiến nói cho nó nhập bọn. Chàng trai ăn mặc rất lịch sự và khá giả. Tôi nhớ cậu ta mặc cái áo len, bên trong là sơ mi bẻ cổ. Cái áo len ngoại khá đắt tiền thời đó, hình như giá tiền phải gần một chỉ vàng. Người đến chỗ chúng tôi thường mặc áo quần bộ đội, áo bay, phin tá, Na to, áo lính Mỹ, áo Pilot. Một phong cách ăn mặc của giới giang hồ. Chiến hơn tôi vài tuổi, to cao trong chiếc áo Pilot xanh, lót bên trong màu cam.  Chiến đi chiếc xe Simson màu xanh, loai xe của Đông Đức.

Tôi nhìn chàng trai, rõ cậu ta là con nhà tử tế. Nụ cười có vẻ hiền hoà, nhưng nhìn kỹ thấy sự lạnh lùng và quyết đoán. Tôi lắc đầu nói với Chiến.

- Em chỉ nhận những thằng đã nhúng chàm trước rồi thôi. '' Lính mới '' em không nhận.

Chiến nói đại khái như xin ông, nó ít tuổi nhưng nó còn nghề hơn cả ông đấy. Chàng trai làm vài động tác cho tôi thấy, cậu ta không phải là '' lính mới ''.  Nói là chàng trai, thực ra cậu ta kém tôi chỉ hai hay ba tuổi, không nhiều.

 Bọn chúng tôi làm đủ thứ kiếm tiền, làm bốc vác ( thực ra là trấn lột) do nhóm Chính Mù ở Hàng Buồm. Vặt phụ tùng ô tô do Tuyển Si ở Bảo Khánh và Cương Na, Sơn Kiếm. Chăn gái mại dâm do thằng Chính và Sơn ở Nguyễn Trường Tộ. Lừa khách đi xe lam ba bánh đến đoạn vắng chặt chém tiền là Hưng Bái, Thắng Keo ở bãi Phúc Tân. Một số hoạt động khác như đòi nợ thuê, chém mướn , buôn ma tuý , cờ bạc bịp.

Kiếm được tiền, cả hội ăn chơi hoang đàng như bao nhiêu lưu manh khác. Tôi không rượu, không cờ bạc, không gái mú và tất nhiên là tôi chưa hề hút một điếu thuốc phiện nào như thiên hạ đồn đại. Chỉ có những anh em với tôi hồi đó biết về tôi. Anh em hay đùa , nếu tôi bị bắt. Tội tôi phải nặng gấp hai, vì tôi chả đam mê, nghiện ngập cái gì như họ mà vẫn phạm pháp. Tiền tôi kiếm được mua sách đọc và  đầu tư vào việc cho vay lãi. Tôi đang yêu một cô gái làm tóc. Tôi hình dung tương lai có tiền, tôi sẽ lấy vợ. Mở cho vợ mình một cửa hàng làm tóc để khỏi đi làm thuê. Còn tôi sẽ mua đầu máy video làm nghề in sao, cho thuê băng phim, ca nhạc.

Có thể các bạn trách tôi, tôi thấy trách là phải. Nhiều đêm sau này, hoặc chính như lúc này, tôi chảy nước mắt vì nghĩ , sao tôi lại có quãng đời như vậy? . Lúc đó tôii 21 tuổi. Hai mươi mốt tuổi không phải biện minh được cho hành vi của mình, nhưng quả thật 21 tuổi thì khó mà nói có suy nghĩ sâu xa được. 

Hai mươi mốt tuổi vạch kế hoạch, mua thuốc mê, kìm cộng lực, rèn kiếm, chuẩn bị thuốc phiện tăng sức cho đồng bọn và tiền chi phí để thực hiện các việc như trộm kho hàng, trấn lột, chém thuê...

 Nói đi nói lại là do mình, bố mẹ tôi không dạy tôi làm những điều như vậy. Tôi cũng không bị bạn bè nào rủ rê. Tôi hám kiềm tiền một cách nhanh chóng, vậy thôi. 

Nhưng tôi không bao giờ rủ rê những người nào chưa từng phạm tội , hay nói cách khác là chưa có nghề, hoặc đơn giản theo tiếng lóng lúc đó là tôi không bao giờ '' đưa ai vào đời '' cả. Những đồng bọn của tôi lúc đó họ đều có nghề hơn cả tôi. 

Bởi thế tôi không muốn nhận chàng trai. Cả cuộc đời đen đúa lúc đó, chỉ có điều an ủi là tôi không đưa ai vào cuộc sống ấy, tôi không xăm trổ, không nghiện ngập thứ gì. Lúc giã từ tôi chỉ mang trên mình những vết sẹo thương tích đao búa và hai bàn tay trắng. Khi ra khỏi nhà tù, đến bộ quần áo tươm tất cũng không có. Lúc ra tù, anh tôi phải mua cho tôi từ chiếc áo sơ mi đến áo rét. Nhà tôi băn khoăn là tôi làm thế tiền để đâu , cho người yêu chăng.? Thật tội cho cô ấy, tiền tôi có bao nhiêu cho vay, lúc bị bắt tôi xác định quên số tiền đó. Tôi không muốn vương vấn chút nào nữa. Mức án 4 năm tù tôi chấp nhận trả giá cho quãng đời trước đó.

Tôi không nợ gì anh em giang hồ, tiền bạc, ân tình hay món nợ thù nào. Tôi không cũng không khai báo ra bất kỳ ai. Những gì ai đó nợ tôi, tôi không nhớ nữa.

Trong bức thư này, người bố có viết cho con trai. Ông có nói việc con ông bị thằng Hiếu Phất Lộc rủ rê làm điều xấu. Đứa con ông vài năm sau khi tôi đi tù, nó còn tung hoành khủng khiếp hơn tôi nhiều, tên tuổi của nó chắc giang hồ Đông Âu nhiều người biết. Có lẽ ông viết cho nó khi nó đang là tay anh chị ở Đông Âu thập niên 90 thế kỷ trước.

Thằng con trai ông chính là chàng trai mà Chiến đã dẫn đến gặp tôi năm nào.

 Giờ thì nó hoàn lương, có vợ con, sống yên bình một nước Đông Âu. Ông cụ sinh ra nó đã mất, trước khi mất ông cũng chứng kiến nó đã trở thành người tốt. Nó là một học sinh giỏi, sinh ra trong gia đình tử tế. Vì sao nó hư có nó biết, nó còn vào '' đời '' trước cả tôi. Làm sao tôi lại là người rủ rê nó chứ. Tôi mắng nó, tại sao mày không nói cho ông cụ là mày hư trước. Nó cười bảo, thôi anh, chuyện qua rồi.

Đúng là chuyện qua rồi, tôi chả còn cơ hội thanh minh với ông cụ thân sinh ra nó. Điều mà tôi kỵ nhất là không muốn mang tiếng đưa con, em ai vào đời. Tưởng trả giá xong rồi, thanh thản. Nào ngờ.....

Dù sao hơn hai mươi năm, gặp lại người anh em thưở ấy, thấy nó có cuộc sống đàng hoàng, trong sạch, làm ăn buôn bán. Cũng là điều an ủi. Nói thực thì tôi tưởng nó chết rồi, tất cả lứa chúng tôi ngày ấy đều chết gần hết. Chết trong tù, chết bị đâm chém, chết vì bệnh tật do những năm tháng nghiện ngập rượu chè, thuốc phiện...

 Có lẽ chúng tôi sống được là do .... thôi cứ gọi là do số chúng tôi may mắn thế. Nói ra chạnh lòng những anh em đã chết.

Tôi không hề rủ rê ai làm lưu manh cả, nhưng tôi không dám chắc sẽ  không rủ ai làm '' phản động ''. Lần này tôi sẽ rủ nó làm '' phản động''  giống như tôi. Khi tôi chết đi, gặp ông. Tôi sẽ nói cháu không rủ nó làm xã hội đen, vì nó còn vào trước cả cháu. Nhưng cháu đã rủ nó chống '' xã hội đỏ '' , cái này cháu xin nhân.

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

Inrasara/BVN - Dư luận viên” Trần Nhật Quang, một nghệ sĩ hậu hiện đại đích thực

Link : https://www.facebook.com/inra.sara/posts/824476010916454


Võ Lừa- Bình luận của Bauxite Việt Nam
 Đội ngũ dư luận viên của Đảng kể có đến hàng ngàn người. Mỗi người một danh phận, một hành trạng, có thể là nhà báo, nhà văn, nhà khoa học, đại tá an ninh, quân đội... Trừ các đồng chí bị lộ, đăng đàn một cách công khai, còn hầu hết họ đều hoạt động trong bóng tối, dưới các tên giả X, Y, Z. 

Tuy nhiên phải thừa nhận là trong bọn họ dư luận viên Trần Nhật Quang là gây được nhiều ấn tượng nhất. Có thể nói nghề dư luận viên chọn Trần Nhật Quang chứ không phải ngược lại. Ông sinh ra để làm dư luận viên. Ông có máu dư luận viên thâm căn cố đế, không thể gột rửa. Cái máu dư luận viên thâm căn cố đế đó chính là tình yêu Đảng cộng sản vô điều kiện và lòng căm thù những người không phải cộng sản cũng vô điều kiện. Ông yêu nước Trung Hoa vĩ đại của Mao Trạch Đông, yêu “thiên đường” Triều Tiên của Kim Nhật Thành, nơi “không có thất học, không có thất nghiệp, không có vô gia cư, không có tình trạng ốm đau chờ chết như phần còn lại của thế giới, đây chính là “mô hình xã hội mà các nước tư bản phương Tây đang phải hướng tới” (lời ông Quang).

 Ông Trần Nhật Quang cũng là một loại con nghiện, có điều ông không nghiện “đập đá” mà ông nghiện Bắc Triều Tiên, nghiện Kim Nhật Thành, ông nghiện Trung Quốc, nghiện Mao. Tóm lại là ông nghiện cộng sản. Vì chưng hay ghét cũng là hay... yêu. Ông Trần Nhật Quang ghét tất cả những gì không thuộc phạm trù cộng sản. Với ông cuộc đời thẳng tắp, đơn giản: Cái gì thuộc cộng sản là tuyệt vời, là ma túy của ông, phần còn lại là kẻ thù của ông. Với ông, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ là đương nhiên, là chân lý vĩnh cửu.

 Cho nên, mặc dù giọng ông không hay, lý luận ông không có gì, và cách tuyên truyền của ông giống hệt những năm năm mươi, sáu mươi, kiểu “hòn đá to hòn đá nặng, một người nhắc, nhắc không đặng” hoặc “có anh nông dân vác quốc ra thăm đồng. Anh cuốc như thế này rồi cuốc như thế kia”, ông bổ cái cuốc tuyên truyền của ông như thế này rồi như thế kia xuống đầu bất cứ ai miễn là nhát cuốc của ông có lợi cho chủ nghĩa cộng sản. Nhiều khi đăng đàn ông ở trạng thái “phê”, cả con người ông biến thành một cơn cuồng nộ. Tay chân, mồm miệng, ngôn ngữ của ông đều co giật, run rẩy, giống như một kép hát hóa thân tan chảy hết vào ngôn từ của bài hát. Chính điều này đã mê hoặc người nghe, khơi dậy tình yêu hoặc lòng căm thù dù nội dung buổi đăng đàn của ông chỉ quanh quẩn ở vài ba mệnh đề ngắn ngủn, cộc lốc, không đầu không cuối, kiểu khen ngợi nông dân hăng say lao động: anh cuốc như thế này rồi cuốc như thế kia.

Tuy nhiên tôi thành thật tin rằng thời của ông sắp hết, kiểu tuyên truyền duy ý chí không cần học hành như ông không thể tồn tại trong xã hội thông tin được. Ông chỉ có một ngón võ duy nhất: lòng thù hận. Thân phận ông cũng giống như thân phận con lừa trong câu chuyện của Liễu Tôn Nguyên – một danh sĩ đời Đường: “Đất Kiểm xưa vốn không có lừa. Có người hiếu sự chở một ít lừa đến đấy nuôi. Lừa thả dưới chân núi. Buổi đầu hổ trong núi ra, trông thấy lừa cao lớn lực lưỡng cứ tưởng là loài vật thần mới giáng thế. Lại thấy lừa kêu to, hổ sợ quá cong đuôi chạy mất. Dần dần, hổ nghe quen tai, thấy lúc nào lừa cũng kêu một giọng giống nhau, bèn tỏ ý khinh thường. Một hôm hổ đánh liều nhảy lên vờn lừa. Lừa giận giơ chân đá đi đá lại, quanh quẩn chỉ có một ngón đá mà thôi. Hổ thấy vậy rất mừng, bụng bảo dạ: “Hóa ra tài nghệ con lừa này chỉ có thế mà thôi”. Rồi hổ gầm lên, đè nghiến lừa xuống mà chén thịt”.

 Vâng, con hổ đây chính là cuộc sống, cuộc sống sẽ “chén thịt” tất cả những gì trái lẽ tự nhiên!

Bauxite Việt Nam

Đã thấy Lê Văn Tài qua loạt bài thơ cụ thể concrete poetry đầy sáng tạo của anh, Lê Vĩnh Tài đùa nghịch trên tấm ảnh sẵn có làm chúng ta bật cười, và Lê Anh Hoài lấy thân làm “cột điện” độc đáo thế nào rồi, nay bất ngờ ta có thêm một sáng tạo khác của một nghệ sĩ hậu hiện đại mới: Trần Nhật Quang qua một nghệ thuật mới: poetry video, nếu có thể nói thế. 

Tôi muốn gọi Trần Nhật Quang là nghệ sĩ hậu hiện đại đích thực. 

Hãy xét ngữ liệu “phòng lạnh” vô cùng phong phú được nghệ sĩ này sử dụng: “mô hình xã hội chủ nghĩa”, “nạn người bóc lột người”, “can thiệp thô bạo”… rồi thì “tư bản giẫy chết”, “dân chủ khát máu”…

Đọc thêm anh tụng ca thiên đường Bắc Triều Tiên “không có thất học, không có thất nghiệp, không có vô gia cư, không có tình trạng ốm đau chờ chết như các phần còn lại của thế giới…”. Địa đàng ấy chính “là mô hình xã hội mà các nước Tư bản phương Tây đang phải hướng tới”!

Đó không là một giễu nhại đầy hài hước sao!?

Rồi thì anh đặt mình đối trọng với Tổng thống Mỹ, với Đại sứ Hoa Kỳ. Ông Obama nói/ tôi nói… Ông Đại sứ Mỹ tuyên bố/ tôi tuyên bố… 

Thổi phồng, nhấn mạnh, lặp lại, e hèm, nghiêm trọng hóa, lập luận mâu thuẫn đầy chủ ý, bật cười, khua tay múa chân, tất tần tật. Và hãy ngắm khuôn mặt rất “kịch” của anh: vẻ cố gắng diễn ý đến nổi gân cổ của anh, đôi mắt láo liên liên tục chuyển tới chuyển lui, nhất là ở bề sau, chiều sâu ánh mắt ấy: đầy sự đùa cợt [nói mà biết rõ sự dối trá và khổ công nuốt cho trôi những "chiêu" đó trong lời nói của mình - BVN].

Làm sao xem một video clip ngắn ngủn với câu kết: “những người như Chu Hảo, như Nguyên Ngọc là các nhà dân chủ khát máu”, mà có thể nín cười được!? Chu Hảo lành là thế, lành đến nhà văn Phạm Thị Hoài định danh anh “đối lập trung thành”, vậy mà Trần Nhật Quang cứ gán bừa “dân chủ khát máu”. Thú thật, mỗi bận nhớ đến câu này thôi là tôi không thể không bật cười thành tiếng. Tài tình thế là cùng!

Hãy “đọc” Trần Nhật Quang theo một hướng khác, bằng tâm cảm khác, thì tất cả sẽ đổi khác. Tinh thần giễu nhại hậu hiện đại lồ lộ trong hầu hết tác phẩm của nghệ sĩ này.


Tài liệu tham khảo:
1. Các nước đa đảng hầu hết đều nghèo đói
https://www.youtube.com/watch?v=OUBrsb9xVsw
2. Bắc Triều Tiên “là mô hình xã hội mà các nước Tư bản phương Tây đang phải hướng tới” https://www.youtube.com/watch?v=DG4bobx-xSM
3. Chủ nghĩa Tư bản man rợ đang giẫy chết
https://www.youtube.com/watch?v=J4KzT2tJN0Y
Nguồn: https://www.
facebook
.com/inra.sara/posts/824476010916454

Thứ Tư, ngày 15 tháng 10 năm 2014

Facebook Người Buôi Gió - Con đường ngắn nhất.

Link : https://www.facebook.com/notes/870109533014269/

Hôm qua đi lang thang cùng mấy ông anh, bà chị. Thấy một ông già bán đồ linh tinh, trong đó lạc lõng một cái vỏ ốc to bằng cát bát ăn phở. Bèn lân la xem rồi hỏi giá, ông già phán 30 e, không bớt.

 Mua xong, mấy bà chị hỏi mình hâm mà mua cái vỏ ốc đắt thế. Mình bảo chị mà nói nữa, em đập luôn. Mấy bà lại bảo mình hâm. Mình bảo, em đập ra thành miếng nhỏ em bán, chứ em có mua con ốc này vể bày đâu. Trong nhóm có ông già quê ở Chuôn nói, em xẻ ra chứ đừng đập, xẻ thành 3 miếng dọc thế này này, ông chỉ con ốc và những đường xoắn của nó.

Lúc ấy các chị mới biết mình không hâm mà cũng chả nói đùa.

Các chị nói ông anh ở làng nghề khảm khai, biết. Nhưng cậu làm sao mà biết được nhỉ.?

 Cách đây hơn 20 năm, mình ở bộ đội về. Chưa có việc, giao du toàn với dân giang hồ. Ngày đó thì quân Khánh Trắng, Sơn Lùn....đủ các loại giang hồ hảo hán ngang tầm thế hoạt động suốt từ chợ Long Biên đến dốc Bác Cổ, vòng vèo cả vào những ngõ nhỏ như Chợ Gạo, Hàng Muối...đấy là bến bãi nơi làm ăn của họ. Còn trong Đào Duy Từ mệnh danh là đảo Xi Xin, nơi ma tuý , cờ bạc, vay lãi quy mô lớn nhất Hà Nội đều tập trung ở đó.

Bố mình ốm nặng, bệnh phổi kinh niên. Một hôm ông gọi mình lại gần giường bảo.

- Đất này không phải là nơi con sống, bố muốn con về quê ở với cô Hồng, học nghề làm đồ gỗ ở đấy. Nếu được con lấy vợ ở đó, bố sẽ mua nhà ở quê cho con. Con đừng sống ở HN này, không hợp với con đâu.

Mình ngớ người, nhà có đến 5 anh em trai, thế nào ông già lại bảo mình về quê mà sống. Nhưng lúc đó bố ốm, mà mình theo câu '' quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu '' nên chuẩn bị quần áo. Hôm sau bà cô mình ở ngõ Vũ Lợi áp giải mình sang Đồng Kỵ bàn giao cho cô Hồng. Mà nói chuyện bà cô ở ngõ Vũ Lợi, lúc mình 4 tuổi bố đã mang mình cho bà cô nuôi. Bà cô nghiêm khắc, từng cái ăn, cái ở, câu nói cũng bị nhắc nhở răn đe. Chả hiểu sao mình nhớ được những ngày ở nhà cô mới tài. Rồi lúc 5 tuổi thì mình bỏ về nhà, đi bộ từ ngõ Vũ Lợi về ngõ Phất Lộc. Đến cửa nhà thấy bà cô đang mếu máo khóc huu , mọi người vây quanh, bảo bổ nhau đi tìm mình. Mình mới ngóc đầu lên nói - ơ! con đây mà.

 Mình nhớ hôm đó nhà dọn cơm cho mình ăn, bắp cải luôc, trứng luộc dầm nước mắm, Một mình được cả quả trứng. Ăn xong cả nhà hỏi đi thế nào về, mình kể đi bộ ra hồ Thuyền Quang, thấy cái cây ngả mặt hồ thì rẽ trái, đi đến nhà thờ thì rẽ phải , ra đến chỗ bến tàu điện là xuyên qua chợ Hàng Bè về. Sau qủa đấy thì bố lo mình lại bỏ về, nên bảo thôi ở nhà vậy. Nhà cô làm nghề chụp ảnh, nghề đó lúc đấy kiếm cũng dư dả, cuộc sống ở nhà cô về vật chất sướng hơn. thế nhưng đúng là con không chê cha mẹ khó. 

 Bà cô ở Vũ Lợi chở mình sang , dặn dò xong dúi cho 10 nghìn, 2 tờ 5 nghìn xanh. Mình ở quê, hàng tháng cô mang tiền sang đóng tiền ăn của mình cho cô Hồng, mỗi lần thế laij dúi cho một hai chục. Lần nào cũng mắng nhiếc sa sả. Tính cô ấy cả nhà ai cũng sợ vì nóng như lửa, nhưng rất tốt với con cháu. Lúc mình lấy vợ, lúc cần tiền làm ăn cô đều trợ giúp. Mấy lần trốn an ninh, vào nhà cô ở, cô cũng đều chăm sóc cẩn thận. Thậm chí cô còn phát hiện những kẻ nào đứng theo dõi mình nữa. Từ khi mình thành phản động thì cô chả bao giờ mắng nữa, thậm chí còn hào hứng, mỗi lần đến nhà thấy trước cửa là cười tươi nói to.

- A ông Buôn Gió đây rồi, ăn gì chưa, uống gì nào.

Vì cô ủng hộ mình làm phản động, nên nhà mình cũng chả ai nói chuyện ngăn cản mình nữa. Cả họ hàng ai cũng nể trọng cô, giờ cô ra mặt thế thì ai mà ngăn. Cô là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của mình trong công cuộc làm phản đông. Nếu không thì có khi bỏ cuộc từ lâu rồi. Ai cũng bảo mình dở hơi, trừ hai vợ chồng cô ra. Sau lại có thêm bà dì vợ thấy thằng cháu rể là phản động, lại khen giữa nhà là thằng này giỏi. Thế là cả hai bên đều chả ai nói gì nữa.

 Mình ở  làng Đồng Kỵ, xóm Giếng. Cô Hồng sang nói với nhà chú Mịch cho mình học nghề. Nhà chú Mịch là một tổ hợp gia đình sản xuất khép kín, từ khâu mua gỗ về xẻ, bào, đóng mộc gọi là thợ '' ngang'', do chú và thằng Công trạc tuổi mình làm. Còn phần cắt tỉa trai do thằng Minh em dưới thằng Công.  Dưới nữa là cô em gái và cậu em trai là nghề lấy '' đất ''. Lấy đất là đục tỉa ra những cái hõm vừa miếng hoạ tiết bằng trai, ốc, rồi phết sơn ta, gắn miếng ốc, trai vào đó. 
 
Bà mẹ thì nấu ăn và đánh bóng, công đoạn cuối cùng của sản phẩm.

Cả gia đình làm miệt mài, trẻ con đi học về làm để cặp bắt tay vào làm, đến tối cơm nước xong học bài. Hầu hết mọi người trong làng đều chăm chỉ như vậy. Ở quê con gái 16 tuổi là bạn trại trong làng muốn tím hiểu có thể đến nhà, 18 tuổi là cưới. Bạn trai đến nhà, con gái tiếp ở giữa nhà, hoặc giữa sân. Pha trà tiếp khách, chuyện trò có thể không ai nghe thấy. Nhưng mọi cử động đều trước tầm mắt mọi người. Khi nảo bỏ trầu thì có thể đưa nhau đi ra thị trấn hay phố huyện chơi, xem phim. Còn không thì cứ ngồi giữa nhà mà tâm sự tình cảm gì thì tâm sự.

 Hàng ngày mình ở nhà chú Mịch, lúc thì làm cái này, lúc làm cái kia, nhưng mình thích nhất là học theo thằng Minh, nghề cắt tỉa mảnh trai. Mình làm đứt của nó bao nhiêu lưỡi cưa, nó mất công thay cho mình mà lúc nào cũng vui vẻ. Cái nhà ấy ai cũng vui vẻ, người nhà quê chân chất và hồn hậu, chả mấy khi nào có tiếng cáu gắt hay cãi nhau. Cuộc sống êm đềm, cần cù và vui vẻ, ăn uống đạm bạc, chắt chiu. Đến ngày vụ cày cấy, gặt hái mọi người đều ra đồng. Mình đi theo sau cô em gái để vác lúa ra xe cho thằng Công và chú Mịch chở về. Rồi lại còn đi cắt lúa cho nhà cô Hồng nữa.

Lẽ ra có khi đời suôn sẻ, mình thành một ông chủ làm đồ gỗ khảm trai ở làng Đồng Kỵ, bên cô vợ chịu khó cặm cụi là em thằng Công.

Cả nhà họ và hàng xóm ai cũng khen mình thông minh, chịu khó, hiền lành. Người HN gì mà chịu khó thế, lành thế, chỉ thấy cười suốt, chả nề hà việc gì...cho đến một hôm thằng Công đi tán gái,, gọi mình đi theo. Bọn kia đông hơn, nó tự dưng cà khịa hai thằng. Mình xông vào giữa đám đá hộc máu thằng gấu nhất, bọn nó vây quanh mình, gậy gộc, gạch đá. Mình bị thương, máu chảy đẫm người những vẫn hăng vớ gạch túm tóc đập vào đầu thằng gần nhất. Chắc cái hình ảnh túm tóc đập gạch vào đầu man rợ hơn là cầm gạch ném, cho nên mình về được nhà cô Hồng, để đi viện khâu vết thương.

 Hai hôm sau nhà bọn kia đến nhà cô Hồng, nói chuyện giảng hoà. Mình bảo không, thằng nào nhanh thằng đó sống, không có gì hoà giải.  Bà cô ở Vũ Lợi về, bắt phải cam đoan không báo thù, mọi việc hoà giải êm ấm.

Lúc tháo vết khâu, mình đi ra đường, làng xóm ai nhìn mình cũng e ngại, thì ra nhà kia mò ra HN tìm nhà mình để nói chuyện rồi lân la hỏi hàng xóm, nghe kể linh tinh thế nào, họ về kể lại, cứ một đồn mười đi lại, mình thành một kẻ côn đồ, hung hãn. Buồn nhất là lúc gặp em thằng Công, cô ấy nói kiểu như vừa giận, vừa hờn.

- Trông cái mặt hiền thế kia hoá ra là tướng cướp.

Có đúng thằng Công còn nói chuyện với mình, còn cô chú Mịch giữ khoảng cách, cô con gái nhìn mình như muốn nói gì nhiều lắm. Nhưng ngại bố mẹ thì phải. Mìnhđành thôi nhà chú Mịch,  sang nhà thằng Quang học nghề, bố thằng Quang cũng thuộc loại máu mặt, thời trẻ cũng ngang tàng, ông ấy nhận mình ngay. Nhà thằng Quang lại không làm nghề khảm, mà nhà đó nặng về cham trổ, con gái con trai suốt ngày đục chạm. Mình nhặt những mẫu gỗ thừa học cham trổ, trong lòng vẫn nhớ hoạ tiết của những mảnh trai vô tri, qua vài khâu gọt , tỉa , khảm đánh bóng bỗng thành những bông hoa mảnh mai hay những con bướm nhỏ xíu xinh xắn. Nhớ nhất nụ cười của em Nền, em gái thằng Quang mỗi khi đang làm lại quay mặt liếc mình cười.

 Mình về nhà , bố vẫn ốm năng, thấy mình ông gượng như xua. Con về quê đi, đừng ở đây làm gì. Mình kể chuyện đánh nhau, giờ ở quê ai cũng sợ. Bố bảo thế thì sang Đình Bảng ở nhà ông Tài, theo nghề thịt lợn. Cố sao mà ở dó, bố sẽ mua nhà ở Đình Bảng cho con. Xin bố ngủ ở nhà một hôm, sáng sau lại theo bà cô Vũ Lợi về Đình Bảng, học nghề mổ lợn.

Mùa đông năm ấy, giữa đêm lạnh nhất, có tiếng xôn xao. Anh mình về báo tin bố mất. Mình về đến nhà, lại bên giường sờ vào bố thấy cứng và lạnh như đá. Mình khóc. Lần cuối bố đánh mình không khóc, ông đã vất roi đi  ôm mặt khóc, ông bảo, con là người không phải của thời này. Từ đấy bố không đánh nữa, năm đó mình 13 tuổi.

 Những năm sau mình đi làm đủ thứ, rồi đi tù, ra tù lại làm đủ thứ chả ra gì. Anh mình bảo mày làm nghề gì tử tế mà sống, những cái này có tiền nhưng cũng chả thành người được. Rồi thế hệ này, thế hệ sau lại cứ thế. Chả thoát ra được, làm cái gì cho con cái nó còn có tương lại,  học hành, đừng lại như mày.

Mình cũng chả nghe, việc làm cứ làm. Mãi sau này sinh Tí Hớn ra, trở thành phản động. Tự nhiên những trò giang hồ đột ngột chấm dứt, có lần gặp thằng nó mở trang cá độ, hỏi đánh cửa dưới ở đâu, mình nhớ mãi mới ra.  Hôm qua đi trên xe cùng với vợ anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và hai người khác, nhìn cái vỏ ốc mua, mình chợt nghĩ ra vì sao bố cứ muốn gửi mình đi cho cô nuôi dạy từ bé , cả muốn mình về quê ở, lấy vợ, sinh con rồi đừng về Hà Nội. Đó là bố muốn mình sống cuộc đời bình thường như bao người khác. Bố lo sợ mình sẽ bị bầm dập ở đời nếu như cứ ở chốn đô thành.

Bây giờ đã 22 năm, em Nền có khi thành bà ngoại rồi, em lấy chồng 2 năm sau ngày mình rời khỏi làng Đồng Kỵ. Con ốc óng ánh xà cừ hôm nay làm mình nhớ lại những kỷ niệm thửo trước, tiếng đục lấy đất dường như vẫn còn chan chát trong tai. Em chắc cũng chả biết thằng tướng cướp của em năm xưa giờ đã lưu lạc tận giữa trời Âu này để nhận học bổng của viên Gớt. Cũng như bố mình, ông không còn để chứng kiến được đứa con mà ông đã gắng hết sức tàn cuối đời để đưa nó vào cuộc sống yên bình giờ thế nào.

Trên xe đang nói chuyện về những bước ngoặt trong đời anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, mình bật thốt.

- Anh chị ạ, em suy ra con đường ngắn nhất để trở thành người tử tế, chính là con đường làm phản động.

Thứ Hai, ngày 13 tháng 10 năm 2014

XUÂN DƯƠNG - Chủ quyền quốc gia, lãnh đạo bận họp và âm mưu ác độc của loài Tu hú

Link : http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Chu-quyen-quoc-gia-lanh-dao-ban-hop-va-am-muu-ac-doc-cua-loai-Tu-hu-post150956.gd

Liên tiếp 2 ngày (8-9/10/2014) báo Vietnamnet đã đăng tải các tin tức về lao động Trung Quốc (TQ) tại Hà Tĩnh: “Hàng nghìn lao động TQ ở Vũng Áng chưa có phép [1]; Lao động TQ ở Vũng Áng: Phó mặc Nhà nước Việt Nam? ”.  [2]
Theo các bài báo, hiện số lao động Trung Quốc đang có mặt tại các công trường ởFormosa (Vũng Áng) là trên 4.000 người, tuy nhiên số được cấp phép mới chỉ khoảng trên 800 lao động. 
Nhiều nhà thầu TQ chây ì, không chịu hợp tác làm thủ tục đăng ký xin cấp phép mặc dù đã đưa lao động sang từ lâu. 
Cty CP kỹ thuật công trình CISDI Trung Quốc, đang thi công gói thầu lò cao số 1 và số 2 Dự án Formosa chỉ có 200 lao động được cấp phép, 300 hồ sơ đang trình và trên 500 lao động chưa có thủ tục gì. Trong lúc đó, 1000 lao động của công ty  này đã làm việc trên công trường từ lâu nay.
Các đoàn muốn vào kiểm tra thì bắt buộc phải làm việc với Formosa (chủ đầu tư) trước rồi mới đi kiểm tra công trường, chứ không kiểm tra đột xuất được. Có thể khi đó, họ (lao động trái phép) sẽ tránh, đây là ý kiến một cán bộ làm công tác bảo đảm an ninh trật tự ở Formosa.
Tại sao các công ty của TQ lại có thể xem thường luật pháp Việt Nam như vây? Những lao động không phép này nhập cảnh vào Việt Nam bằng cách nào và ai cho phép họ? Là một quốc gia có chủ quyền tại sao các cơ quan chức năng lại không thể kiểm tra đột xuất các cơ sở sản xuất trên đất nước mình?
Để trả lời câu hỏi này hãy đọc đoạn văn sau đây trên Vietnamnet: “VietNamNet đã liên lạc với ông Lê Thành Long, Phó bí thư tỉnh ủy, Trưởng Ban chỉ đạo bảo đảm ổn định tình hình tại Khu kinh tế Vũng Áng (BCĐ 881) và ông Đặng Quốc Khánh, PCT UBND tỉnh để rõ hơn vấn đề. Tuy nhiên cả hai vị lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đều bảo đang ở Hà Nội và chưa thể trả lời thông tin gì”. [2]
Một số người Việt phải bỏ ra nhiều tiền mới sang được xứ “ruồi vàng” Angola, hay vùng có dịch bệnh Ebola ở Tây Phi (Nigeria, Sierra Leone và Liberia…) kiếm việc làm. Khi có xáo trộn chính trị, nhiều người trở về tay trắng.
Trong khi đó ông Hồ AnhTuấn - Trưởng BQL Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh cho rằng: “lao động trong nước không đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực nên không được tuyển  dụng” (Laodong.com.vn 26/8/2014). 
Thực tế cho thấy số lao động phổ thông người Trung Quốc hiện diện nhan nhản trong các dự án do Trung Quốc trúng thầu, phải chăng ông Tuấn không biết điều này hay biết mà không dám nói?
Về phía nhà nước, đặc biệt là Bộ Lao động Thương binh & Xã hội chẳng lẽ không biết đến tình trạng thất nghiệp của hàng chục vạn cử nhân, thạc sĩ, của gần một triệu lao động đang mòn mỏi tìm việc làm? 
Theo bản tin cập nhật thị trường lao động do chính Bộ LĐ-TB&XH, Tổng cục Thống kê công bố,  cuối năm 2013, cả nước có 900.000 người thất nghiệp, trong đó có tới 72.000 cử nhân, thạc sĩ.  [3]
Nếu Bộ thành lập một trung tâm dữ liệu, cập nhật thông tin những người có nhu cầu tìm việc làm theo cách cho đăng ký qua Internet thì không sợ thiếu lao động. Chẳng lẽ gần một triệu lao động trong đó có hơn 7 vạn cử nhân, thạc sĩ  lại không đủ cho một vài khu công nhiệp của Hà Tĩnh lựa chọn?
Theo số liệu thống kê của Tân Hoa Xã, mười năm trước (năm 2004) số người tìm việc làm ở Trung Quốc là 111 triệu người, năm 2011 con số này là 250 triệu người (baotintuc.vn  24/7/2012).
Đưa lao động phổ thông sang Việt Nam, Trung Quốc đang thực hiện chiến lược một mũi tên hai mục đích, một mặt giải quyết nạn thất nghiệp trong nước, đẩy khó khăn sang Việt Nam, làm trầm trọng thêm nạn thất nghiệp tại Việt Nam, mặt khác trong số hàng vạn lao động đó ai mà biết được có bao nhiêu người dùng vỏ bọc lao động để che giấu các hoạt động không được pháp luật Việt Nam cho phép?.
Một bài đăng trên báo Đời sống và Pháp luật viết: “Mặt khác, ý thức kỷ luật của lao động Trung Quốc kém, gây mất an ninh trật tự địa phương như: trộm cắp, say rượu, tranh chấp công việc... Một số lao động Trung Quốc lấy vợ Việt Nam nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn’. [4]
Sự xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực bị cả thế giới lên án, sự gặm nhấm trên biển theo kiểu “lát cắt xúc xích” cũng không thể che đậy trước những cặp mắt cảnh giác. Vấn đề là tại sao sự gặm nhấm theo kiểu chim “tu hú”  lại dễ dàng được chấp thuận như vậy?Tình trạng hôn nhân bất hợp pháp như nêu trên  đã dẫn tới việc hình thành các xóm, phố người Hoa mới tại Việt Nam, điều này đã được đề cập trên báo Daibieunhandan.vn trực thuộc Văn phòng Quốc hội: “Giám đốc Sở Lao động thương binh và xã hội Nguyễn Thanh Hồng nêu thực trạng: “lao động phổ thông người Trung Quốc tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân đã hình thành một làng ngay gần khu vực nhà máy. Nhiều nhà hàng, quán ăn ở đây cũng xuất hiện nhiều chữ Hoa trên bảng hiệu”. [5]

Khi con tu hú gọi bầy,Nhà thơ Tố Hữu viết bài thơ “Khi con tu hú” năm 1939 đã cho người đọc cảm nhận về chim Tu hú như một loài chim thân thương, gắn với những hình ảnh thật đẹp:
Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần...
Có lẽ Tố Hữu cũng không ngờ ông đã đưa vào thơ hình ảnh một loài chim mà ngày nay người ta buộc phải gọi là loài gian hùng, xảo quyệt, ác điểu: “Tu hú mái tìm một tổ chim chích đã đẻ trứng đẻ vào đó một quả trứng của mình. Tu hú non mặc dù mới nở còn đỏ hỏn, mắt còn chưa nhìn thấy ánh sáng đã thể hiện bản lĩnh của một ác thủ. Nó nhanh chóng dùng sức mạnh cơ bắp, đôi cánh và phần lưng để đẩy những con chim chích non tội nghiệp mới nở cùng những quả trứng còn lại văng ra khỏi tổ. Âm mưu của nó là độc chiếm nguồn thức ăn của cặp chim chích bố mẹ nuôi dưỡng bầy con”. [6]
Một điều kỳ lạ là hễ bị hỏi, hễ bị chất vấn thì người trả lời luôn nêu những sự không đồng bộ của pháp luật, luôn đổ cho chưa có chế tài xử lý như ý kiến của Giám đốc Sở LĐTB & XH Bình Thuận Nguyễn Thanh Hồng: “việc quản lý người lao động nước ngoài, đặc biệt là lao động Trung Quốc ở Bình Thuận rất khó khăn bởi thiếu nhiều chế tài; việc xử phạt cũng khó bởi trong Nghị định 102 và Thông tư 03 chỉ nói không đủ điều kiện thì trục xuất, nhưng ai trục xuất thì không nói rõ”. [5]
Những người có trách nhiệm ở Hà Tĩnh, Bình Thuận và nhiều nơi khác phải chăng chỉ vì muốn khu công nghiệp trên địa bàn sớm hoàn thành mà buông lỏng quản lý hay còn vì lý do nào khác? Phải chăng chính những lãnh đạo địa phương chứ không ai khác đang tiếp tay cho tình trạng lao động chui tràn lan trên địa bàn mình quản lý?
Nếu các cấp chính quyền còn chần chừ, còn đổ cho pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu chế tài xử lý người lao động nước ngoài thì người lao động Việt sẽ như chim Chích, sẽ còn bị hất văng khỏi cái tổ mà chính mình dựng nên để nuôi nấng bầy con của mình.
Hãy làm ngay bất kỳ việc cần thiết để ngăn chặn Tu hú tiếp tục đẻ trứng vào tổ của loài chim Chích, hãy chỉ cho chim Chích bố mẹ biết con ác điểu non đó không phải là con mình để kịp làm cái tổ mới, để mà duy trì nòi giống.
Tài liệu tham khảo:

Chủ Nhật, ngày 12 tháng 10 năm 2014

Bài thuốc quý chữa suy thận cứu nhiều người "vô phương cứu chữa"

Link : http://www.baomoi.com/Bai-thuoc-quy-chua-suy-than-cuu-nhieu-nguoi-vo-phuong-cuu-chua/82/14935784.epi

Cuộc sống đang bình yên, vợ chồng chị Đoàn Thị Dung (47 tuổi, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) chợt phát hiện con gái bị chứng thận hư.

Trong lúc tuyệt vọng, số phận đã mỉm cười với họ khi cô bé được cứu sống nhờ bài thuốc Nam ông nội lưu lại trong một cuốn sách. Tiếng lành đồn xa, nhiều người mắc bệnh về thận đã tìm đến nhờ cứu giúp và chị Dung bỗng trở thành thầy thuốc “bất đắc dĩ”.
Phát hiện quý hơn vàng
Cách đây 19 năm, cuộc sống của vợ chồng chị Dung bất ngờ có một bước ngoặt. Thời điểm đó, con gái út của anh chị là Trần Thị Thanh Tuyền (lúc đó mới 3 tuổi) đang mạnh khỏe bỗng nhiên mắc chứng bệnh kì lạ. “Toàn thân nó sưng phù lên, bụng trương ra ngày một to. Phát bệnh vài tháng thì cháu nằm liệt giường, không đi lại được. Vợ chồng tôi đã tìm đủ mọi phương thuốc về cho con uống nhưng bệnh tình cháu không thuyên giảm. Mãi sau đó, gia đình đưa cháu vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định khám mới biết chính xác bệnh”, chị Dung kể. Theo đó, các bác sĩ kết luận Tuyền bị hư thận và đã ở giai đoạn cuối, vô phương cứu chữa. Vợ chồng chị Dung bất lực đưa con về chờ ngày lo hậu sự. Căn bệnh trầm trọng đến nỗi, cô bé vừa về nhà ít hôm thì kiệt sức, chỉ nằm thoi thóp trên giường.
Người bệnh cần được tư vấn trước khi dùng
Về bài thuốc của chị Dung, lương y Đinh Công Bảy (Tổng thư kí Hội dược liệu TP. HCM) cho biết: 4 loại cây thuốc Nam gồm cây nổ, cây quýt gai, cây muối và cây mực chữa bệnh thận rất tốt. Cây quýt gai có vị cay, tính ấm, thường được dùng chữa các loại bệnh phong thấp, ho hen, cảm sốt, đau bụng, sưng tấy, ứ huyết, gãy xương, thận, rắn cắn. Cây mực vó vị ngọt, chua, tính mát dùng chữa các bệnh âm hư, sốt cao, xuất huyết, có tác dụng bổ thận. Cây muối có vị mặn, mùi thơm, điều hòa các khí... Ưu điểm của các loại thuốc cỏ cây là ít gây dị ứng và giá thành lại không cao. Tuy nhiên người bệnh không nên dùng tùy tiện mà cần được lương y tư vấn.
Trong lúc mò mẫm tìm những vật dụng cần thiết để chuẩn bị hậu sự cho con, chị Dung vô tình bốc trúng một cuốn sách mục đã bị mối ăn mất phân nửa. Cuốn sách có tên “Chữa bệnh cho con khi xa thầy thuốc” do ông Trần Liệu – bố chồng chị Dung, người trước đây từng nhiều năm nghiên cứu và làm nghề thuốc để lại. Lần giở phần chưa bị mối ăn, chị Dung đọc thấy một bài thuốc chữa bệnh thận, trong đó có cả chứng thận ứ nước của bé Tuyền. Mừng như bắt được vàng, suốt đêm hôm ấy chị mở từng trangsách, đọc không sót một chữ nào ở phần viết về cách điều trị bệnh thận. Chị Dung nhớ lại: “Trong cuốn sách, cha tôi hướng dẫn rất kĩ từ cách tìm thuốc đến chế biến, dùng thuốc. Nghĩ cha linh thiêng muốn cứu cháu nội, tôi quyết định thử dùng bài thuốc đó cho con. Tôi mang cuốn sổ chạy sang nhà mẹ đẻ, vốn là người có thể nhận biết nhiều loại cây rừng. Sau đó, hai mẹ con cầm đèn dầu lặn lội cả đêm khắp rừng núi tìm các loại cây với hi vọng cứu được con bé”.
Rạng sáng hôm sau, chị Dung tìm đủ 4 loại cây trong bài thuốc của cha chồng gồm: cây muối, cây quýt gai, cây mực và cây nổ. Chị bẻ cả cành và lá, mỗi cây mỗi thứ một ít đem sao, sấy khô. Sau đó, chị cho vào ấm đất, sắc 6 chén chỉ còn 1 chén cho con uống. Suốt thời gian sau đó, Tuyền đi tiểu liên tục, người vì thế cũng dần dần xẹp xuống. Chị Dung phát hiện trong nước tiểu con có rất nhiều viên màu trắng như hạt sạn. Các hạt rất cứng lấy búa đập thì vỡ nhuyễn. Sau này chị mới biết đó là những hạt sỏi do chất độc tích tụ tạo nên. “Trước khi uống thuốc, Tuyền không tiểu tiện được, hệ thống bài tiết không hoạt động. Do bị ứ nước, cháu lúc nào cũng ê ẩm và chỉ nằm bất động một chỗ. Nhưng một ngày sau khi uống thuốc, tôi thấy cháu cử động, nhắm mở mắt bình thường trở lại. Vợ chồng tôi cho cháu uống thuốc được nửa tháng thì cháu dần khỏe, đi lại được. Tôi cho cháu uống thuốc tới 3 tháng sau mới thôi”, chị Dung kể.
Cây thuốc chị Dung trực tiếp lên rừng hái về.
Khoảng 6 tháng sau, người mẹ đưa con gái đi khám lại, các bác sĩ không khỏi ngạc nhiên trước tình trạng sức khỏe của Tuyền. Chị Dung cho biết, Tuyền năm nay đã bước sang tuổi 22 và rất khỏe mạnh. Sau lần thoát chết ngoạn mục, cô bé ngoan ngoãn và học rất giỏi. Tuyền hiện đang là sinh viên năm cuối ngành kế toán của một trường Cao đẳng.
Cứu nhiều người thoát khỏi “lưỡi hái tử thần”
Câu chuyện Tuyền lành bệnh khi đã sắp bị tử thần mang đi nhanh chóng lan truyền khắp trong ngoài vùng. Lúc này trong xã có người phụ nữ tên Đinh Thị Giàu (SN 1935, thôn Phước Thọ) cũng mắc căn bệnh giống hệt như cô bé. Một tối mùa hè, bà Giàu được gia đình đưa đi cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Bà không thể tiểu tiện, toàn thân ứ nước, mất ăn mất ngủ. Bác sĩ xác định 1 quả thận bà bị suy độ 3, không còn tác dụng. Để cứu sinh mạng bệnh nhân, bác sĩ quyết định mổ và cắt bỏ quả thận bị hư. Nhưng đến giữa tháng 11/2002 thì bệnh cũ lại tái phát, cơ thể bà Giàu bị phù nặng hơn, không thể đi lại được. Nghe tiếng bài thuốc của gia đình chị Dung, người thân của bà Giàu đã tìm tới nhờ cứu giúp.
Chỉ sau vài giờ dùng thuốc, bà Giàu thấy có biến chuyển trong người. Bà bài tiết được và người dần xẹp xuống. Uống thuốc được một tháng thì bà đã ngồi dậy được và cũng tự mình đi lại, làm vệ sinh cá nhân mà không cần người phụ giúp. Bà Giàu mất sau một tai nạn cách đây ít lâu. Gặp chúng tôi, chị Kim Anh (con gái bà Giàu) xác nhận: “Sau khi uống thuốc của cô Dung, mẹ tôi khỏe hơn nhiều, tinh thần vì thế cũng trở lại vui vẻ, lạc quan. Sức khỏe bà ngày càng khá lên, ăn uống cũng bình thường trở lại”. Sau trường hợp của bà Giàu, bài thuốc của gia đình chị Dung càng nổi tiếng hơn. Không chỉ người trong thôn xóm, trong xã nhờ cậy, nhiều người mắc bệnh thận ở khác huyện, khác tỉnh nghe tiếng cũng tìm đến. Từ đó, chị Dung bén duyên với nghề thuốc và coi đó như cái “duyên” trong cuộc đời mình.
Theo chị Dung, với 4 vị dược liệu kết hợp trên, bài thuốc mà bố chồng chị để lại có thể chữa được hầu hết các căn bệnh liên quan đến thận. Từ thận khô, thận nhiễm mỡ chữa đến thận hư, suy thận. Sau này chị Dung còn tìm được thêm được vị thuốc giúp bệnh nhân ăn cơm được ngon miệng hơn, đó là cây hồng đơn. Do người bệnh tìm đến mỗi năm một đông, vợ chồng chị Dung tất bật quanh năm mà vẫn không đủ thuốc cung cấp. Trong khi đó, thuốc chở đi sấy nơi khác thì lại quá tốn kém, hơn nữa mùa mưa thì không thể nào phơi khô trước khi đem sấy được. Chính vì vậy hai năm trước, chị Dung bàn với chồng mua chiếc máy sấy và máy cắt thuốc. Có máy móc, công việc làm thuốc với hai vợ chồng đỡ vất vả phần nào. Chị cho biết: “Hiện giờ trong nhà luôn có sẵn thuốc cho người bệnh. Những người ở xa có thể liên hệ để được gửi thuốc qua bưu điện cũng như tư vấn cụ thể”.
Trong cuốn sổ dày cộp, chị Dung vẫn còn lưu lại địa chỉ rất nhiều người bệnh. Một số trường hợp tiêu biểu như: Ông Y Vô (65 tuổi, tỉnh Đắk Lắk) bị suy thận nên phải chạy thận đến 7 năm ròng rã. Sau khi nghe tin ở Bình Định có bài thuốc trị các bệnh về thận, ông nhờ người thân tìm đến mua về dùng thử. Kết quả bất ngờ, sau khi uống thuốc của chị Dung được 4 tháng thì ông thấy bệnh đỡ hẳn. Ông Nguyễn Nam Dương (54 tuổi, phường Bình An, Quận 2, TP.Hồ Chí Minh) bị suy thận, tiểu ra đạm. Ông uống rất nhiều thuốc trong thời gian dài vẫn không thoát khỏi chứng bệnh nhưng khi dùng thuốc của chị Dung khoảng 3 tháng thì đỡ. Bà Nguyễn Thị Hoa ở số nhà 1206/14 đường Lạc Long Quân, phường 8, quận Tân Bình (TPHCM) cho biết: “Anh trai tôi đang định cư ở Úc, bị bệnh thận nặng mà không hay. Trong một chuyến về thăm quê, anh tôi bị sưng chân, sưng đùi, đi bệnh viện khám thì bác sĩ kết luận là thận có nước. Nghe tiếng bài thuốc của chị Dung, tôi gọi điện mua 30 thang liền, giờ anh ấy khỏe mạnh hoàn toàn”.