Thứ Sáu, ngày 25 tháng 7 năm 2014

Nhạc sĩ Tuấn Khanh - Di chúc Bắc Kỳ tự do

Link : http://nhacsituankhanh.wordpress.com/2014/07/24/di-chuc-bac-ky-tu-do/
 Cho C. và những người bạn đất Bắc của tôi
Câu chuyện kỷ niệm 60 năm về hành trình đến miền Nam của hơn một triệu người trôi qua lặng lẽ. 20 tháng 7, 1954 trở thành lịch sử thế giới, nhưng chưa bao giờ đủ với những câu chuyện kể về số phận và suy nghĩ của riêng người Việt. Tôi chờ đọc một áng văn nào đó, nói về suy nghĩ của những người miền Nam khi nhìn thấy dòng người Bắc Kỳ này, khi họ đến đồng bằng, chảy về thành phố, nhưng không thấy. Tràn ngập những bài viết chỉ là nỗi nhớ tha hương, là ký ức và lòng kiêu hãnh của những người tìm tự do từ phía Bắc. Vì vậy, tôi muốn ghi ra chút ít ở đây, về cái nhìn của một người miền Nam, về cha mẹ, ông bà của bạn bè Bắc Kỳ, dù họ còn hay đã mất.
Hai tiếng “Bắc Kỳ” xuất hiện trên miệng trẻ con miền Nam, và cả của tôi, suốt một thời gian dài, chỉ là sự trêu chọc ban bè cùng lứa, vì một kiểu ngữ âm rất khác mình. “Bắc Kỳ” trong ký ức từng là một tâm cảm bị ám thị, thiếu thiện cảm hơn cả khi so sánh với “Ba Tàu”. Chỉ khi tạm đủ chữ trong đầu, biết thêm về đất nước này, hai chữ “Bắc Kỳ” trong tôi mới thật sự thay đổi. Có lẽ cũng giống như tôi, nhiều người miền Nam hời hợt kỳ thị đã tự làm cho mình bớt xấu hổ bằng cách lập ra những hạng mục khác như Bắc kỳ 9 nút (54), Bắc kỳ 2 nút (75)… để bày tỏ rõ hơn trong nhìn nhận.
Nhưng không đủ.
Phải mất đến hơn nửa đời người, tôi mới nhận ra rằng không hề có một giai cấp nào trong đồng bào miền Bắc của đất nước mình, mà chỉ có một cuộc sống không được chọn lựa nào đó đã phủ chụp lên từng miền, từng vùng đã ảnh hưởng cùng cực đến họ, tạo ra những điều khó tả nhưng vậy. Ở mọi miền, Nam hay Trung hay Bắc, người ta cũng đều có thể nhìn thấy kẻ vô lại trong giống nòi, nhưng sự khó khăn nhìn nhận luôn thường dành cho phía Bắc, như một ám chỉ về một vùng đất phải chịu sự khác biệt về chính trị trong nhiều năm, như đã ám toán mọi sinh lực sống bình thường của con người.
Tôi nhận ra điều đó, ở một ngày khi thấy chung quanh mình có rất nhiều bạn, kể cả thầy cô, là những người Bắc mà tôi tin cậy. Họ đại diện cho những người “Bắc kỳ” mạnh mẽ, vượt qua số phận và hoàn cảnh của mình để không bị đè bẹp, không hèn hạ hoặc chết, như F. Nietzsche đã viết “những gì không giết được chúng ta, sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn” (That which does not kill us makes us stronger).
60 năm của những người Bắc di cư vào Nam, cho tôi và thế hệ của mình được nhìn rõ họ hơn, nhắc tôi phải nói về một bản di chúc lớn, một bản di chúc vĩ đại mà hơn một triệu người từ bến tàu Hà Nội, Hải Phòng… mang đến cho cả đất nước. Bản di chúc cũng được lưu giữ trong mắt, trong lời nói của từng người Việt tha hương khắp thế giới: bản di chúc về tự do.
Cả miền Nam sau 1954 cần phải có một lời cám ơn văn chương Bắc Kỳ, âm nhạc Bắc Kỳ, báo chí Bắc Kỳ… đã góp tay dựng lên một nền văn hóa của cả đệ nhất và đệ nhị cộng hòa của miền Nam. Nền văn hóa ngắn ngủi nhưng đủ trường tồn và mạnh mẽ vượt qua một chướng ngại, tồn tại trong lòng người từ sau 1975 đến nay, ở Việt Nam và trên cả thế giới. Cùng với những người anh em từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, những người Bắc đó đã làm tất cả để bù đắp, để dựng xây… cho thỏa sức, việc họ phải rời bỏ rất xa quê nhà, thậm chí trơ trọi, chỉ để đổi lại hai chữ tự do.
Rất nhiều năm sau đó, con cháu của những người Bắc 54 cũng lớn lên ở miền Nam hay vượt đại dương đến nơi nào đó, không ít người trong họ vẫn âm thầm mang theo một bản di chúc có thể sống mãi đến nhiều thế hệ sau về tự do, và chọn lựa vì tự do. Trong một lần ở Mỹ, tôi nghe phát thanh viên của một đài radio người Việt bình luận về một nỗi nhớ quê nhà Hà Nội. Nhớ con đường quanh Hồ Gươm, nhớ con hẻm có bán canh bún nhỏ… Giọng Bắc của anh ta trầm buồn như mới ngày hôm qua còn nhìn thấy những thứ đó, trong khi tôi biết rõ anh chưa về Việt Nam một ngày nào, kể từ tháng 4/1975. Sau lần phát thanh đó, gặp anh, tôi trêu là sao anh nói cứ như là cứ vừa ở Việt Nam về. Đột nhiên giọng anh trầm lại “Phải cố gắng nhớ dù chỉ là tưởng tượng lại. Phải nhớ như nhớ lời của ông bà mình xua mình xuống tàu, trối dặn mình phải sống với tự do”. Tim tôi như thoáng ngừng đập trong tíc tắc. Dòng người mờ ảo trong những cuốn phim tài liệu trắng đen về số phận Việt Nam chia cắt ập về. Tôi cũng nhận ra rằng bản di chúc tự do đó, không phải những người Bắc Kỳ chia cho nhau, mà còn chia lại cho tôi, cho bạn, cho cả dân tộc này. Từng người chúng ta đã được nhận. Chọn lựa mình hôm nay khốn nạn hay tử tế, là do mình đã không chịu nhìn thấy di sản của cha ông gửi lại, qua bản di chúc không thành văn này.
Tôi nhìn thấy người bạn trẻ của tôi, con một người Bắc di cư, nay sống ở Biên Hòa. Anh đưa lên facebook một tấm ảnh kỷ niệm 60 năm người Bắc xuống tàu vào Nam. Khi bên ngoài người ta nói về những điều lớn lao như hiệp định Genève và các chính quyền, thì cũng có một dòng người không nhỏ đưa lại những hình ảnh thuộc về con người như vậy. Có những tấm ảnh khiến mình phải lặng đi khi thấy cụ già bước gấp vào Nam, hành lý trên tay quý nhất chỉ là tấm hình Đức Mẹ. Người bạn trẻ của tôi đưa lên tấm ảnh người ta chen chúc chia tay nhau ở một bến tàu. Khó mà biết được ông bà hay cha mẹ của anh đã có mặt ở đó hay không, trong những chấm li ti như cát bụi. Bản thân người bạn trẻ đó thì giờ cũng là phần li ti trong hàng triệu người Bắc 54 đã lớn lên, đã thành đạt ở miền Nam này hôm nay.
Và tôi nhận ra rằng, bản di chúc tự do đó cũng vẫn đang âm thầm trong anh, như bao phần li ti khác đang trỗi lên, trên đất nước này.



Chủ Nhật, ngày 13 tháng 7 năm 2014

Nguyễn An Dân - Chọn ai: Thời gian quyết định không còn dài nữa

Link : http://kekhopk.com/forums/index.php?showtopic=59267
Theo nhiều nguồn tin hành lang “không có cách gì kiểm chứng”, thì trung ương đảng đang rất lo ngại về nội dung cuộc gặp Trung Cộng-Mỹ (Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ-Trung) đang diễn ra tại Bắc Kinh trong hai ngày 08-09/07/2014 (1).
Nỗi lo của đảng là liệu rằng Mỹ và Trung Cộng, sau hàng loạt những phát ngôn leo thang của hai nước về việc Trung Cộng đang dùng các giàn khoan dầu bành trướng Biển Đông, đã nhận ra quyết tâm của nhau và “sự lừng chừng của Việt Nam”, nên có thể sẽ đi đến một thỏa hiệp “gạt Việt Nam sang một bên” nhằm chia chác các lợi thế địa chính trị của Việt Nam cho lợi ích riêng của các cường quốc. Nếu có thỏa thuận đó thì “thân phận” Việt Nam sẽ như thế nào?

Trước tiên, việc Mỹ muốn ủng hộ Việt Nam và tác động vào đảng cầm quyền để từ đó dựng lên một phe chính quyền thân Mỹ là điều có thể xẩy ra. Tuy nhiên, đó chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là bản thân phe này phải tự mình mạnh lên và nắm quyền chủ động khi tình thế đòi hỏi quyết tâm hành động. Bất kỳ vì một lý do gì làm cho phe này lừng chừng lại và đưa Việt Nam vào một tình thế “muốn có cả Mỹ và Trung Cộng là đồng minh” để “vừa giữ nước vừa giữ đảng trong chiến lược lâu dài” thì điều kiện đủ lại không có để điều kiện cần kia xẩy ra được. Đảng hãy nhớ rằng các cường quốc họ đối lập trong chiến lược nhưng luôn có sự hợp tác khi cả hai cùng có lợi trong từng thời điểm.
Điểm qua những tuyên bố gần đây nhất của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư đảng CSVN, thì dường như đảng vẫn chưa dứt khoát muốn thoát Trung. Ngày 1/7 phát biểu trước cử tri Hà Nội “bức xúc” vì tình hình biển Đông, ông vẫn nói về Trung Cộng như “người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau”, và cho rằng làm gì thì cũng phải “giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, không để nội bộ rối ren” (2).

Dù đảng có nói gì đi nữa, tôi biết đảng thừa hiểu rằng chỉ có thể dựa vào Mỹ để ngăn cản âm mưu lấn chiếm lãnh thổ của Trung Cộng đối với Việt Nam nên hôm nay họ “lo lắng không yên” cũng là phải. Đảng biết kịch bản các nước lớn bắt tay để chia chác lợi ích trên vai các nước nhỏ là chuyện xưa nay không thiếu. Nhưng với những tuyên bố như trên từ người lãnh đạo cao nhất nước, làm sao Mỹ yên tâm để “bắt tay” với Việt Nam?
Khu tự trị Việt Nam
Mỹ và Trung Cộng, trong chiến lược đường dài dĩ nhiên họ là đối thủ, nhưng trong chiến thuật ngắn hạn, sự liên minh tạm thời là điều luôn luôn có vì những lợi ích kinh tế. Nhất là Mỹ, bản thân nhà nước Mỹ xây dựng trên học thuyết Tư Bản, có nghĩa là các bước đi ngoại giao, chính trị, quân sự nào đó… thì cũng chỉ phục vụ cho lợi ích kinh tế. Trong quan hệ Mỹ-Trung-Việt cũng thế, khi Mỹ xét chọn, kết quả kinh tế sẽ là yếu tố quyết định cho quả cân nghiêng về bên nào.
Trừ khi Trung Cộng xâm phạm đến Mỹ (hoặc những đồng minh lâu đời của Mỹ) một cách thẳng thắn và bá đạo thì khác, còn lại đối với những nước mà quan hệ “chưa đạt được gì cụ thể” như kiểu Việt Nam thì dù Trung Cộng có “bắt nạt” kiểu nào, mà Việt Nam lại vẫn “lừng khừng” muốn “bắt cá hai tay”, Mỹ dĩ nhiên phải tính toán “được-mất”. Trong tình thế đó thì lợi ích kinh tế sẽ là yếu tố chi phối quan trọng, theo đó Mỹ sẽ chọn chiến thuật mà cả Mỹ và Trung Cộng đều có sự hài lòng tương đối. Việt Nam với một thị trường tiêu thụ chỉ bằng 8% thị trường Trung Cộng, kim ngạch Mỹ- Trung cũng cao hơn kim ngạch Mỹ-Việt gấp hơn 10 lần, dĩ nhiên Mỹ phải ưu tiên Trung Cộng hơn Việt Nam trong các quyết sách đối ngoại ngắn và trung hạn của mình theo nhu cần trong từng thời điểm.

Về địa chính trị, biết rằng vai trò của Việt Nam là quan trọng ở Biển Đông và với dự án Kênh Đào Kra, nhưng Mỹ cũng không thể bảo vệ Việt Nam được nếu đảng cầm quyền Việt Nam không tỏ ra một thiện chí cho thấy họ thật sự coi trọng quan hệ Việt-Mỹ hơn quan hệ Việt-Trung. Đó là nói về mặt lý thuyết chiến lược, còn lý thuyết chiến thuật ngắn hạn hiện nay thì Mỹ cũng không thể bảo vệ Việt Nam được khi mà về công khai, chưa có hiệp ước quân sự hay đồng minh chiến lược nào được ký kết chính thức giữa hai nước.
Trong quá khứ đến hiện tại (và nhiều khả năng là sẽ còn tiếp diễn ở tương lai), Việt Nam (dưới sự dẫn dắt của đảng CS) đã nhiều lần từ chối các bàn tay mà Mỹ chìa ra cho mình, khiến cho quan hệ Mỹ-Việt chiều rộng thì có mà chiều sâu thì chưa vì vốn dĩ thể chế hai bên khác nhau, và đa số người dân Việt Nam (trong và ngoài nước) đều không tin cậy chính quyền Việt Nam, thì làm sao Mỹ tin cậy đảng cầm quyền Việt Nam để cùng tiến vào chiều sâu được?

Mỹ cần Việt Nam cho chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á, nhất là trong chính sách xoay trục hiện nay không ? Khẳng định là có. Chính vì thế nên từ năm 1991 Mỹ xem xét bỏ cấm vận, tái lập quan hệ đại sứ, ủng hộ cho Việt Nam vào Asean, WTO… cấp quy chế có lợi cho Việt Nam trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ… khi các ông thủ tướng Việt Nam sang Mỹ vận động và xin giúp đỡ. Mới nhất là Mỹ đã “thông cảm” cho Việt Nam được tạm hoãn và thi hành dần dần một số điều kiện để vào TPP bất chấp nội lực của Việt Nam là yếu nhất và mô hình chính trị “không giống ai” của Việt Nam trong khối đó. Sự kiên nhẫn của chính phủ Mỹ với đảng cầm quyền Việt Nam theo tinh thần “chúng ta cùng thắng” (win-win) là thiện chí ai cũng có thể thấy và không thể phủ nhận.
Thế nhưng bất chấp các thiện chí trên của Mỹ, đảng cầm quyền luôn lý luận rằng quan hệ với Mỹ không cần thiết bằng quan hệ với Trung Cộng, vì mục tiêu giữ đảng và đường lối XHCN. Ngay cả khi lúc này, dù đa số nhân dân (và các đảng viên thân Mỹ) cũng đã biết rằng dã tâm của Trung Cộng là lấn chiếm lãnh thổ (cả trên biển và đất liền) của Việt Nam. Dùng miếng mồi ý thức hệ XHCN để chi phối hệ thống chính trị Việt Nam, Trung Cộng đã và đang tiến tới việc biến Việt Nam chỉ còn là một quốc gia độc lập trên danh nghĩa nhưng trong thực tế thì ở tư thế như một “tỉnh tự trị” của Trung Cộng. Các điều kiện cần của âm mưu này đều đã thể hiện ra bằng các thỏa thuận “ngầm” song phương mang tính áp chế và ràng buộc mà đến nay phe chính quyền đang xì ra cho dân biết dần dần.
Cường quốc thôn tính nước nhỏ tưởng chỉ có một bài bản. Đó là làm nước nhỏ suy yếu về nội lực, phụ thuộc về kinh tế-chính trị-quân sự… cô độc về ngoại giao để không phản kháng được. Điều này đảng cũng biết, thế nhưng đảng vẫn đưa Việt Nam sa vào ngày càng sâu. Trong các bước đi quan trọng, Trung Cộng đều muốn Việt Nam phải đi theo và đi sau mình. Sự kiện Trung Cộng cản trở Việt Nam gia nhập WTO là một ví dụ gần và dễ thấy nhất.
Sau năm 1972, Mao Trạch Đông chủ động bắt tay với Mỹ để phát triển kinh tế theo học thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình để tái thiết Trung Cộng. Dù thế, họ vẫn ép đảng tiếp tục đánh Mỹ “đến người Việt Nam cuối cùng” và coi Mỹ là “thù địch”. Sau khi thành công trong việc làm Việt Nam xa lánh Nga và Mỹ, Trung Cộng đi các bước tiếp theo là tất yếu, xâm lấn lãnh thổ và tìm cách “chi phối chính trị để gián tiếp đô hộ”. Tiến công chi phối-phá hoại toàn diện từ kinh tế, chính trị, an ninh quân sự cho đến việc hôm nay là các giàn khoan… tất cả là một bài bản nhịp nhàng logic và là chiến lược lâu dài.
Vậy quan hệ thân thiết với Mỹ hay với Trung Cộng, quan hệ nào có lợi và bất lợi cho Việt Nam hơn, chắc mọi người Việt “tử tế” đều thấy rõ. Đảng, dù “lú” tới mấy, chẳng lẽ không thấy sao, nhưng dường như đảng không muốn chọn lối đi tốt nhất cho đất nước và cho dân tộc. Nguyên nhân nằm ở đâu?
Gần đây nhất, Mỹ và các đồng minh trong khu vực Đông Á đều chính thức lên tiếng là sẽ ủng hộ Việt Nam nếu Việt Nam thoát Trung cũng như cải cách chính trị để nội lực mạnh lên, nhằm phụ họ trong việc kềm chế Trung Cộng trong đường dài, nhưng phe đảng quyền vẫn tỏ ra không muốn thực hiện.
Điều đó dĩ nhiên làm các nước phương Tây và đồng minh Đông Á càng có cơ sở để hoài nghi việc liệu họ có nên giúp đỡ Việt Nam mạnh mẽ hơn không? hay là họ giúp Việt Nam lúc này để rồi sau này Trung Cộng hưởng lợi vì Việt Nam vẫn là đàn em của Trung Cộng?
Nếu Việt Nam cứ tiếp tục chọn con đường trở thành “khu tự trị và là tiền đồn ĐNÁ” của Trung Cộng như lâu nay, thì tôi tin rằng Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam mà thỏa hiệp với Trung Cộng để làm dịu đi sự căng thẳng vì mấy cái giàn khoan lúc này. Nếu Việt Nam là “ông em” của “ông anh Trung Cộng” thì dĩ nhiên các “đại ca” như Mỹ sẽ không quan trọng đàn em nữa mà đàm phán với “ông anh-người có quyền quyết định”. Đó là phong cách làm việc của tư bản, nhanh gọn lẹ và đúng người đúng việc.

Điều này đã bắt đầu hé lộ khi chúng ta thấy các phát biểu của Tập Cận Bình (*) với John Kerry tại Bắc Kinh trong ngày 09/07/2014. Một mặt Trung Cộng khẳng định với Mỹ là lập trường của họ trong tranh chấp Biển Đông (với Việt Nam) hiện nay là đúng và sẽ không từ bỏ, một mặt Trung Cộng không muốn đối đầu với Mỹ và đề nghị củng cố thương mại để cùng nhau kiếm tiền. Tập Cận Bình dùng những từ ngữ mang tính hàm ý rất cao như “Đối đầu TQ – Mỹ chắc chắn sẽ là một thảm họa (Mỹ-Trung không nên vì một Việt Nam “thấp kém và không nhất quán” như thế mà đi đến đối đầu?). Phát ngôn của Tập Cận Bình hàm ý như thế e rằng không sai mấy nếu Việt Nam không nhanh chóng tỏ rõ lựa chọn đối ngoại của mình.
Nội dung quan chức hai bên như John Kerry và Tập Cận Bình nói ra cho thấy khả năng thỏa hiệp Biển Đông theo mô thức “bỏ Việt Nam qua một bên” là có cơ sở để nhận định nếu Việt Nam vẫn cứ “thiếu nhất quán” như lâu nay. Nếu đảng cầm quyền Việt Nam vẫn tự huyễn hoặc rằng Biển Đông, kênh đào Kra và cảng Cam Ranh là những lợi thế địa chính trị để mặc cả với Mỹ hơn là thiện chí chân thành hợp tác để hai bên cùng có lợi thì Mỹ sẽ bỏ thật. Công thức thỏa hiệp có thể dự đoán theo kịch bản: tranh chấp lãnh hải với các nước Philippin, Nhật Bản, Hàn Quốc (các đồng minh của Mỹ lâu nay) thì Trung Cộng nên và phải dừng lại (ít nhất là tạm thời trong lúc này) vì các nước này Mỹ không thể bỏ. Còn lại là Nga cứ ở Cam Ranh, Trung Cộng cứ lấy Hoàng Sa-Trường Sa và Mỹ sẽ giữ kênh đào Kra. Thế là xong vấn đề Việt Nam, và ba cường quốc Mỹ-Nga-Trung Cộng tạm chấm dứt vấn đề Biển Đông để quay qua các khu vực khác. Kịch bản đó đối với Việt Nam chính là thời kỳ Hán thuộc lần thứ 3.
Cơ hội cuối cùng cho tất cả

Một quốc gia Do Thái Giáo nhỏ bé như Israel mà quyết tâm lập quốc và làm mình lớn mạnh lên được trong một khu vực toàn các quốc gia Hồi Giáo, là nhờ làm đồng minh với Mỹ-Âu châu. Dù khác nhau về hình thức nhưng giống nhau về bản chất trong kiểu như Việt Nam ở sát bên Trung Cộng. Vậy vì cái gì mà đảng cầm quyền Việt Nam không thể đưa đất nước làm được như dân Do Thái, phải chăng vì chủ nghĩa Mác Lê và quyết tâm tiến lên CNXH quan trọng hơn lãnh thổ và sự hùng mạnh, tự chủ của quốc gia-dân tộc trong một tư thế như Israel hôm nay?
Chừng nào đảng còn muốn giữ quan hệ cộng sản và XHCN cho “giống Trung Cộng” thì sẽ không có ông Mỹ- ông Âu nào có thể giúp gì được cho Việt Nam vì họ không tin và không cần mối quan hệ “thiếu nhất quán” đó. Nếu các quan chức trung ương đảng thuộc phe thân Mỹ lo sợ sự thỏa hiệp này sẽ làm Việt Nam “mất nước” như tôi nghe đồn sáng nay thì hãy nhanh chóng hành động trước khi quá trễ, đây là CƠ HỘI CUỐI CÙNG CỦA ĐẢNG để chọn con đường chuyển hóa từ trên xuống trước khi cuộc cách mạng quần chúng từ dưới lên xảy ra (mà các điều kiện cần và đủ đang dần hội tụ rồi). Coi chừng đây cũng là cơ hội cuối cùng, mà chọn lựa sai lầm sẽ “sai một ly đi một dậm”: sẽ dẫn đến mất nước và mất cả đảng.
Chuyện xưa không xét, nếu Hoàng Sa-Trường Sa mất lúc này, dân tộc Việt Nam “có đầy đủ thông tin và thẩm quyền” để nhận định: “tội là ở đảng”.
Nguyễn An Dân
http://kekhopk.com/forums/index.php?showtopic=59267

Thứ Năm, ngày 10 tháng 7 năm 2014

GS Nguyễn Đăng Hưng - Đứa Con Ngỗ Nghịch Và Đứa Con Hoang, Ai Hơn Ai?

GS Nguyễn Đăng Hưng

Bình luận của GS Nguyễn Đăng Hưng: Cứ nghĩ Triều Tiên điên rồ cam phận chạy theo chủ nghĩa viễn vông làm tay sai cho Trung Cộng. Triều Tiên hiếu chiến, chỉ lo súng đạn khí giới hạch nhân, hoả tiễn công phá… Các hành động, chủ trương của chính quyền Triều Tiên những năm gần đây chỉ rõ sự xác đáng của những nhận định trên. Bởi vậy, đề xuất mới đây (http://www.kcna.co.jp/top-eng.html) của Triều Tiên thật bất ngờ!

Triều Tiên đã trở thành đứa con ngỗ nghịch!

Tuy nhiên, đối với những ai am tường địa chính trị, việc này đã có chuẩn bị từ một năm nay. Từ khi ông Kim Jong Un trẻ măng lên cầm quyền, ông ta đã tiêu diệt một cách khốc liệt nhóm thân Tàu đại diện không ai khác là cậu mình - ông Jang Song Thaek - một “nguyên lão công thần”, cánh tay phải của cố chủ tịch Kim Jong Il. Chính đám này là nhóm lợi ích, mấy chục năm nay đã bán rẻ tài nguyên thiên nhiên Triều Tiên cho Trung Cộng.

Ông Kim Jong Un đã chuẩn bị cho một sự xoay trục ngoạn mục!

Cứ tưởng Triều Tiên sẽ là nước cuối cùng ý thức được nguy cơ bá quyền Đại Hán, nhưng không, Triều Tiên đang đi trước một nước khác! Sao thấy có gì tương tự ở đâu đây? Một nước mà ngay cả khi giàn khoan của Tàu ô nghịch tặc ngang nhiên xâm phạm hải phận của mình, đâm vỡ tàu kiểm ngư của mình, bắt bớ hành hạ dân mình mà lãnh đạo gần như chưa tỉnh hẳn… Một nước mà lãnh đạo còn đặt quyền lợi phe phái mình lên trên quyền lợi quốc gia dân tộc, một nước mà bọn Tàu ô đã khinh bỉ ra mặt tặng cho danh hiệu là đứa con hoang, mà tỉnh Quảng Đông của chúng dám ra lịnh cho lãnh đạo thủ đô, lãnh đạo thành phố kinh kế lớn nhất phải nhanh chóng gởi cán bộ sang học tập nhận lịnh từ chúng… Ôi nỗi nhục này nước biển Đông Nam Á làm sao rửa cho sạch hỡi trời?! Nước đó là nước nào? Mọi chuyện nay sáng như ban ngày…

Sài Gòn ngày 8/7/2014

N.Đ.H.

Thứ Ba, ngày 08 tháng 7 năm 2014

BÀI PHÁT BIỂU LÀM RƠI LỆ NHIỀU NGƯỜI CỦA CON GÁI THẦY GIÁO ĐĂNG ĐỊNH

Trưởng nữ nhà giáo Đinh Đăng Định: Bố tôi yêu nước, không thể là chống nhà nước
VRNs (08.07.2014) – Sài Gòn – Ngày 11.07 tới đây là giáp 100 ngày thầy giáo Phêrô Đinh Đăng Định từ trần, do đó, hôm nay, gia đình cùng những người yêu mến ông đã tổ chức một lễ giỗ để cầu nguyện cho ông và cám ơn mọi người.
Cuối lễ, cô Đinh Phương Thảo, trưởng nữ của nhà giáo Đinh Đăng Định đã đọc một bài chia sẻ để cám ơn mọi người và nhất là minh định lại vị trí của bố cô trong xã hội Việt Nam.


Từ trái sang: An, Thảo, bà Dinh, Nga – vợ và ba cô con gái của thầy giáo Đinh Đăng Định
Đinh Phương Thảo
Con chào quý cha, quý thầy nhà thờ DCCT, con chào quý ông bà, cô bác, anh chị em và các bạn của con có mặt nơi đây.
Con xin phép thay mặt mẹ và 2 em của con, cảm ơn tình cảm của quý cha, quý thầy, quý ông bà, cô bác, anh chị em và các bạn dành cho bố con và gia đình con.
Thưa mọi người, Bố con là một thầy giáo nhưng cũng chỉ là một công dân bình thường như bao người khác. Nếu trong vũng bùn nhơ nhuốc của chế độ này, ông cũng vui vẻ chịu phục tùng, chịu chấp nhận số phận một ông giáo và dùng kiến thức học hành của mình để luồn cúi, để chạy chọt thì có thể đã thăng quan tiến chức trong ngành giáo dục tỉnh Đắk Nông; và nếu ông dùng kiến thức giáo viên dạy hóa cấp 3 của mình để chịu khó dạy thêm chạy sô 1 ngày mấy ca thì có lẽ cuộc sống kinh tế của gia đình con đã không phải rơi vào những tháng ngày lao đao vất vả.
Nhưng không, ông không hề làm như vậy. Trước khi bị bắt, bố con là chủ tịch Công Đoàn Trường THPT Lê Quý Đôn, và là ủy viên ban chấp hành công đoàn ngành GD tỉnh Đắk Nông. Trong nhiều cuộc họp công đoàn, ông yêu cầu công đoàn ngành GD lên tiếng, cứu hai nữ sinh (Thúy và Hằng) ở Hà Giang là nạn nhân bị giới quan chức Hà Giang (cầm đầu là cựu CT tỉnh Nguyễn Trường Tô) cưỡng dâm thành phạm nhân đang ở trong nhà giam, ra khỏi nhà giam. Làm thế là góp phần xây dựng môi trường GD thân thiện.
Ông yêu cầu công đoàn ngành GD lên tiếng về dự án Bô-Xít Đắk Nông, kêu gọi giáo chức Đắk Nông ký vào Kiến Nghị đang phát trên mạng truyền thông hợp pháp.
Ông bày tỏ tinh thần dân chủ, đa nguyên đa đảng.
Chỉ có thế thôi, mọi người ạ. Những việc bố con làm nhỏ bé lắm. Ông chỉ sống đúng với đạo làm người, đạo làm thầy thôi. Vì ông không thể dạy học trò những điều dối trá được. Ấy vậy mà ông bị công an tỉnh Đắk Nông khủng bố, bắt bỏ tù. Đau đớn thay, ở xã hội này, tất cả những người yêu nước, muốn xây dựng một đất nước dân chủ, đều bị chính quyền quy cho một tội danh thật nực cười là “Chống phá nhà nước”!
Càng độc ác, dã man hơn khi ở trong tù bố con liên tiếp bị nôn ra máu, bị đi cầu ra máu, bị đau bụng – những dấu hiệu ban đầu của chứng đau bao tử nhưng không hề được trại giam cho khám chữa bệnh kịp thời.
Mỗi khi ông đau quằn quại, trại giam chỉ cho ông đến phòng y tế- gọi là phòng y tế cho oai, chứ đúng ra nó là một phòng tù biệt lập, tù nhân nằm đó một mình và được các y sỹ của trại giam chích cho một liều thuốc không rõ nguồn gốc có tác dụng giảm đau. Cứ như thế, ngày này qua tháng nọ, bệnh tình của bố con ngày một nặng hơn, và đến khi trại giam cho bố con đi khám ở bệnh viện thì ông đã có khối u to bằng trái xoài trong bao tử của mình rồi!
Và càng bất nhẫn hơn khi mà mọi thông tin về bệnh tình của bố con không được phía trại giam bạch hóa. Trại giam nhưng thực chất là bộ Công An hay một thế lực vô hình nào đó đã gây áp lực với bệnh viện trong việc chữa trị cũng như cung cấp thông tin bệnh tình của bố con. Họ coi bệnh án của bố con như một tài liệu tuyệt mật. Như một món hàng để trao đổi với quốc tế văn minh.
Thưa mọi người, việc bố con được nằm trong nhà hài cốt này, có lẽ đúng là cái duyên của bố con với Chúa. Những ngày bố con nằm ở nhà, trong cơn đau đớn nhất, ông luôn cầu đến Chúa. Lúc ấy, ông chưa phải là con cái của Người, nhưng cứ mỗi lần đau, ông nói: “Ôi Chúa ơi, xin Người hãy chữa lành bệnh cho con. Nếu Người không thể chữa lành bệnh , thì xin Người hãy cho con được đi theo hầu hạ Người.” Và ông luôn dặn chị em con nhờ các cha trong nhà thờ DCCT ban tên Thánh cho ông. Hình như Chúa thương xót, không muốn bố con phải gánh chịu nỗi đau thể xác nữa, nên sau khi thu nhận bố con làm con cái của Chúa thì đêm 03/04, Chúa đã gọi bố con về với Ngài.
Bố con lúc sống đau đớn bao nhiều thì lúc rời cõi tạm, ông nhẹ nhàng thanh thản bấy nhiêu.
Cha Giám tỉnh DCCT chụp hình với gia đình và thân hữu của thầy giáo Đinh Đăng Định
Trong lễ liệm, lần đầu tiên con đã được nghe những ca từ này: “Từ vực sâu u tối, con cầu xin chúa chúa ơi! Từ vực sâu thương đau con đợi trông chúa nhậm lời.”chẳng hiểu sao mẹ con và 3 chị em con cứ khóc mãi. Đúng là lúc ấy chúng con đang đứng dưới vực sâu thật sự. Mặc dù đã chuẩn bị tinh thần cho sự ra đi của bố, nhưng chúng con vẫn đau vô cùng.
Thưa quý cha, quý thầy, thưa tất cả mọi người. Thấm thoắt đã 100 ngày bố con rời cõi tạm để đến với Chúa. Gia đình con vô cùng xúc động khi hôm nay mọi người tụ họp nơi phòng hài cốt của nhà thờ DCCT, cùng với gia đình con hiệp dâng lời cầu nguyện cho bố con.
Những đau khổ mà bố con cũng như các TNLT khác đã phải trải qua trong chốn lao tù, thì trong một buổi hôm nay không thể kể xiết. Nỗi đau khổ của riêng gia đình con cũng như những gia đình có thân nhân đi tù vì chống lại Cộng Sản độc tài cũng không thể kể xiết trong một buổi hôm nay.Chúng con lại trở về với nhịp sống thường ngày mặc dù nỗi mất mát vẫn còn đó. Con tiếp tục làm việc. Hai em con tiếp tục đi học. Mẹ con trở về quê nhà tiếp tục cầu nguyện cho bố. Chúng con sẽ cố gắng sống thật tốt, tốt hơn cả khi bố còn sống để cho những kẻ từng hãm hại bố con trước đây thấy rằng họ không thể diệt được lẽ phải. Thiện ắt thắng tà.
Thưa quý ân nhân, trên con đường chúng con đang đi, chúng con đã mất nhiều người bạn thân vì không cùng quan điểm; nhưng ngược lại chúng con lại có được biết bao nhiêu người bạn mới, tốt và luôn quan tâm đến bố con cũng như gia đình con. Con xin gửi lời tri ân đến quý ân nhân, quý cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội đã đồng hành cùng bố con và gia đình con thời gian qua.
Những gì bố con đã nói và làm chỉ minh chứng về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm của con dân Việt với đất nước; trách nhiệm của một nhà giáo với học sinh, của bậc phụ huynh với con cái. Nhất quyết không thể coi là chống đối nhà nước được.
Con muốn thay mặt người cha đã khuất của mình để lặp lại một điều mà ông đã từng viết:
Yêu nước không có độc quyền;
Tự do ngôn luận là giá trị căn bản của nhân loại.
Độc tài hết thời rồi.
Con chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Chủ Nhật, ngày 06 tháng 7 năm 2014

Thư tâm tình của BS Huỳnh Tấn Mẫm gởi các bạn Thanh niên.- sinh viên- học sinh

Bs Huỳnh Tấn Mẫm
Sài Gòn, ngày 4  tháng 7 năm 2014

Cùng các bạn Thanh niên-Sinh viên-Học sinh thân mến,

Tôi là Huỳnh Tấn Mẫm, không mang một danh phận nào trong guồng máy công quyền hay một địa vị xã hội, tôi chỉ là một thanh niên – nếu các bạn cho tội dùng từ nầy- một thanh niên nhiều tuổi, và hơn thế, là một công dân có ý thức trách nhiệm về tình hình đất nước hiện nay. Tôi tiếc là không còn nhiều thời gian và sinh lực như các bạn, để có thể cống hiến một cách xứng đáng và trọn vẹn cho một vận hội mới đang đến với dân tộc.

Như các bạn đã biết, sự kiện giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc hiện diện hai tháng nay ở vùng lãnh hải Việt Nam, không phải là sự kiện lớn đơn thuần, mà nó biểu hiện một tiến trình vô cùng hệ trọng đối với sinh mệnh của Tổ Quốc chúng ta,  nó là màn mở đầu công khai cuộc xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ, lãnh hải nước ta trong kế hoạch có quy mô thôn tính cả biển Đông, từng bước khống chế toàn vùng Đông Nam Á, để thực hiện mộng siêu cường bá chủ không giấu diếm của mình. Nó còn bộc lộ cho toàn dân ta biết mối quan hệ mờ ám được che dấu lâu nay dưới các từ ngữ và khẩu hiệu đẹp đẽ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với Việt Nam ta.

Nhưng đồng thời cũng cần hiểu rằng đây là vận hội mới cho dân tộc, vì nó mang ý nghĩa thức tỉnh toàn diện của một giai đoạn lịch sử, bởi toàn bộ sự thật đã được phơi bày. 

Việt Nam là một nước nhỏ về quy mô dân số và diện tích so với họ, lại chậm phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật, về công nghệ thông tin, công nghệ quân sự… lại đúng vào lúc xã hội đang suy yếu, kinh tế bên bờ vực thẳm, tầng lớp lãnh đạo thì suy thoái tư tưởng- đạo đức- lối sống, tham lam, nhửng nhiểu đầy khắp. Thử hỏi trong tình thế đó làm sao có thể đối địch trước một tham vọng vĩ cuồng như thế của đối phương ?

Câu hỏi ấy đang xoáy vào lòng mỗi người dân nước ta, và chúng ta thật sự day dứt về một câu trả lời.

Dù chúng ta yêu hòa bình bao nhiêu, chân thành mong muốn hữu nghị bao nhiêu, tất cả cũng bằng thừa, nếu không nói là tự huyễn hoặc lấy mình, trước tham vọng của chủ nghĩa Đại Hán phương Bắc.

Bành trướng Bắc Kinh đang tiến công chúng ta ở thế áp đảo về bạo lực, thế thượng phong về kinh tế, đánh phủ đầu ta về ngoại giao tuyên truyền. Quan chức cao cấp của Trung Quốc - Dương Khiết Trì- đến nước ta, đưa ra một thông điệp với tư cách cao ngạo của một nước lớn, thể hiện mối quan hệ bất bình đẳng không phải đột nhiên mới có: yêu cầu ta chấm dứt cái gọi là “quấy nhiểu” chúng ở gian khoan HY981, đe dọa nếu ta kiện chúng ra tòa án quốc tế, ta sẽ nhận lấy “hậu quả” khôn lường. Nếu ta “ngoan cố” không hàng phục, chúng sẽ phong tỏa kinh tế, phong tỏa bờ biển đông, và mọi tai họa khác sẽ xảy đến. Chúng ngăn cản ta không được mở rộng liên minh quân sự với Mỹ và các nước khác, bởi làm như thế chúng quy là ta mang tội “khiêu khích” chúng.

Các bạn thử nghĩ xem. Họ bao vây và khống chế ta, nhưng không cho ta la lên để nhờ người can thiệp, không cho ai giúp sức, vâng, trói lại và đánh, buộc ta phải tự nguyện đầu hàng !

Qua cách nói và hành động của họ, cơ hồ như ta đã là quốc gia phụ thuộc không có bao nhiêu chủ quyền.?                       

Các quốc gia có chủ quyền, có quan hệ bình đẳng, bất kể là nước lớn hay nhỏ, chưa từng nói năng như thế. Hồ đồ, trịch thượng phải bắt nguồn từ một thực tế. Song, yếu kém, nhu nhược vốn cũng không phải không có nguyên nhân. Có khi là sự tương thích bắt nguồn từ những sự kiện chưa bộc lộ từ phía nhà cầm quyền nước ta chăng ? Dù sao cũng đã có một câu phương ngôn đáng nhớ : “Nếu ta đứng lên, là ta ngang hàng, nếu ta quỳ xuống, thì ngang rốn đối phương”..

Các bạn thân mến,

Đó là kết quả của một thực tế yếu kém, hay từ một tinh thần bạc nhược, hay cả hai ? Sự than trách hay nguyền rủa đối phương lúc nầy quả là một sự xa xỉ

Làm công dân của một nước, làm sao ta không thấy đau lòng khi đất nước bị xâm lăng? Làm sao ta không thấy nhục khi bị kẻ khác lăng nhục vào dân tộc mình? Trên những con đường mà các bạn đi làm hay đi học hằng ngày, trong công viên mà các bạn dạo chơi, trong sách sử mà các bạn đã đọc, luôn phảng phất bóng dáng của tiền nhân, mang tên những vị anh hùng, trong lịch sử hằng nghìn năm trải qua từng thế hệ, đã chống trả lại bọn xâm lược phương Bắc oanh liệt ra sao, và không hề khiếp sợ. Tiền nhân đã để lại cho chúng ta một giang sơn vẻ vang. Đến lượt chúng ta, chúng ta không thể thoái thác, và không hề thoái thác bởi bất cứ lý do gì, để hết lòng bảo vệ giang sơn ấy.

Nhưng lời tâm tình của tôi là vô nghĩa, nếu tôi không nói với các bạn rằng, sức mạnh có ưu thế nhất đang lớn lên từ trong tim và trong trí tuệ của các bạn, là niềm hy vọng của dân tộc - những thế hệ Thanh niên-Sinh viên-Học sinh hôm nay. Các bạn đang đứng ở đầu thề kỷ 21 của một nhân loại đang toàn cầu hóa, mà tri thức thì trở nên vô biên giới và không ai có thể che dấu hay độc quyền được.

Một cuộc chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc bằng mọi biện pháp và thông minh mà các bạn sẵn sàng dấn thân, và một xã hội mà các bạn cần xây dựng, có tương lai như thế nào, là hai vấn đề quyện vào nhau mà có lẽ các bạn đang suy nghĩ ?

Để có một đất nước độc lập tự do, trước hết mỗi chúng ta cần có một trí tuệ độc lập tự do, không để bị nhuộm đen, nhuộm đỏ, hay bất cứ màu nào khác, nó phải là lòng yêu nước nồng nàn, trong sáng, yêu hòa bình độc lập và dân chủ bằng một nhận thức kịp thời đại. Một cuộc chiến đấu chỉ bằng niềm tin và sinh mạng dù rất cao cả, nhưng nó sẽ đem lại một kết quả ra sao ?

Một xã hội các bạn mong muốn, chưa biết là thế nào, nhưng ít nhất, và chắc chắn nó không thể là một xã hội như các bạn đang nhìn thấy, nó đầy dẩy những bất công, trên một tầng nền của hẹp hòi và thiển cận, nó không bao giờ là bền vững !

Tôi không muốn nói một câu như sáo ngữ: tương lai đang nằm trong tay thanh niên, với nghĩa nó là màu hồng. Không, có thể nó không đến các bạn với màu hồng, nò tùy thuộc vào ý thức của các bạn. Đó là cái nhìn thẳng vào thực tế với đôi mắt biết đúng sai và nói được tiếng nói của trái tim mình. Một cuộc chiến đấu sẽ rất mạnh mẽ khi nó có đầy đủ chân lý.

Điều tôi muốn nói cùng các bạn, chúng ta phải cương quyết làm người công dân tự do, dù xã hội chưa có luật pháp thừa nhận tự do đúng nghĩa. Chúng ta cương quyết làm con người có quyền con người, dù quyền con người chưa được thừa nhận đầy đủ. Chúng ta có quyền và có nghĩa vụ - quyền sống tự do và nghĩa vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ. Tôi trộm nghĩ, tự do trong bối cảnh Việt Nam hôm nay quan trọng hơn vì nó chứa cả sự độc lập. Tôi muốn nói đến một thể chế dân chủ, một xã hội dân sự, nó sẽ không bị đem ra mua bán hay đổi chác bất ngờ bởi một đất nước, nếu nằm gọn trong tay của một nhóm người độc quyền.

Chúng ta tin tưởng sẽ giữ được độc lập tự do, sẽ bào vệ được giang sơn vì chúng ta có hai điều quan trọng :

Một, chúng ta có chính nghĩa, lẽ phải ở về phía chúng ta. Thế giới bây giờ là sự liên kết rộng lớn và có sức mạnh vô tận, vấn đề là ta có làm cho sức mạnh ấy hội tụ lại được hay không ? Chúng ta có làm rõ chính nghĩa để xứng đáng được nhận sự ủng hộ đó hay không ? Chế độ phát xít của Bắc Kinh hiện nay với chủ trương bạo lực và bành trướng đang tự đào mồ cho mình, và nhân loại sẽ chôn chúng. Tôi tin chắc chắn điều đó sẽ xảy ra như lịch sử nhân loại đã cho thấy.

- Hai, chúng ta biết sửa mình. Một quốc gia hùng mạnh là vì có phương hướng đúng, một quốc gia yếu kém là vì có phương hướng sai. Đó là một thể chế chính trị tiến bộ hay lạc hậu, có tạo được sức mạnh đoàn kết của toàn dân hay không mà Việt Nam ta phải cấp bách xem xét để sửa đổi. Sự sửa đổi đó phải đến từ sức mạnh đoàn kết của nhân dân, kể cả những lực lượng, những con người từ trong bộ máy nhà nước, và đồng bào ở nước ngoài. 

Tôi tự hỏi, có lẽ cũng giống như các bạn, vì chúng ta không muốn hy sinh xương máu khi chưa cần thiết, và nếu chúng ta là chính nghĩa, tại sao chúng ta không dám kiện để đưa họ ra tòa án quốc tế ? Thế giới ngày nay không còn ở thời kỳ hồng hoang, nhân loại không phải là bầy thú trong rừng để con lớn dễ dàng dày xéo con bé, hay chính chúng ta mang mặc cảm tự ti, tội lỗi và hẹp hòi mà không dám nhìn nhận và tiếp nhận sức mạnh đang rộng mở của thời đại ? Làm sao chúng ta có thể tin là an toàn và có giá trị khi tự thu mình, núp vào hang ổ “hữu nghị” giả dối dưới nách của kẻ xâm lược?

Thưa các bạn,

Bao giờ, hay ngay bây giờ chúng ta có thể cất lên tiếng nói thống nhất, mạnh mẽ đối với những người đang mang trọng trách dẫn dắt dân tộc ?

Hiện nay, tôi không tán thành nhiều điều, trong đó có hai điều căn bản và cấp bách mà Chính phủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang thực hiện :

1- Đặt Hiến pháp cũng như luật pháp của một Quốc gia dưới cương lĩnh và các chỉ thị của Đảng Cộng Sản. Thay vì ngược lại, Đảng Cộng sản phải đặt mình dưới Hiến pháp và luật pháp nhà nước, với chức năng là thi hành chứ không phải chỉ đạo. Từ sự trái ngược đó, với quyền hành độc đoán trong tay, Đảng đã tự tha hóa và suy thoái, (như đã tự thừa nhận) đưa đến một Chính phủ thiếu trách nhiệm và không hiệu quả, làm cho xã hội rệu rã, không phát triển và mất dần sức sống, người dân trở nên lơ láo, mất phương hướng và tích lũy nỗi bất bình. Tình trạng nầy là điều kiện phù hợp ý muốn của kẻ xâm lược.

 2- Đường lối đối ngoại hiện nay, là thuộc về Đảng Cộng Sản, cụ thể là Bộ Chính Trị, chứ không phải do một Chính phủ của nhân dân, vì thế đã không giữ được tư thế chính danh của một Quốc gia, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc. Các từ ngữ:  hữu nghị, bạn, môi răng, đồng chí, anh em, 16 chữ vàng (1), 4 tốt…đã xóa tan tư cách và khoảng cách phải có của một quốc gia với một quốc gia. Mối quan hệ mang tính chất tình cảm quá đà và độc hại đó đã tràn ngập trong tư tưởng giới lãnh đạo, quan chức, các đoàn thể, kể cả Đoàn TNCS mới lớn sau chiến tranh, thể hiện lời nói, , phong cách trong các văn kiện cũng như trong cách hành xử, chứng tỏ một tinh thần dựa dẫm, bấu víu, lệ thuộc, thiếu tự tin của tâm lý nhược tiểu chưa trưởng thành về mặt quốc gia, làm mất quốc thể, của giới lãnh đạo hiện nayLẽ ramối quan hệ không chính danh đó phải được chấm dứt, khi chiến tranh chấm dứt và đất nước thống nhất. “Ân đền oán trả” gì khi còn nằm trong rừng sâu suối lạnh, thì cũng phải minh bạch trong chính sách ngoại giao, không “giáo dục” toàn dân theo cách “xóa tan biên cương” mập mờ như thế được ! Vì thế, làm sao trách thái độ kẻ cả của Dương Khiết Trì khi bảo Việt Nam “quấy rối” chúng ở giàn khoan, hay kêu gọi Việt Nam “ đứa con đi hoang hãy sớm quay đầu về”, hoặc bí thư Quảng Đông gởi “danh mục công việc phải làm” cho Bộ Ngoại giao ta ?                            
Tôi sống ở miền Nam, và biết người dân miền Nam đều nhận thấy cực kỳ phẫn nộ về cách ngoại giao xa lạ như trên.

Thưa các bạn,

Văn hóa ngoại giao cũng là biểu hiện chiều sâu của thực thể. Lẽ nào tôi dám nói ép, nói oan cho các lãnh đạo Việt Nam chăng, khi cho rằng, mối quan hệ được biểu hiện như thế là xuất phát từ hành vi và tư duy lệ thuộc do quán tính, hoặc do “tận đáy lòng” ?

Tôi không tán thành về mối quan hệ bất bình đẳng, được gọi là “hữu nghị” giữa Việt Nam và Trung Quốc lâu nay, mà ông Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cố gắng níu kéo một cách vô vọng trong cô đơn và sợ hãi, có tác dụng cuốn cả đất nước rơi vào quỹ đạo của bành trướng Bắc kinh. Tôi cho rằng Trung Quốc là không đáng sợ, một nước rộng về đất, đông về dân, mạnh về bạo lực, chứ không hề là một nước lớn với ý nghĩa là có sức mạnh văn hóa, văn minh và đáng nể trọng. Không tự cúi người xuống để phong Trung Quốc là đại ca vô địch. Cũng không thể có ý nghĩ đến việc có thể hay không thể “rinh” đất nước chạy đi nơi khác với lời than thở vô nghĩa: “Có ai chọn được láng giềng đâu!” Thật ra đó là ý của một tướng Tàu đã nói ở Hà Nội các đây hai năm, nhằm đe nẹt Việt Nam đã lỡ nằm cạnh Trung Quốc, không thể “chọn” thân phận khác được đâu, lẽ ra không nên lặp lại theo cách áo não như thế. Thủ tướng Nhật, chưa từng than van chuyện phải bê mấy hòn đảo của mình đi đâu. Nữ Tổng Thống Hàn quốc cũng không có một lời nào tương tự…!

Tôi chân thành bày tỏ, chia sẻ cùng các bạn về niềm tự tin và tự hào của dân tộc, trước vó ngựa của quân Nguyên-Mông xưa, nay là trước sự hung hăng của quân Tập, với tinh thần là nhân dân phải biết làm chủ vận mệnh của mình, thông qua một thể chế dân chủ bởi một Hiến Pháp đứng đắn, và quan hệ bình đẳng không lệ thuộc Bắc Kinh. Đó là khẳng định căn bản và lâu dài, dù cho nay mai giàn khoan có thể rút đi, hay thay một chiếc khác. Mối quan hệ giữa “hai” dân tộc – theo nghĩa dân sự -  xưa nay chưa từng có vấn đề, ngoại trừ bọn cầm quyền hung hăng mỗi lúc. Nhắc lại điều nầy với dân chúng cũng lại là một xa xỉ nữa.

Hai điều nêu trên, không phải là vô cùng hệ trọng của hiện tình đất nước đáng trăn trở hay sao ?

Chúng ta không để sự thờ ơ của hôm nay là nỗi hối tiếc của ngày mai. Chúng ta không muốn một đồng bào nào của mình phải tự thiêu như người Tây Tạng, không muốn những nhóm thanh niên ta đến lúc phải vung dao liều chết vào bọn Hán tộc ở các bến tàu như ở Tân Cương. Và chúng ta cũng cần tinh tường cảnh giác về những kẻ diễn hài nội địa.

Một phương châm chân chính đã từng vang lên trong lòng dân tộc : “Chúng ta yêu hòa bình nhưng sẵn sàng chiến tranh” để bảo vệ Tổ quốc.

Mong rằng tôi có nhiều cơ may được gặp các bạn, góp phần nhỏ bé của mình cùng các bạn bước tới, cùng cả đất nước đứng hẳn lên đấu tranh, giữ vững độc lập trước sự khống chế và xâm lược của Bắc Kinh, xây dựng một xã hội dân sự vững chắc, công bằng và dân chủ. 
                                      
Ao ước thay !

Trân trọng kính chào.

Huỳnh Tấn Mẫm- một thanh niên nhiều tuổi../.


Tác giả gửi Quê Choa

Bách Việt - 6 cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc (*)

Link : http://trankinhnghi.blogspot.com/2014/07/6-cuoc-chien-tranh-trong-50-nam-toi-cua.html

(*) Trước bối cảnh tình hình biển và quan hệ Việt-Trung căng thẳng cao độ Bách Việt xin mạn phép  đưa lại tài liệu này (của học giả TQ được dịch từ bản gốc tiếng Trung đăng trên tạp Chí Nghiên cứu biển Đông (VN) tháng 8/ 2011)  tại đây . Qua tài liệu này để thấy không phải ngẫu nhiên mà Bắc Kinh mới đây cho phát hành "bản độc dọc" của TQ trong đó thể hiện lãnh thổ trong mộng của họ bao gồm cả các vùng đất và biển đã đề cập trong 6 cuộc chiến tranh. Tất nhiên mộng ước là môt chuyện, có đạt được không là một chuyện khác; không loại trừ khả năng nước TQ sẽ bị chia thành 6 nước cũng nên(?)  - Bách Việt 

Bài trên trang China News về 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc sẽ phát động trong 50 năm tới. Sau khi dùng vũ lực thống nhất với Đài Loan thì mục tiêu tiếp theo là phát động chiến tranh để thu hồi các đảo ở Biển Đông.

Trung Quốc là một nước lớn chưa thống nhất, đây là nỗi nhục của dân tộc Hoa Hạ, là nỗi hổ thẹn của con cháu Viêm Hoàng để thống nhất đất nước và sự tôn nghiêm của dân tộc, trong vòng 50 năm tới, Trung Quốc cần phải tiến hành 6 cuộc chiến tranh.

Cuộc chiến tranh thứ nhất : Thống nhất Đài Loan (giai đoạn 2020 - 2025)

Mặc dù, quan hệ hai bờ hiện nay đang có xu hướng đi vào hòa hoãn, nhưng đừng hy vọng nhà đương cục Đài Loan (cho dù là Quốc dân đảng hay Dân tiến đảng) muốn thống nhất hòa bình với Trung Quốc đại lục, vì điều này không phù hợp với lợi ích tranh cử của đảng cầm quyền tại Đài Loan, cho nên trong thời gian dài sẽ tiếp tục nêu chủ trương giữ nguyên hiện trạng với Trung Quốc đại lục (như vậy đều có lợi cho hai đảng, Dân tiến đảng hung hăng một chút, Quốc dân đảng hòa hoãn một chút, cả hai đều giành được lợi ích chính trị trên chính trường Đài Loan), “độc lập” nhưng không dám “độc lập” thật sự, chỉ có thể kích động dư luận để kiếm lợi, trong khi đó “thống nhất” cũng sẽ là không “thống nhất” thật sự, chỉ có thể là đề cập chung chung. Đài Loan không thống nhất, đây là một tổn thương lớn nhất của Trung Quốc.

Cho nên trong 10 năm tới, tức trước năm 2020, Trung Quốc cần phải nắm cho được phương châm chiến lược thống nhất, tuyên bố trước Đài Loan về thời hạn cuối cùng để thống nhất đất nước là năm 2025, hoặc là Đài Loan chấp nhận thống nhất hòa bình (đây là kết quả mà toàn thể người Hoa trên khắp thế giới mong đợi), hoặc là phải sử dụng vũ lực để thống nhất (đây là sự lựa chọn duy nhất mà Trung Quốc đại lục buộc phải làm). Để thống nhất, Trung Quốc phải làm tốt công tác chuẩn bị từ 3 đến 5 năm (thời điểm này, Trung Quốc hoàn toàn có đủ thực lực quân sự để thống nhất Đài Loan, như hàng không mẫu hạm của Trung Quốc chính thức được đưa vào biên chế, máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 4 được hoàn thiện…), khi thời điểm đến, cho dù là sử dụng phương thức thống nhất như thế nào, Trung Quốc vẫn nhất định phải thống nhất, đây là một sứ mệnh lịch sử của dân tộc Hoa Hạ.

Theo phân tích tình hình hiện nay, Đài Loan tất sẽ cự tuyệt thống nhất, Trung Quốc đại lục duy nhất chỉ có con đường sử dụng vũ lực để thống nhất. Cuộc chiến tranh thống nhất này là một cuộc chiến tranh đích thực mang ý nghĩa hiện đại hoá kể từ sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, là một cuộc chiến tranh kiểm nghiệm toàn diện sức chiến đấu hiện đại hoá của quân đội Trung Quốc. Trong cuộc chiến này, Trung Quốc có thể dễ dàng giành chiến thắng, nhưng cũng có thể sẽ gian nan giành chiến thắng. Tình hình này phụ thuộc vào quyết định tham chiến của Mỹ, Nhật Bản đối với Đài Loan. Mỹ, Nhật Bản viện trợ cho Đài Loan, thậm chí xuất quân phản công Đại lục, Trung Quốc buộc phải sử dụng tổng lực để đối kháng Mỹ, Nhật Bản, như vậy sẽ trở thành cuộc đại chiến gian khổ và kéo dài. Nếu Mỹ, Nhật Bản không dám đối kháng với Trung Quốc, để Trung Quốc đại lục thu hồi Đài Loan, quân đội Đài Loan đương nhiên không thể chống đỡ, nhiều nhất là 3 tháng là có thể kiểm soát hoàn toàn Đài Loan.

Mặc dù hiện nay ai cũng cho là Trung Quốc có đủ khả năng chống lại các thế lực can thiệp, nhưng trước khi thu hồi Đài Loan, tốt nhất là tiến hành bố trí thế cục, để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến, như vậy Trung Quốc mới có thể thần tốc đánh chiếm Đài Loan. Vậy phải bố trí thế cục như thế nào để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến? Tốt nhất là gây ra một, hoặc hai cuộc chiến tranh trước đó, ví dụ như chiến tranh Ixraen-Iran, chiến tranh Nga-Nhật, chiến tranh Ấn Độ-Pakixtan, hay đối đầu giữa hai miền Triều Tiên, như vậy Mỹ, Nhật Bản khó có thể kịp thời hoặc không dám tham chiến.

Đương nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, cuối cùng Trung Quốc đều giành chiến thắng, đây là điều không phải nghi ngờ. Nhưng khác biệt ở chỗ, nếu Mỹ, Nhật Bản tham chiến, nguyên khí kinh tế của Trung Quốc sẽ bị tổn thương nặng nề; nếu Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không tham chiến, kinh tế của Trung Quốc sẽ không bị tổn thất. Tuy nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, về mặt quân sự, Trung Quốc sẽ có bước phát triển mang tính nhảy vọt. Vì sau khi thống nhất Đài Loan, hợp nhất kỹ thuật quân sự của Đài Loan, trong vòng từ 5 đến 10 năm, kỹ thuật quân sự của Trung Quốc sẽ có bước phát triển vượt bậc.

Trong cuộc chiến này, Mỹ không tham chiến còn có thể giữ được địa vị độc bá của mình, một khi tham chiến, địa vị độc bá tất bị lung lay. Sau khi bị tổn thất nặng nề trong cuộc chiến này, địa vị bá chủ thế giới của Mỹ sẽ bị các nước nghi ngờ, đặc biệt là các nước nhỏ Đông Nam Á, đối diện với một Trung Quốc láng giềng hùng mạnh, buộc các nước này không thể không tính toán lại xem đi theo hướng nào, đi theo ai. Mỹ không tham chiến còn có thể duy trì địa vị bá chủ thế giới khoảng 40 năm nữa, trong 40 năm này, Trung Quốc sẽ không có cớ thách thức bá quyền của Mỹ, Trung Quốc chỉ có thể tiếp tục chuyên tâm vào sự nghiệp thống nhất đất nước.

Điểm có lợi nhất của cuộc chiến thống nhất Đài Loan là Trung Quốc đã phá vỡ chuỗi đảo bao vây thứ nhất của Mỹ, để hướng ra Thái Bình Dương, như vậy Trung Quốc từ đó có thể tiến quân ra đại dương, mở rộng lợi ích thiết thân của Trung Quốc.

Cuộc chiến tranh thứ hai : Thu hồi các đảo tại Biển Đông (giai đoạn 2025-2030)

Sau khi Trung Quốc thống nhất Đài Loan, nghỉ ngơi chỉnh đốn nhiều nhất là 2 năm, trong khoảng thời gian này Trung Quốc tuyên bố với các nước có tranh chấp tại Biển Đông về thời hạn cuối cùng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo là năm 2028, tất cả các nước có thể đàm phán với Trung Quốc trong khoảng thời gian này. Trung Quốc sẽ xuất phát từ quan điểm láng giềng hữu nghị và phong cách nước lớn, Trung Quốc còn có thể bảo đảm một phần lợi ích kinh tế của các nước xung quanh đã đầu tư vào các đảo ở Biển Đông, nếu không Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo, đồng thời tịch thu toàn bộ lợi ích kinh tế, cũng như các khoản đầu tư trên các đảo này.

Cuộc chiến tranh thứ ba: Thu hồi Nam Tây Tạng (giai đoạn 2035-2040)

Hai mươi năm sau, mặc dù thực lực quân sự của Ấn Độ không bằng Trung Quốc, nhưng khi đó cũng sẽ là một trong số không nhiều nước lớn trên thế giới, vì vậy “đá chọi với đá” chắc chắn sẽ chịu nhiều tổn thất, cho nên tác giả cho rằng tốt nhất là ngay từ bây giờ Trung Quốc phải tìm mọi cách khiến Ấn Độ bị chia cắt thành mấy nước nhỏ, để Ấn Độ không còn sức đối kháng với Trung Quốc, tuy nhiên sách lược chia cắt Ấn Độ không chắc chắn thực hiện được, nhưng ở mức độ thấp nhất cũng phải làm cho bang Assam tiếp giáp với Nam Tây Tạng (Ấn Độ gọi là bang Arunachal Pradesh) và Sikkim bị Ấn Độ xâm chiếm được độc lập, làm suy yếu thực lực của Ấn Độ trong đối kháng với Trung Quốc, như vậy mới là thượng sách.

Trung sách là chuyển một lượng lớn vũ khí quân sự tiên tiến sang Pakixtan, trong khoảng thời gian năm 2035, ngầm giúp Pakixtan tấn công khu vực phía Nam Casơmia của Ấn Độ, giúp đỡ Pakixtan hoàn thành đại nghiệp thống nhất lãnh thổ. Tất nhiên, trong khi Ấn Độ và Pakixtan chưa thể kết thúc chiến tranh, Trung Quốc thần tốc tấn công Ấn Độ thu hồi khu vực Nam Tây Tạng bị chiếm đóng. Ấn Độ sẽ không thể cùng lúc tác chiến với hai cuộc chiến tranh, kết cục đều gặp thất bại, như vậy Trung Quốc có thể dễ dàng lấy lại khu vực Nam Tây Tạng, Pakixtan cũng có thể hoàn thành việc kiểm soát hoàn toàn Casơmia. Đây là trung sách, là một biện pháp hay có thể thực hiện. Nếu tất cả các sách lược trên đều không thể thực hiện, Trung Quốc có thể tấn công trực diện Ấn Độ để thu hồi Nam Tây Tạng.

Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh thứ nhất và thứ hai, Trung Quốc đã có thời gian khôi phục và tiếp tục phát triển trong vòng 10 năm, khi đó Trung Quốc đã là cường quốc mang tầm thế giới cả về kinh tế lẫn quân sự, duy chỉ có Mỹ và châu Âu là có thể xếp trên Trung Quốc (thời điểm đó nhiều khả năng châu Âu sẽ hoàn thành nhất thể hoá). Vì vậy, sau khi thống nhất Đài Loan và thu hồi các đảo tại Biển Đông, kỹ thuật quân sự của Trung Quốc đã có bước phát triển nhạy vọt, các trang thiết bị vũ khí hải, lục, không quân và vũ trụ đều có bước tiến dài, nhiều kỹ thuật quân sự ở vào trình độ dẫn đầu thế giới, khi đó sức mạnh quân sự của Trung Quốc chỉ có thể xếp sau Mỹ. Với thực lực như vậy, trong cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng, Ấn Độ chắc chắn chịu một cuộc đại bại. Thứ nhất, sức mạnh tổng hợp của Ấn Độ yếu hơn nhiều so với Trung Quốc. Ấn Độ không có khả năng nghiên cứu, phát triển cũng như độc lập sản xuất các loại vũ khí mũi nhọn kỹ thuật cao. Năng lực động viên kinh tế cho thời chiến của Ấn Độ không bằng 1/10 của Trung Quốc, cho nên trong cuộc chiến với Trung Quốc, Ấn Độ không thể duy trì chiến tranh lâu dài, trong khi đó khả năng chiến tranh thần tốc của Ấn Độ lại kém xa so với Trung Quốc, vì vậy trong cuộc chiến này, Ấn Độ thất bại là điều không phải nghi ngờ. Thứ hai, trong cuộc chiến này, tuyệt đối không có quốc gia nào dám công khai giúp đỡ Ấn Độ. Khi đó, Trung Quốc đã là cường quốc thế giới, không có nước nào (kể cả Mỹ) dám công khai coi Trung Quốc là kẻ thù, nhiều khả năng nhất chỉ có 3 nước là Mỹ, Nga, Nhật Bản sẽ ngấm ngầm cung cấp vũ khí cho Ấn Độ, nhưng động thái này sẽ không gây ra những vấn đề lớn; ngược lại Pakixtan có thể nhân cơ hội này tấn công Ấn Độ. Thứ ba, Ấn Độ không dám và không thể sử dụng vũ khí hạt nhân. Mặc dù nói Ấn Độ đã có vũ khí hạt nhân, nhưng trong cuộc chiến này, Ấn Độ không dám sử dụng vũ khí hạt nhân, vì vũ khí hạt nhân của Ấn Độ không đủ để huỷ diệt Trung Quốc; đã không thể huỷ diệt, một khi sử dụng, khả năng phản kích của Trung Quốc có thể huỷ diệt vĩnh viễn Ấn Độ. Sau khi thu hồi Nam Tây Tạng, Trung Quốc sẽ đóng trọng binh tại đây, Ấn Độ sẽ không dám phản công, cuối cùng phải thừa nhận là lãnh thổ của Trung Quốc, đồng thời tích cực triển khai hợp tác với Trung Quốc, như vậy vẫn có thể bảo toàn thực lực nước lớn tại khu vực.

Cuộc chiến tranh thứ tư : Thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (giai đoạn 2040 - 2045)

Thời điểm đến giữa thế kỷ 21, Trung Quốc đã là cường quốc thế giới thật sự, khi đó Nhật Bản, Nga suy yếu; Mỹ, Ấn Độ không phát triển, Trung Quốc và châu Âu đồng thời nổi lên, là thời cơ tốt nhất để Trung Quốc thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (Nhật Bản gọi là Okinawa) bị Nhật Bản chiếm đóng.

Nói tới đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu, có lẽ nhiều người chỉ biết rằng đảo Điếu Ngư là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc, nhưng lại không biết Nhật Bản đã xâm chiếm Lưu Cầu. Hiện nay, bất luận là trong diễn đàn nhân dân hay cấp trung ương, khi đề cập đến vấn đề Đông Hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản, đề cập đến cái gọi là “đường trung tuyến” do Nhật Bản hoạch định, hay vấn đề Lưu Cầu, đều bị Nhật Bản dẫn giải sai lầm về lịch sử và chính trị - tức cho rằng Lưu Cầu là lãnh thổ của Nhật Bản.

Nhật Bản đã xâm chiếm đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu của Trung Quốc nhiều năm qua, đánh cắp phi pháp nhiều tài nguyên tại Đông Hải của Trung Quốc, vì vậy đây sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại từ tay Nhật Bản. Vì thời điểm đó Mỹ muốn can dự cũng khó, châu Âu càng không quan tâm đến vấn đề này, trong khi đó Nga cũng chỉ có thể ngồi nhìn. Nhiều nhất là trong vòng nửa năm, cuộc chiến có thể kết thúc, Trung Quốc đại thắng, Nhật Bản đành phải thừa nhận kết cục thất bại - đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu trở về vô điều kiện với Trung Quốc. Đông Hải trở thành nội hải của Trung Quốc.

Cuộc chiến tranh thứ năm : Thống nhất Ngoại Mông (giai đoạn 2045 - 2050)

Mặc dù, hiện nay có người cổ vũ Ngoại Mông (Mông Cổ) trở về Trung Quốc, nhưng điều này có hiện thực không?

Trung Quốc chỉ có thể sau khi thống nhất Đài Loan, lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ. Như vậy sẽ có người hỏi, vì sao phải lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ? Làm như vậy khác nào nói Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bị Trung Hoa Dân Quốc thống nhất? Nói như vậy không có gì vô nghĩa cả, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc cũng là Trung Quốc, không cần quan tâm ai thống nhất ai, làm người Trung Quốc, chỉ cần tổ quốc thống nhất, không bị làm nhục là tốt nhất. Cũng phải biết rằng hiện nay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thừa nhận nền độc lập của Ngoại Mông, nếu lấy hiến pháp và bản đồ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa làm căn cứ để thống nhất Ngoại Mông, thì rõ ràng đây là hành động đi xâm lược, cho nên chỉ có thể lấy hiến pháp và bản đồ của Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ để tiến hành thống nhất Ngoại Mông, như vậy xuất quân mới danh chính ngôn thuận. Trung Quốc cần đề xuất đại cương thống nhất với Ngoại Mông, tạo dựng bầu không khí dư luận xã hội Ngoại Mông trở về Trung Quốc, đồng thời tìm kiếm những tộc người tại Ngoại Mông có mong muốn sáp nhập vào Trung Quốc để ra sức giúp đỡ, cố gắng để họ có thể tiếp cận tới tầng lớp có quyền quyết sách, nhằm chuẩn bị tốt cho sự nghiệp thống nhất Ngoại Mông. Bên cạnh đó, sau khi thu hồi Nam Tây Tạng (dự kiến vào năm 2040) Trung Quốc cũng phải tuyên bố với các nước trên thế giới rằng Ngoại Mông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Đương nhiên, Ngoại Mông có thể ra điều kiện để trở về, như vậy là điều tốt nhất so với việc phải sử dụng vũ lực để thống nhất. Nếu thế lực bên ngoài can dự hoặc Ngoại Mông cự tuyệt thống nhất, Trung Quốc cần phải làm tốt mọi sự chuẩn bị về trang bị vũ khí nhằm thống nhất Ngoại Mông. Tài liệu cho rằng Trung Quốc vẫn có thể áp dụng mô hình như đã thống nhất Đài Loan, đưa ra thời hạn cuối cùng để thống nhất là vào năm 2045, để Ngoại Mông có thời gian mấy năm suy nghĩ, khi đến thời điểm nếu không chủ động chấp nhận trở về, cuối cùng mới sử dụng vũ lực thống nhất.

Tới thời điểm đó, 4 cuộc chiến tranh đã kết thúc, Trung Quốc đã có đầy đủ thực lực về chính trị, quân sự và ngoại giao để thống nhất Ngoại Mông. Mỹ, Nga suy yếu sẽ không dám tham chiến, chỉ có thể tiến hành phản đối bằng ngoại giao, trong khi đó châu Âu sẽ giữ thái độ nước đôi, Ấn Độ không lên tiếng. Không đến 3 năm, Trung Quốc có thể hoàn thành thống nhất mang tính tuyệt đối đối với Ngoại Mông. Sau khi thống nhất Ngoại Mông, tuyến đầu sẽ bố trí trọng binh nhằm ngăn chặn Nga, đồng thời trong vòng 10 năm, ra sức tiến hành xây dựng mang tính nền tảng và thiết bị quân sự, để chuẩn bị cho sau này tiến hành thu hồi lãnh thổ do Nga xâm chiếm.

Cuộc chiến tranh thứ sáu : Thu hồi lãnh thổ bị Nga xâm chiếm (giai đoạn 2055 - 2060)

Hiện nay, Trung-Nga được coi là láng giềng hữu nghị, song chẳng qua là vì có cùng mục tiêu chống Mỹ, thực chất vẫn tồn tại sóng ngầm và cảnh giác lẫn nhau.

Sau khi giành thắng lợi trong 5 cuộc chiến tranh trước đó (khoảng năm 2050), Trung Quốc phải lên tiếng đòi Nga phải trả lại lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc từ đời nhà Thanh, tạo dư luận trên toàn thế giới có lợi cho Trung Quốc, nhưng tốt nhất là khiến Nga một lần nữa bị giải thể, tách thành nhiều nước nhỏ.

Trước đây, Nga đã xâm chiếm tổng cộng khoảng 1,6 triệu km2 lãnh thổ của Trung Quốc, tương đương 1/6 tổng diện tích lãnh thổ lục địa của Trung Quốc hiện nay, Nga vẫn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Trung Hoa, cho nên sau khi kết thúc 5 cuộc chiến tranh trước, sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại lãnh thổ bị Nga xâm chiếm từ đời Thanh.

Mặc dù thời điểm này các phương diện về hải, lục, không quân và vũ trụ của Trung Quốc đã vượt Nga, nhưng rõ ràng đây là một cuộc chiến tranh nhằm vào một cường quốc hạt nhân, cho nên lúc đó Trung Quốc phải huy động mọi khả năng hạt nhân, như các loại vũ khí có khả năng đánh chặn hạt nhân tầm xa, tầm trung và tầm ngắn. Khả năng Nga đánh trả khi tiếp cận Trung Quốc là không thể, vì vào thời điểm này Nga đã không còn là đối thủ của Trung Quốc, chỉ có thể chấp nhận trả lại phần lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc, nếu không cái giá phải trả là quá đắt.

Sau khi kết thúc 6 cuộc chiến tranh, Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế và quân sự duy nhất trên thế giới, Trung Quốc cùng với châu Âu, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, châu Phi và Braxin thiết lập trật tự thế giới mới do Trung Quốc chủ đạo./.