Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

THẤY GÌ QUA BIỂU TÌNH 10.6


Thấy rằng:
Lòng dân đã oán ghét đến tận cùng và cũng cương quyết tới tận cùng. Rõ ràng, biểu tình là do dân chủ động và tự phát, không có sự kích động, không có sự lôi kéo, không có tổ chức nào đủ quy mô hay cá nhân "Lãnh tụ" nào đủ uy tín để hiệu triệu hàng chục ngàn đồng bào từ khắp mọi nơi đổ về Sài Gòn, chưa kể hàng chục cuộc biểu tình lớn - nhỏ đã và đang diễn ra khắp mọi tỉnh thành, chắc chắn sẽ tới một ngày biểu tình nổ ra khắp toàn đất nước nếu Quốc Hội vẫn ngang nhiên bấm nút 1 hoặc cả 2 dự luật!
Tôi nhớ lời mấy cô, mấy bác trong chợ nói với tôi:" Lần này nhất định phải lên Sài Gòn biểu tình, bỏ một buổi chợ không sao cả. Tui bán ngày được có hơn trăm bạc nhưng tôi sẽ lấy tiền góp của tui để đi, tụi tui thuê xe 50 chỗ rồi cô, giờ giấc khởi hành đã định. Ai cũng nghèo nhưng không thể ngồi yên nhìn bọn chúng bán nước, đời mình xem như thua rồi nhưng còn đời con mình, đời cháu chắt mình, phải đi thôi, không thể chịu đựng được hơn được nữa"!
Nước mắt tôi chảy tràn trên má, thương thay những bà má, bà mẹ dân quê chân chất, tay lấm chân bùn, những người mẹ ấy không cần ai xúi bảo, không nhận của ai 1 xu, họ chỉ có ít tiền gom góp với duy nhất một tấm lòng với non sông và thế hệ mai sau để túm tụm khăn gói lên Sài gòn. Họ đã khiến chúng ta, những người cho rằng mình học cao hiểu rộng, hiểu biết chính trị xã hội, tiền bạc dư thừa phải cúi đầu hổ thẹn!
Rồi tôi nhớ tới đám trẻ "choai choai" đầu húi cua ngổ ngáo. Trong mắt tôi những đứa trẻ ấy chỉ biết ham chơi hơn là lo việc nước, ấy vậy mà, chúng nói với tôi: "Tụi em gom tiền và chuẩn bị hết rồi chị, tụi em sẽ đi xe máy, ngủ một đêm ở nhà bạn, sẽ đi theo nhóm không để lạc nhau. Nếu có bị đánh hay đàn áp thì còn nhào vô mà cứu nhau". Tôi hỏi tụi em không sợ bị bắt ư? Cả đám lắc đầu rồi nói: "Bi giờ không đi, tới lúc mất nước thì chỉ còn nước tự tử chứ sống chi cho nhục chị!"...
Sài Gòn 10.6: chưa bao giờ người ta thấy lòng dân kiên định với khí thế hiên ngang ngợp trời như vậy. Họ ùn ùn kéo nhau đi, các ngả đường chỉ thấy người là người, thanh niên, phụ nữ, người già, trẻ em cầm băng rôn biểu ngữ với khí thế vang dội. Đám đông anh dũng bất chấp hàng ngàn công an, cảnh sát cơ động, bất chấp hàng rào kẽm gai bủa giăng khắp chốn, đám đông cứ đi, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu:
- "Đả đảo Trung Quốc; Đả đảo bọn bán nước; Đả đảo Quốc Hội phê chuẩn Luật Đặc Khu "bán đất" cho Tàu Cộng"
- " Đả đảo Luật An Ninh Mạng, Luật Bịt Miệng dân"
Sài Gòn - biểu tượng của "Tự do", của "Lòng ái quốc" nóng dần lên khi những bài hát cấm "Trả lại cho dân", "Việt Nam tôi đâu" vang lên khắp nơi...Có những người dân vừa hát vừa khóc. Họ xúc động, họ chịu đựng quá lâu rồi, bao dồn nén nay chỉ chờ dịp bung xả. Và thời khắc này, ngày 10.6: đây là lúc lòng dân đồng loạt tuyên bố: DÂN ĐÃ SẴN SÀNG! Việc còn lại là việc của Nhà nước, quyết định quay lưng lại với nhân dân hay đồng thuận với nhân dân? TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI?!!
Biểu tình 10.6
Không ai lường trước được hậu quả sẽ thế nào nếu Quốc Hội vẫn bù nhìn, bịt tai, bịt mắt thông qua Luật An Ninh Mạng và Luật Đặc Khu!
Biểu tình 10.6
Lòng dân đã quyết, đừng đùa với dân nữa! Lửa đã lan khắp nơi rồi nhưng... sẽ là không bao giờ là muộn để quay đầu lại:
VỀ VỚI NHÂN DÂN!




NẾU BUỘC PHẢI BẮN, HÃY CHĨA SÚNG LÊN TRỜI!


Đó là lời kêu gọi, đang lan truyền rất nhanh trên mạng. Vâng, “nếu buộc phải bắn, hãy chĩa súng lên trời!”.
Trước mặt các anh, là hàng xóm, chú bác, đồng bào, thậm chí có thể là cháu con, cha mẹ, ông bà của chính các anh.
Đừng bắn!
Vâng. Tôi đã thấy những ánh mắt ngập ngừng, cùng những cánh tay chĩa súng lên... trời! Không ít cảnh sát cơ động (CSCĐ) đã trân mình chịu trận, mà không chống trả.
Phan Rí, Bình Thuận. Sau hàng loạt những hình ảnh bạo lực từ cả hai phía. Đá, đạn, kẽm gai, dùi cui, và máu đổ. Tôi dừng lại mãi trước hình ảnh này. 
Một chiến sĩ cảnh sát cơ động trẻ măng, miệng cười rất tươi. Khi trên người còn lấm lem bùn đất, và cả những vết tích của trận đòn gạch đá từ phía nhân dân.
Một nụ cười, chưa bao giờ đẹp hơn thế.
Thắng dân làm gì, tại sao phải thắng dân? Có gì mỉa mai, bất nhân, tàn độc hơn khi gọi những cuộc chiến nhắm vào dân là “những trận đánh đẹp”?
Nhường dân đi. Thua ông bà, ba mẹ, chú bác, cháu con, dòng tộc mình. Thua chính đồng bào mình, không đáng để cười sao.
Trận Tiên Lãng năm nào. Đến những con chó nghiệp vụ cũng không chọn cách tấn công, dù luôn được đẩy lên phía trước, nhưng những đồng chí “cảnh sát chó” ấy đã quay đầu, không chọn cách lao vào anh em nhà Đoàn Văn Vươn. Bởi chúng nhận ra, đánh hơi được: đó không phải là kẻ thù.
Dường như, trong nhiều “trận đánh” gần đây, các anh cũng đã dùng chó. Nhưng có khi nào, các anh thấy những “đồng chí chó” của mình lao tới cắn nhân dân chưa?
Đến những “đồng chí bốn chân” của các anh còn thân thiện vậy. Tại sao các anh phải nổ súng. Tại sao phải hầm hừ trấn áp, tấn công nhân dân như kẻ thù?
Quay lưng lại, cho dù có hứng chút nhiều gạch đá, như chàng CSCĐ kia, để có được một nụ cười hạnh phúc thế.
Hoặc nếu vẫn phải nổ súng. Vâng, nếu vẫn phải nổ súng, vẫn buộc phải bắn, thì:
Hãy chĩa lên... trời!

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2018

SỰ ĐỘC HẠI CỦA ĐÁM TRÍ THỨC MÁNG LỢN


Link : Từ FB Đỗ Ngà
Nói đến cái máng người ta muốn nói đến nhiều điều quanh cái máng lợn. Thứ nhất, đó là nói đến đó là nơi con heo tìm thức ăn cho no bụng. Thứ nhì nó nói đến tình trạng bị nhốt cho ăn để bị thịt của con heo, vì chỉ có chuồng trại mới có cái máng. Thức ăn trong cái máng từ đâu mà ra? Xin nói thẳng, thức ăn trong máng là từ nguồn tiền bán thịt của những con heo lứa trước mà ra. Nghĩa là nó chẳng khác nào lấy thịt heo làm thức ăn cho heo cả.
Nói đến kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô thì cái nào chi phối cái nào? Chắc chẳng ai trả lời sai được, đó là kinh tế vĩ mô nó chi phối kinh tế vi mô. Trong một nền kinh tế què quặt như kinh tế Việt Nam đây, lấy đâu ra những Samsung hay Hyundai? Chỉ có những đại gia sân sau và tư bản đỏ bằng quyền lực đã tước đoạt của cải toàn dân mà làm giàu. Sự xuất hiện 4 tỷ phú đô la thì đất nước cũng gánh đến 431 tỷ đô tiền nợ trong khi GDP chỉ 205 tỷ. Tỷ phú đô la chỉ là loại bạc cắc so với khoản nợ. Đấy là cái giới hạn của kinh tế vi mô khi bị kinh tế vĩ mô khống chế.
Nhưng kinh tế vĩ mô nào có tự nó tung hoành? Nó là một lĩnh vực bị nhốt trong cái rọ chính trị. Với chính quyền sống bằng tham nhũng và cướp bóc thông qua chính sách như chính quyền CSVN thì lấy đâu ra một nền kinh tế vài ngàn tỷ USD như Hàn? Mà một khi kinh tế vừa nghèo vừa nợ ngập đầu thì đấy là vài hạt cơm cho đàn quạ đói. Cho nên bên trong xã hội Việt Nam là sự giành ăn bằng thủ đoạn là chính, cống hiến là sự hoang đường. Giàu chân chính ở Việt Nam nó rất hiếm, còn lại là đánh quả, chạy chọt dự án để cách này hay cách khác moi được bầu sữa ngân sách và tài sản công để làm giàu bản thân làm nghèo đất nước.
Với người trí thức đích thực, phải nhìn ra vấn đề chính trị. Và là người yêu nước thì phải đấu tranh để loại bỏ cái thể chế chính trị đó, không thể khác được. Tri thức chuyên môn là loại tri thức để trang hoàng cho cá nhân và cùng lắm nó hữu ích trong một nhóm kinh tế vi mô nào đó như công ty mà thôi. Còn tri thức chính trị nó được trang hoàng cho một dân tộc, một đất nước. Nhiệm vụ của nó loại bỏ những thể chế chính trị hại dân hại nước và xây dựng nên một thể chế chính trị vì dân. Khi có nền chính trị vì dân như thể chế chính trị tam quyền phân lập thì kinh tế vĩ mô mới được cởi trói. Khi kinh tế vĩ mô được cởi trói thì nó sẽ làm kinh tế vi mô nảy nở và từ đó toàn xã hội có thịnh vượng.
Tri thức chuyên môn cho mình cái nghề, khi có nghề mình kiếm cơm bỏ miệng. Nói cho cùng loại tri thức đó là tri thức kiếm ăn không hơn không kém. Nếu nói tri thức chuyên môn nuôi sống cá thể thì tri thức chính trị là loại tri thức nuôi sống một đất nước. Con heo nó chỉ biết cái máng ăn và không biết thân xác nó sẽ bị xẻ thịt, thì loại trí thức có kiến thức chuyên môn thiếu tri thức chính trị là loại như vậy. Thấy tính chất kinh tế đơn thuần và mù kiến thức chính trị. Loại đó chỉ có ích cho cái bao tử của nó và hoàn toàn vô ích với một quốc gia. Loại đó nhiều, đất nước lụn bại.
Hiện nay rất nhiều những trí thức máng lợn ở Việt Nam, kể cả những kẻ Tây học. Những anh bằng cấp đầy mình, ăn nói hoạt bát, làm diễn giả dạy cho các bạn trẻ "tư duy làm giàu" đủ thứ. Nhưng cuối cùng anh ta lại bảo những bạn trẻ đừng động đến chính trị. Ông ta dạy tư duy làm giàu cho hàng vạn bạn trẻ, mà chấp nhận nền chính trị tàn phá kinh tế vĩ mô và bóc lột xã hội cho đến cái quần sịp cũng không còn. Thì ông ta dạy chúng nó có ích gì? Nền chính trị đó nó làm ra một nền kinh tế vĩ mô nghèo đói và nợ nần chồng chất thì đám bạn trẻ đó làm gì để giàu? Sự nghèo đói bởi một nền kinh tế tồi tệ đổ lên đầu mọi công dân Việt Nam thì chúng nó thoát đi đâu? Vậy thì cuối cùng cũng trở về cách làm giàu bất chính mà thôi. Thật tội nghiệp cho những bạn trẻ, bỏ bộn tiền ra chẳng được cái ích gì ngoại trừ bị ông diễn giả làm cho ngu hơn vì tránh xa chính trị. Diễn giả kiểu đó đích thị là loại trí thức máng lợn, chính anh ta là kẻ góp phần cho xã hội lụi tàn vì sản sinh ra thứ sinh viên sợ chính trị như thế.
Hay những anh có chút chuyên môn, làm trong một công ty lớn thành công. Thế là phăng ra ngay, luật đặc khu với thời hạn thuê 1 thế kỷ và cho phép luật pháp nước ngoài xử lí ngay trên vùng đặc khu là tốt. Dốt chính trị, ngây thơ cho rằng một đất nước với nền tảng pháp luật như cứt mà thu hút được ong bướm. Với nền tảng chính trị và luật pháp Việt Nam, chỉ đám doanh nghiệp ruồi nhặng của Tàu bu vào mà thôi. Nên nhớ, chính trị nặn ra kinh tế chứ không có điều ngược lại.
Và như thế những trí thức máng lợn đã góp phần duy trì sự lụn bại vốn có của một đất nước. Loại trí thức này chỉ có kiếm ăn cho riêng mình và rất tai hại cho tương lai đất nước. Vì chính nó làm chết tri thức chính trị - một loại tri thức không thể thiếu cho một đất nước tiến bộ.
P/S: Trí thức máng lợn là đám trí thức bài bác yếu tố chính trị và hướng suy nghĩ của giới bình dân chăm vào miếng ăn. Những trí thức có chuyên môn, nhận biết được cái thối nát của chính trị không nằm trong phạm vi của bài viết. Vì theo tôi, những trí thức nhận ra cái sai của nền chính trị mà không dám nói là một dạng sức mạnh tiềm ẩn của đất nước. Khi hết sợ hãi, họ là những người đáng quý.
Từ Fb Đỗ Ngà

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

SỐNG VỚI TRUNG QUỐC?!


Link : FB Hoài Tâm
Một bài viết quá dài; song khổ nỗi nó lại không thừa lấy một từ. Rất đáng đọc và suy ngẫm...
Bài viết lâu lắm rồi; và coppy lại cũng lâu lắm rồi, nay mới peaste. Bài của Tạ Duy Anh, một Nhà văn răng hô, má hóp gốc Hà Tây, song đáng để nhiều bậc mũ cao, áo dài biết để mà biết rằng dân An Nam biết cả, chỉ tội không nói được nên lời.
Nay xin phép Nhà văn Tạ Duy Anh đăng lại, bởi thấy nó mãi mãi vẫn còn tinh khôi...
(P/s: Message của Nhà văn Tạ Duy Anh gửi người đã post (H.T): "Ô, thật là vui, tôi đang tính in thành sách, dạng handmade, hy vọng sẽ lại gặp nhau. Tôi viết (Sống với Trung Quốc- H.T) mất hơn một năm, hoàn toàn với tinh thần tự nguyện hiến kế, cũng để lòng mình nhẹ đi vì nỗi ưu tư cứ nặng như đeo đá, cảm ơn anh nhiều. Tôi dốt F lắm nên sẽ còn sơ suất, mong thứ lỗi".
Cám ơn Nhà văn đã cho phép post để mọi người cùng... hưởng!).
Hoài Tâm.
SỐNG VỚI TRUNG QUỐC?!
Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông
(Nguyễn Trãi)
Lời tự bạch:
Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Người thất học còn phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của xã tắc, nữa là một kẻ ít nhiều có đọc qua vài trang sách Thánh hiền.
Tôi có ba tư cách để viết chuyên luận này: Tư cách con dân Việt, tư cách chiến binh Việt bẩm sinh và tư cách một kẻ sĩ Việt.
Tôi dựa trên nền tảng quan điểm sau:
- Mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là thôn tính Biển Đông và đối thủ số một là Việt Nam.
- Việt Nam là nước nhỏ hơn nên luôn cần hoà bình, sống yên ổn bên cạnh Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng cần yên bờ cõi không kém, đặc biệt là cửa ngõ phía Nam, nơi Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lý trong tác chiến.
- Một cuộc chiến tổng lực giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông là bất phân thắng bại nhưng là thảm hoạ cho cả hai nước. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều cần hoà bình.
Tôi tin rằng:
- Thượng sách là làm sao để sống hòa bình với Trung Quốc mà vẫn giữ được chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền tinh thần (bao gồm chính trị, văn hóa, lối sống…)
- Hạ sách là phải lựa chọn chiến tranh, dù ngắn hay dài, bởi hệ lụy của nó thì chưa thể biết hết, nhưng điều biết trước là – do cùng chung biên giới – sau sự tan hoang, đổ máu sự căng thẳng luôn trở về đúng điểm xuất phát khi chưa xảy ra binh đao và nguy hiểm hơn là nó tiếp tục làm tăng thêm mối hằn thù dân tộc là thứ sẽ để lại hậu quả cho con cháu lâu dài.
- Tối hạ sách là quá sợ chiến tranh mà đành ôm mối nhục để kẻ thù xâu xé cương vực, nuốt dần lãnh thổ, giết hại dân lành.
Chuyên luận chia làm ba phần: Bản chất của mối quan hệ Việt-Trung; Biển Đông và những điều có thể xảy ra; và Dự đoán hành động của Trung Quốc và sự lựa chọn của Việt Nam.
Tôi được khích lệ, chia sẻ ý tưởng từ nhiều người, nhất là những bạn trẻ nhiệt huyết với vận mệnh đất nước, những đồng nghiệp nhiều ưu tư nhưng vì nhiều lý do mà không thể tự do phát biểu quan điểm như tôi. Tôi xin tặng lại chuyên luận này cho họ.
Có thể những gì tôi suy nghĩ và viết ra chỉ đáng là những điều vô bổ, nông cạn hoặc là những chuyện đã biết rồi, không ai cần đọc. Nhưng tôi không vì điều đó mà nản chí bởi đây là tấm lòng của tôi với đất nước, một đất nước chưa bao giờ thôi khốn khó nhưng là nơi duy nhất tôi có thể sống và chết. Tôi cũng không giấu giếm rằng, cho đến khi hạ chữ cuối cùng của chuyên luận này, tôi vẫn chưa thoát khỏi cảm giác Nghĩ mãi không ra.
PHẦN I:
BẢN CHẤT CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT-TRUNG
Kể từ cuộc xâm lược Đại Việt của nhà Tống cho đến năm 1979, cứ cách ngắn nhất là 200, dài nhất là gần 400 năm (trung bình khoảng 250 năm) người Hán lại chủ động gây can qua với nước ta. Tất cả đều nhằm tới mục tiêu thôn tính lãnh thổ, biến nước ta thành quận huyện của họ. Nếu khẩu độ thời gian này thành quy luật, thì chúng ta đang ở vào thời kỳ Hoà Bình với Trung Quốc. Nhưng không có bất cứ điều gì đảm bảo cho nhận định đó. Tôi luôn cảm thấy chúng ta còn rất ít thời gian để chuẩn bị cho một cuộc đối đầu mới với Trung Quốc, vượt khỏi quy luật về tần suất vừa nêu và về mức độ khốc liệt. Nói cách khác, với Trung Quốc ngày nay, mọi sự đều vô cùng khó lường. Vì thế chúng ta cần phải động não đưa ra được một đối sách để tồn tại hoà bình lâu dài bên cạnh Trung Quốc mà không mất chủ quyền lãnh thổ (trước mắt là không mất thêm vì hiện tại Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của chúng ta) và chủ quyền chính trị. Trong thời gian qua, ngoài quan điểm được nói ra mồm của chính quyền: “Tránh những hành động làm ảnh hưởng đến đại cục trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc”, nổi lên những xu hướng sau từ phía dân chúng trong và ngoài nước:
- Xu hướng chủ chiến muốn Việt Nam dàn quân ngay tức khắc, cụ thể là đưa tàu chiến, máy bay ra để đối lại với những hành động bắt nạt, cướp bóc và giết hại ngư dân Việt Nam mà phía Trung Quốc thực hiện, khi điều kiện cho phép có thể dùng vũ lực đánh chiếm lại quần đảo Hoàng Sa và những vị trí bị Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa. Xu hướng này cũng lập tức kết tội chính quyền hiện tại hèn nhát, bán nước, làm tay sai cho Trung Quốc và yêu cầu họ nhường quyền lãnh đạo đất nước cho những lực lượng khác. Trong khi chưa thể chỉ ra lực lượng khác ấy là lực lượng nào, những người theo xu hướng này có lẽ cũng đã quên rằng, phần quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc năm 1974 là từ quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hoà, đồng minh số 1 của Hoa Kỳ lúc ấy, khiến hơn 60 chiến sĩ hải quân là con dân nước Việt bị bắn chết một cách tức tưởi trong cảm hứng vô cùng dã man của kẻ thù. Với một hạm đội khổng lồ của ông bạn lớn Hoa Kỳ nằm cách đó vài chục km, với rất nhiều vũ khí hiện đại, nếu người Việt (cụ thể là chính quyền miền Nam lúc ấy) định dàn quân giành lại Hoàng Sa thì không còn cơ hội nào tốt hơn chính thời điểm đó. Thực tế này với chính sách bị coi là nhu nhược của chính quyền hiện tại như một số người quy kết, là hai vấn đề khác nhau và mỗi vấn đề đều cần phải làm rõ, rạch ròi, công bằng trước lịch sử.
- Xu hướng dân tộc chủ nghĩa cứng rắn muốn dựa vào tinh thần dân tộc, tinh thần bài Hán để thể hiện quan điểm cứng rắn với Trung Quốc. Giới hạn của xu hướng này là công khai đối đầu với Trung Quốc về chính trị, ngoại giao, thậm chí nếu cần thì cắt đứt bang giao, sẵn sàng cho một cuộc đánh trả bằng quân sự. Xu hướng này gây sức ép với chính quyền để họ phải tỏ rõ thái độ chống lại Trung Quốc bằng lời lẽ và hành động ngay lập tức.
Nếu sau mọi chuyện, sáng dậy mở mắt ra chúng ta đã không còn là láng giềng của Trung Quốc thì chẳng có gì phải bàn nhiều.
Thực ra dưới thời cố Tổng bí thư Lê Duẩn, quan hệ Việt-Trung là thể hiện rõ ràng nhất của xu hướng này, với đỉnh cao của cuộc đối đầu là trận chiến biên giới năm 1979, kéo dài 30 ngày trên lý thuyết nhưng phải hơn 7 năm sau mới chấm dứt được sự đổ máu, sau khi để lại một biên giới tan hoang và một nền kinh tế kiệt quệ. Đấy là chưa kể thiệt hại lớn nhất về nhân mạng mà con số chắc chắn là nhiều vạn người vẫn còn trong vòng bí mật quốc gia!
- Xu hướng dân tộc chủ nghĩa mềm dẻo muốn Việt Nam độc lập với Trung Quốc về chính trị, ngoại giao để tự chủ quan hệ đồng minh với những quốc gia có chung lợi ích chiến lược ở Biển Đông, số 1 là Hoa Kỳ, khiến Trung Quốc không dám cậy mạnh lấn lướt mà phải lựa chọn sự hữu hảo bình đẳng. Mặt khác nhà cầm quyền cần từ bỏ ý thức hệ Xã hội chủ nghĩa như một mặc định vô lý, nhanh chóng dân chủ hoá đất nước theo tấm gương của một số quốc gia phát triển trong khu vực để nâng cao sức mạnh dân tộc, tập hợp được mọi lực lượng, tiến tới đưa nước ta thành một cường quốc kinh tế, quân sự… Khi đó nền hoà bình với Trung Quốc sẽ tự nhiên được thiết lập và có cơ sở để bền chắc và có cơ hội để đòi lại những phần lãnh thổ bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.
Hàng loạt kiến nghị, tuyên bố… của những nhân sĩ, trí thức, công, nông, binh… trong thời gian qua là theo xu hướng này. Cùng với đó là những đợt người dân hai thành phố lớn xuống đường giương biểu ngữ phản đối Trung Quốc khi có sự cố nào đó họ gây ra trên Biển Đông.
Đây là xu hướng trước sau đất nước cũng phải lựa chọn, bởi nó mang tính tất yếu về mặt phát triển, đáp ứng nhiều nhất lợi ích của dân tộc trên mọi phương diện. Tuy nhiên khi tiếp cận ở một vài vấn đề then chốt vẫn còn hấp tấp, thiếu đi độ lạnh của lý trí, sự điềm tĩnh cần thiết để duy trì sự tỉnh táo. Chính vì thế nhiều ý tưởng đầy trách nhiệm với quốc gia, xuất phát từ những tấm lòng lớn với xã tắc, lại bị lồng trong cái vỏ của thứ ngôn ngữ chỉ dùng khi chửi bới, miệt thị, chế nhạo khiến mất đi tính đối thoại, rất đáng tiếc. Ngoài ra, vì để cho sự bức xúc chi phối mà nhiều ý kiến thành tâm bị mọi người hiểu sai, dẫn đến tác giả của nó bị vùi dập không thương xót, cũng làm mất đi không khí bàn bạc, tôn trọng nhau mà đáng ra giới trí thức phải gương mẫu duy trì (*). Với cá nhân tôi, những gì xảy ra giữa một bộ phận người dân với chính quyền Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là với Nhà nước Việt Nam thời gian qua là một bi kịch dân tộc. Trong khi kẻ thù đang lăm le ăn sống nuốt tươi lãnh thổ của Tổ Quốc, thì nội bộ Dân tộc lại bị phân tán. Tôi phản đối mạnh mẽ cách thức hành xử của chính quyền khi đàn áp biểu tình, tấn công các blogger có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc. Hành xử như vậy cho thấy chính quyền thiếu tự tin về trí tuệ nhưng lại quá tự mãn, ngạo mạn với vai trò và quyền lực của mình. Chính quyền không thể cho mình cái quyền không cần đối thoại với dân chúng mà chỉ một mực đòi họ tuyệt đối tin tưởng, trước một vấn đề nước sôi lửa bỏng như vấn đề chủ quyền và sinh mệnh đồng bào. Họ là những người dân bình thường, không thể đòi hỏi họ cũng phải tư duy như những chính khách và càng không thể vì thiếu tư duy ấy mà họ bị khép tội. Họ có quyền lo lắng cho đất nước và cần biết niềm tin của họ có cơ sở hay không và đang đặt vào đâu. Ngay cả khi phải giữ bí mật, phải đóng kịch với Trung Quốc để không phá vỡ sách lược nào đó không cần phải cho người dân biết, thì vẫn có cách chuyển tải điều đó cho dân chúng. Sự vụng về thì có thể thông cảm được chứ rất khó mà chia sẻ với cái kiểu “bí thí tốt” như đã xảy ra.
Nhưng mặt khác cũng phải nói một sự thật rằng, chúng ta không thể đối phó được âm mưu của Trung Quốc muốn chiếm vĩnh viễn Hoàng Sa và Trường Sa nếu chỉ bằng những cuộc biểu tình trên đường phố hoặc những lời hô hào trên Internet. Đánh thức lòng yêu nước, sự cảnh giác của mọi tầng lớp dân chúng trước âm mưu Hán hoá mà Trung Quốc đang tiến hành với Việt Nam là cần thiết, thậm chí cấp thiết hơn bao giờ hết và chắc chắn còn có nhiều cách khác nữa. Nhưng sự tỉnh táo sau đó để giải mã hành động của Trung Quốc rồi đưa ra đối sách khôn ngoan mới là thứ cần thiết hơn. Chúng ta không sợ một cuộc chiến tranh với Trung Quốc – nếu nó xảy ra – không có nghĩa rằng chúng ta luôn sẵn sàng để tuyên chiến với Trung Quốc, đặt đất nước thường xuyên bên bờ vực chiến tranh. Những lời hô hào kích động cho một cuộc chiến tranh thấy rải rác đâu đó, là vô cùng thiếu lý trí, thậm chí là vô trách nhiệm. Nếu ai đó ở Trung Quốc cũng nuôi quan điểm như vậy với Việt Nam, cho dù họ ở thế nước lớn gấp 30 lần chúng ta, cũng đáng bị coi là thiển cận.
Một cuộc chiến tranh với Trung Quốc là điều đầu tiên chúng ta (và không chỉ chúng ta, ngay nước Mỹ, nước Nhật…) phải tìm mọi cách để tránh khi còn có thể. Bản thân Trung Quốc cũng phải làm điều tương tự với các láng giềng của họ, ngoại trừ họ ảo tưởng mù quáng về sức mạnh hoặc có kẻ nào đó trong giới chóp bu tại Bắc Kinh lại thích cá cược với lịch sử. Tìm mọi cách để tránh, khác với tránh nó bằng mọi giá. Đọc lại lịch sử chúng ta đều nhận thấy ông cha ta cực kỳ nhất quán với quan điểm đó, tức là cố gắng hoà hiếu đến phút chót và chỉ khi không còn cách nào khác mới phải dùng đến vũ khí. Trước thế giặc quá mạnh, Triều đình Nhà Trần thậm chí đã nghĩ đến chuyện buông vũ khí để mong không phải chịu cảnh binh đao khốc liệt có nguy cơ huỷ diệt cả dân tộc! Sửa chữa sai lầm chết người đó chính là nhân sĩ, trí thức, tướng lĩnh và những người dân cày Đại Việt. Rút cuộc vua tôi nhà Trần đã khiến kẻ thù phải bạc tóc hàng trăm năm sau mỗi khi nhớ lại cuộc xâm lược nhục nhã đó. Bởi vì nhà Trần có những vị vua vô cùng anh minh, lại khiêm nhường (những người còn tin có thần Phật, trời đất đều khiêm nhường), biết coi sinh mệnh của xã tắc cao hơn sĩ diện cá nhân, sĩ diện của triều đại. Nhà vua dám nói lên suy nghĩ của mình, dám thú nhận với bá tính sự kém cỏi, thiếu tự tin của mình trước một kẻ thù quá mạnh (dám thú nhận sự kém cỏi của mình chưa bao giờ là người kém cỏi!), cần đến các hiền tài dân tộc, cần tiếng nói quyết định của mọi tầng lớp nhân dân. Chính nhờ ở tinh thần “bóp nát quả cam”, ở những lời nói khẳng khái “Đầu thần còn trên cổ thì hoàng thượng chớ lo”, “Nếu định hàng giặc thì trước hết hãy chém đầu thần đi đã”… mà Triều đình nhà Trần đã kết thành một khối rắn chắc chôn vùi huyền thoại sức mạnh Nguyên-Mông và tạo nên hào khí Đông A để tiếng thơm đến muôn đời. Có những bậc minh quân như vậy, những người biết chọn đối thoại, biết lắng nghe thay vì đối đầu với dân chúng, làm sao kẻ thù có thể thắng được.
Giờ đây là lúc cả dân tộc cần đến một sự gắn kết, cần một sự đồng lòng, cần những bộ óc thông minh, trong sạch hơn bao giờ hết. Bởi vì vận mạng của dân tộc, sự tồn vong của xã tắc chưa bao giờ bị đặt vào thế chông chênh như hiện tại. Kẻ thù ngày nay không phải là những đạo quân công khai tuyên bố sẽ làm cỏ cái nước Nam nhỏ bé với những tối hậu thư ngông cuồng và lỗ mãng, ép con dân Việt phải cầm vũ khí. Kẻ thù ngày nay luôn mang bộ mặt bạn bè, thậm chí còn là những người có cùng mục tiêu lý tưởng, luôn luôn vuốt ve bằng những lời lẽ ngoại giao thuộc loại lịch sự nhất. Kẻ thù trước đây đặt chúng ta vào tình thế hoặc đánh lại hoặc bị tiêu diệt. Kẻ thù ngày nay tạo cảm giác là chỗ dựa tin cậy, cùng tồn tại và cùng phát triển, vì một mục tiêu cao cả cùng hướng tới. Nhưng trên thực tế, chưa khi nào nước ta bị xâm lược ở quy mô lớn và toàn diện như hiện nay. Chưa khi nào nguy cơ lại rơi vào vòng lệ thuộc ngoại bang của dân tộc chúng ta hiển nhiên như hiện tại. Vì vậy con dân nước Việt mà đại diện của nó là giới trí thức, phải thật tỉnh táo để không gây ra trạng thái rối trí.
Chúng ta phải xác định ngay với nhau rằng, Trung Quốc là mối bận tâm lớn nhất của người Việt, từ cổ sử cho đến muôn đời. Người Pháp, người Nhật và sau cùng là người Mỹ, chỉ là những yếu tố ngẫu nhiên làm gián đoạn mối bận tâm chính yếu đó, xét trên suốt hành trình là không đáng kể cho dù nó cũng đã làm thay đổi số phận của dân tộc. Chính các cường quốc phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ đã giúp người Việt tạm thời quên đi những đau thương do Trung Quốc gây ra. Quan hệ Việt-Trung bỗng nồng ấm tình anh em khi người Pháp và liền sau là Mỹ quyết chia cắt Việt Nam để “ngăn cơn sóng đỏ”. Không thể trách những nhà chính trị miền Bắc thời ấy khi họ buộc phải dựa vào Trung Quốc (giống như những nhà chính trị của chính thể Việt Nam Cộng hoà phải dựa vào Hoa Kỳ) cho dù không ít người nhận ra bên trong những kiện hàng viện trợ là một tính toán lâu dài về lãnh thổ và lợi ích quốc gia của người Hán. Họ (bao gồm cả hai phía) đáng trách ở chỗ đã ngạo mạn đánh đồng các mục tiêu chính trị có tính đảng phái dựa trên những chủ thuyết chính trị, với các mục tiêu dân tộc vốn cao hơn, thiêng liêng hơn mọi ý thức hệ. Vì thế, người Việt nên trách nhau một cách nghiêm khắc thì công bằng hơn. Chúng ta đã thất bại quá lâu cho một cuộc hoà giải dân tộc (**) (giờ này vẫn chưa hết thất bại!), tạo cơ hội cho các loại ngoại bang nhảy vào xâu xé, chia chác, tự tiện đưa ra những quyết định theo ý họ trên lưng người Việt. Hàng triệu con cháu của bà Âu Cơ bị chính người anh em, đồng bào của họ giết chết bởi vũ khí ngoại bang, là điều khủng khiếp nhất của lịch sử đất nước và các thế hệ tương lai phải tiếp tục suy ngẫm về cơn bĩ cực đau thương đó. Trong số những ngoại bang ấy thì Trung Quốc là ẩn số lớn nhất, chứ không phải Hoa Kỳ. Việc Trung Quốc mạnh mẽ viện trợ chiến tranh cho Bắc Việt Nam nhưng lại không muốn thấy một nướcViệt Nam thống nhất, là bằng chứng rõ ràng nhất về điều đó. Họ muốn người Việt tàn sát nhau cho tới người cuối cùng để dễ bề nuốt gọn cái dải đất phía Nam mà hàng ngàn năm ông cha họ không thực hiện được, hoặc ít ra cũng biến thành cái đệm an ninh như họ đang đạt được với Bắc Triều Tiên. Trung Quốc là bậc thầy thiên hạ về khả năng giấu kín những mục tiêu chiến lược của mình. Những lời dạy của Đặng Tiểu Bình “Giấu mình chờ thời” đã nói rõ bản chất của nền chính trị Trung Hoa hiện đại. Giấu mình khi chưa đủ mạnh. Chờ thời cơ chín muồi, trong đó Trung Quốc đã là cường quốc, trong khi những cường quốc khác suy yếu, sẽ làm một cuộc trỗi dậy, đánh úp thiên hạ để rửa nhục cho những thất bại triền miên của dân tộc Trung Hoa (không phải chỉ thất bại trước người Việt). Thực ra đây là một tư tưởng nguy hiểm cho thế giới, đặc biệt với những nước láng giềng trong đó có Việt Nam. Và cũng chính thủ đoạn đầy tinh thần Đại Hán đó đã xác định bản chất của mối quan hệ không chỉ Việt-Trung mà cả giữa Trung Quốc với thế giới.
Chưa khi nào Trung Quốc ngạo mạn và tự tin vào sức mạnh của họ như hiện nay.
May mắn lớn nhất là đến giờ này chúng ta vẫn chưa bị Hán hoá! Trên thế giới hiếm có một dân tộc nào bị đô hộ tới cả ngàn năm mà lại vẫn sống sót với tư cách một dân tộc, để rồi sau đó phát triển thành một quốc gia, như Việt Nam. Đó là bi kịch khủng khiếp cho cả hai phía. Trong khi chúng ta bị dồn đuổi, bị áp bức, bị lệ thuộc, thì kẻ đô hộ cũng chẳng sung sướng gì. Sau một ngàn năm, việc người Hán đành phải nuốt hận dừng chân trên đường chinh phạt xuống phía Nam, chấp nhận có một quốc gia bé hơn họ gần ba mươi lần về diện tích, sống bên cạnh như một láng giềng, mà lại là láng giềng bướng bỉnh, là nỗi hổ thẹn không dễ gì quên đi được. Bằng chứng là từ khi nhà nước Đại Việt ra đời cho đến cuối thế kỷ 20, tức là 1000 năm sau đó, họ đã tám lần xua binh hùng tướng mạnh, lần lượt đối đầu với sáu triều đại chính của Việt Nam, quyết rửa nỗi nhục đế quốc mà vẫn không thành. Điều đó xác lập nên mối quan hệ lịch sử trớ trêu và bi thảm giữa chúng ta và Trung Quốc. Mỗi lần Trung Quốc muốn làm cỏ nước Nam, thì thêm mỗi lần họ phải nuốt xuống sâu hơn nỗi nhục thất bại. Nỗi nhục đó là nỗi nhục Quốc truyền. Ý thức rõ không thể tránh được Trung Quốc, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tìm ra một triết lý sinh tồn bên cạnh người láng giềng khổng lồ và chưa bao giờ hết tham vọng lãnh thổ, đó là “thần phục giả vờ” (chữ của cố giáo sư Trần Quốc Vượng). Nghĩa là bề ngoài cha ông ta luôn tỏ vẻ thần phục Bắc triều với các hình thức dâng lễ vật hàng năm, bẩm báo một cách hình thức những việc trọng đại, chấp nhận chịu lễ phong vương (tức là chấp nhận thuộc quốc về mặt hình thức)… Thậm chí sau mỗi cuộc chiến, dù mình là người chính nghĩa và chiến thắng, nhưng – như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và sau này là Quang Trung đã làm – vẫn giành cho kẻ thù chút sĩ diện để nó không quá nhục mà trở nên điên cuồng. Nhưng bên trong thì lúc nào cha ông ta cũng giữ độc lập, bình đẳng với Trung Quốc trong mọi việc, sẵn sàng – cả về tinh thần (đoàn kết dân tộc) lẫn vật chất (rèn luyện binh sĩ, vũ khí, chẳng hạn chính sách “ngụ binh ư nông”… hoàn toàn chỉ để đối phó với Trung Quốc) – để cho gã khổng lồ nếm tiếp nỗi nhục thất bại nếu nó lại gây can qua. Về phía các triều đại Trung Quốc, một mặt họ cay đắng chấp nhận sự thần phục mà họ biết rõ là vờ vĩnh đó, một mặt họ không nguôi tìm cách xóa xổ nước Việt ở phương Nam, khi điều kiện cho phép. Điều kiện đó là khi nước nhà ta suy yếu hay lủng củng về nội bộ. Điều kiện đó còn là khi các triều đại của Trung Hoa tiếm quyền nhau và muốn lấy lòng dân chúng, muốn chứng tỏ họ hùng mạnh, muốn mở mang cương vực (thời điểm hiện tại có vẻ như đang hội đủ những yếu tố bên trong và bên ngoài như vậy!). Họ đã thành công với hầu hết các nước nhỏ ở phía Tây, phía Bắc nhưng chưa bao giờ làm được điều tương tự khi quay xuống phương Nam. Vì thế, sự ngang nhiên tồn tại một nhà nước của một trong số những tộc Việt không thể tiêu diệt, chính là nỗi hận truyền đời của người Hán. Vì những mục tiêu lâu dài, trong một số điều kiện không thể chủ động, Trung Quốc buộc phải làm chỗ dựa cho Việt Nam trong một thời gian. Đây là một phần của sự thật lịch sử bang giao hiện đại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sự thật này có vẻ bề ngoài ngọt ngào nhưng bên trong vẫn là cái hạt đắng đót kết lại từ hàng ngàn năm quá khứ mà chính sách trắng của Bộ ngoại giao Việt Nam năm 1979 đã chỉ ra. Cuộc chiến biên giới Tây Nam năm 1978 với chế độ đồ tể Pônpốt và cuộc chiến phía Bắc năm 1979 với bậc thầy của hắn ta, tuy với hai quốc gia khác nhau nhưng đều có một điểm xuất phát từ Bắc Kinh. Nó là nút thắt định mệnh mỗi 250 năm (chính xác chỉ có 190 năm, kể từ cuộc xâm lược của nhà Thanh, là khẩu độ thời gian ngắn nhất) của lịch sử chưa bao giờ hữu hảo thật sự giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Giờ đây, cho dù được khoác bằng những chữ vàng về tình anh em, được tô son trát phấn bởi đủ thứ mỹ tự, thì quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, trên thực tế là quan hệ giữa một con mãnh thú luôn đói mồi với một con nhím chỉ muốn yên thân nhưng bất khuất, đầy kinh nghiệm thoát hiểm và có khả năng làm đối phương phải tổn thương. Người Trung Quốc có thể cũng rất muốn có sự yên ổn ở phía Nam, nhưng với điều kiện các đòi hỏi về lãnh thổ và lãnh hải – đặc biệt là lãnh hải – của họ phải được thoả mãn. Mà điều vô lý theo kiểu sô-vanh đó thì không bao giờ được chấp nhận, một khi người Việt chưa diệt vong. Vì vậy, mọi sự hữu hảo giữa hai đảng, hai nước, hai dân tộc… chỉ là sự vờ vịt mà cả hai bên đều đọc thấy hết những gì thật sự ẩn chứa bên trong, sẽ còn kéo dài chưa biết đến bao giờ, ít nhất là chừng nào chúng ta còn chưa giành lại được Hoàng Sa, hoặc chừng nào Trung Quốc chưa trở thành một cường quốc dân chủ, có trách nhiệm và do đó từ bỏ tham vọng ngông cuồng, đầy ảo tưởng thể hiện trên bản đồ lãnh hải hình lưỡi bò.
Có thể đã thừa căn cứ để nói rằng: Không ai mong muốn làm láng giềng núi liền núi, sông liền sông với Trung Quốc như những gì thế giới chứng kiến ở họ. To lớn như nước Nga hay Ấn Độ họ cũng không thích thú gì có một ông bạn thâm hiểm, tham tàn và khó lường như Trung Quốc ở bên cạnh. Trong nửa sau thế kỷ 20, Trung Quốc trực tiếp và gián tiếp gây chiến tranh với hầu hết bạn bè lân bang, đúng tinh thần của Binh pháp Tôn Tử: “Viễn giao, cận công”. Vì thế, số phận quả là khắc nghiệt đã đặt chúng ta bên cạnh Trung Quốc, lại ở phía dễ tổn thương nhất. Việc thất bại trong quá trình đồng hoá và xâm lược Việt Nam suốt hai ngàn năm, chưa phải là bài học cuối cùng cần khép lại vĩnh viễn với người Trung Quốc. Họ sẵn sàng theo đuổi tiếp hai ngàn năm nữa để thực hiện mục tiêu đó. Mấy chục năm hữu hảo, mấy trăm triệu đô la viện trợ để chúng ta có thể “đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng” chỉ là bước đi nhỏ, của một tính toán dài hạn, lạnh lùng, không thay đổi một li một lai mà người Trung Quốc vạch ra chi tiết cho việc thôn tính chúng ta. Xét về mọi khía cạnh thì đây là một thực tế bi thảm mà chúng ta phải đối mặt. Bi thảm vì chúng ta luôn ở thế lép vế so với họ; bi thảm vì chúng ta không có quyền lựa chọn không gian sống khác; bi thảm vì dân tộc chúng ta là một dân tộc quật cường, hoặc sống hoặc chết chứ không trở thành họ, càng không trở thành một bộ phận dơ dáy của họ. Bi thảm còn vì chúng ta không thể nhắm mắt lại rồi hy vọng khi mở ra đã ở bên một nước khác không phải Trung Quốc. Chúng ta, trong bất cứ khoảnh khắc nào đều không được phép sao lãng công việc để ý ông bạn láng giềng. Bỗng dưng nó mạnh lên là phải cảnh giác. Nhưng đột nhiên nó có nguy cơ tan vỡ cũng lại là mối nguy hiểm. Thấy họ cãi nhau với người hàng xóm khác (chẳng hạn như những căng thẳng gần đây giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay Philippines), phải nghĩ ngay đến việc họ đang giương đông kích tây, đánh lừa dư luận khỏi chú ý đến mục tiêu chính ở Biển Đông, tức là có thể bất ngờ đánh úp mình bất cứ lúc nào.
Nhưng có lẽ bi thảm nhất là vô tình chúng ta đóng vai trò vật cản tự nhiên của tham vọng bành trướng Đại Hán Trung Quốc. Đây là thực tế phũ phàng xác định tính thực chất lâu dài cho mối quan hệ Việt-Trung.
Nói gọn lại, chừng nào Trung Quốc còn nuôi ý đồ độc chiếm Biển Đông, chừng nào Trung Quốc còn chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa, tìm cách gặm dần Trường Sa của Việt Nam, chừng nào người Việt Nam còn không chấp nhận sự chiếm đóng của Trung Quốc trên một phần lãnh thổ, không chấp nhận sự lệ thuộc tinh thần, thì chừng đó quan hệ Việt-Trung là quan hệ của hai đối thủ, mọi sự hữu hảo chỉ là tạm thời và vờ vĩnh. Thực chất của mối quan hệ đó là bên này tìm cách cô lập, làm suy yếu bên kia càng nhiều càng tốt (trên thực tế điều này chỉ đang diễn ra một chiều, từ phía Trung Quốc). Với Trung Quốc là cả một chiến lược toàn diện, dài hạn, nhất quán, được chuẩn bị kỹ với tầm nhìn hàng trăm năm từ chuẩn bị lực lượng quân sự, chèn ép về buôn bán, giao thương, xâm lược văn hoá, quấy nhiễu, gây rối an ninh, áp đặt dư luận bằng quy mô tuyên truyền lớn, thao túng hàng hoá, tiền tệ, công nghệ, làm suy thoái nòi giống Việt (***)… không thể kể hết, đến những can dự vào chính trị, chia rẽ nội bộ, kiềm toả về ngoại giao, kinh tế, nhằm làm cho Việt Nam suy yếu toàn diện, … Còn về phía Việt Nam, chúng ta chỉ có một cách duy nhất là tỉnh táo thoát khỏi những mưu mô đó của Trung Quốc, tận dụng thời cơ trong đó có cả những mâu thuẫn giữa các cường quốc để phát triển. Về phần Trung Quốc, họ nắm toàn bộ sự chủ động, có thể đề ra luật chơi theo ý mình nhưng tuyệt đối không phải vì thế mà họ có quyền định đoạt. Về phần mình, chúng ta bắt buộc phải sống bên cạnh họ – nhiều người có vẻ không nhớ thực tế đơn giản này – đành ở vào thế phải nương theo và vì vậy chúng ta chỉ có thể tồn tại và phát triển bên cạnh Trung Quốc bằng một đối sách khôn ngoan.
(Còn nữa)
TẠ DUY ANH.

-----------------------------------------------
Tạ Duy Anh - Sống với Trung Quốc III: https://quangdonquixote.blogspot.com/2013/01/ta-duy-anh-song-voi-trung-quoc-iii.html

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

Tâm sự của FB Michael Le : XUẤT CHÚNG (13-14) tiếp theo…hết


Tác giả : FB Michael Le (Lê Hồng Hà)
XUẤT CHÚNG (13)
Buổi tối đó ở Đà Lạt, ngồi nói chuyện với chị mà có cảm tưởng như chúng tôi đang ở ngày cuối của một... đợt tĩnh tâm! 
Tĩnh tâm đối với người Công giáo, tôi mạo muội định nghĩa ngắn gọn, là một đợt tạm lánh khỏi những bận tâm toan tính thường ngày (kể cả tạm rời khỏi khung cảnh sống thường nhật), để nhìn lại toàn bộ cuộc đời mình, dưới cái nhìn tâm linh. Khó tĩnh tâm một mình lắm. Thường thì người ta cần bạn đồng hành. Có một bậc thầy hướng dẫn thì quá tốt, nhưng dù là 'thầy', người đó có mặt không phải là để 'giảng dạy' cho bằng là để trở thành một người bạn, lắng nghe và đồng hành - một người bạn tâm linh. 
Tôi nói vậy, vì chị đang chia sẻ những cảm nghiệm và thao thức tâm linh của chị. Chị làm tôi rất ngạc nhiên. Một người đang mắc bệnh tâm thần - tâm thần phân liệt - lại có thể có một đời sống tâm linh sâu sắc và cảm động đến thế!
Tôi có quyền kể ra chi tiết không nhỉ? Ngay khi gõ những dòng này, tôi vẫn còn thấy áy náy. Chỉ có thể nói rằng tôi rất xúc động, vì có lẽ chính nhờ thân phận bệnh tật của mình mà lòng trắc ẩn của chị lại càng bừng cháy. Chị cảm thông sâu xa và rất thương những người nghèo khổ mà chị gặp. 
Tất nhiên trong tình cảnh như vậy, chồng chị phải giữ hết tay hòm chìa khóa gia đình. Anh 'phát tiền chợ' hàng ngày cho chị và còn phải trông chừng xem chị chi tiêu làm sao, không phải vì tiếc tiền hay tiết kiệm mà vì muốn theo dõi bệnh tình của chị. Mặt khác, anh cứ canh cánh lo, nếu chị lộ ra những biểu hiện tâm thần thì rất phiền, có thể mất chỗ trọ như chơi vì các chủ nhà không ai muốn chứa một người bệnh như thế.
Nhưng chị thì quá... 'bất bình thường'! Dọn đến ở đâu, chị cũng tìm ra ít là một người nghèo khổ bệnh tật ở đầu đường xó chợ, nhất là người già, và chị tận tình yêu thương chăm sóc họ, một cách... một cách mà trong xã hội này, e người ta sẽ nghĩ "chỉ có điên mới làm thế"!
Từ khi anh chị ra riêng, tôi có đến thăm và thỉnh thoảng ở lại dùng cơm với anh chị. Chị lo cơm nước, giặt giũ, dọn dẹp trong nhà, chăm sóc con... tất cả đều rất chu đáo và cẩn thận. Chị nấu ăn ngon và khéo lắm. Chị luôn ngồi bên chồng con vào giờ cơm dù chị chỉ ăn cầm chừng chút chút, bời giờ ăn của chị còn tùy thuộc vào giờ uống thuốc. 
Nhưng chồng chị không ngờ, và tôi cũng không ngờ, chị nhịn bớt phần ăn của mình để nhường cho người nghèo! Có lần tôi đến thăm mà chồng chị chưa về, bắt gặp chị bưng một mâm cơm sạch sẽ đàng hoàng từ phòng trọ trên lầu chung cư xuống gầm cầu thang tầng trệt, nơi chị hẹn hàng ngày một bà cụ ăn xin neo đơn ngoài chợ. Chị ngồi đó, quạt cho cụ ăn, săn sóc y như săn sóc mẹ già của mình! Ôi... đúng là chị 'điên' rồi!
Chị kể tôi nghe những chuyện như vậy. Chị áy náy hỏi tôi chị có làm sai điều gì không? Chị rất thương sự vất vả khó nhọc của chồng, đâu dễ kiếm tiền ở đất Sài Gòn đắt đỏ, nhưng chị nói chị cầm lòng không được! Tôi trả lời làm sao bây giờ? Ôi chao! 'Điên' như chị thì quả là... xuất chúng! Trong lịch sử giáo hội từng có những vị thánh 'điên' rất nặng kiểu đó. Thánh Phanxicô, thánh Martinô da đen chẳng hạn. Hay ngay thời chúng tôi, Mẹ Têrêsa Calcutta cũng quá xá là điên!
Rồi chị kể tôi nghe câu chuyện thời thơ ấu của chị. Một lỗi lầm trẻ con làm chị cứ ân hận hối tiếc mãi. Chị muốn sống ngay lành và trong sạch để... "không làm Chúa buồn"! Chị nói giờ chị đón nhận căn bệnh của mình, chị biết nó sẽ kéo dài cả đời và chị "vâng theo ý Chúa". Không 'cãi' nữa! Không trách không buồn nữa! Chị chỉ cầu xin Chúa gìn giữ để không làm gì sai trái tội lỗi, và không trở thành gánh quá nặng cho ai...
"Anh Hà. Thỉnh thoảng em cũng đến nhà thờ xưng tội, nhưng hôm nay được nói hết với anh, được nghe anh khuyên như thế, em thấy nhẹ lòng lắm!".    
Ôi chao! Tôi nào dám khuyên chị điều gì? Chị thánh thiện hơn tôi nhiều! Tôi đã cảm thấy có luồng điện chạy khắp người và tôi đã... tự nhiên nổi cơn lên mà 'giảng đạo'. 
Tôi nói: Ôi, Chúa thương chị quá chừng! Tôi chỉ đứa con bé nhỏ ngủ trong tay chị và nói: "Nó có nhức răng hay đau bụng, hay lúc bị cơn sốt vỡ da, hay những lúc đái dầm ỉa đùn... chị là mẹ, có bao giờ chị trách nó đâu. Lúc nó càng yếu đuối bệnh tật chị càng thương hơn, phải không? Dù mình có tội lỗi đến đâu thì tội mình cũng chỉ như hạt bụi, còn lòng Chúa thương thì như biển như trời..."
Ôi chao, tôi bỗng nói một hồi như là cũng đang... 'lên cơn' rồi. Thật là giống một cuộc tĩnh tâm. Tôi và chị đều cảm thấy hạnh phúc, thấy bình an, thứ hạnh phúc bình an lạ lùng khi mình cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa tràn trời ngập đất! 
Mắt chị sáng ra. Khuôn mặt chị như tỏa ra ánh sáng bình an và niềm vui. Ngay lúc đó, ngay đêm đó, tôi hoàn toàn tin rằng chị đã được chữa lành. Chị sẽ sống hạnh phúc cho dù phải uống thuốc cả đời đi nữa, và chị sẽ còn đem hạnh phúc đến cho người chung quanh, trước hết là chồng con chị! 
Xuất chúng là gì? Xuất chúng là đón nhận trọn vẹn con người mình như nó là. Xuất chúng là ôm lấy số phận độc đáo của mình, là ôm lấy kiếp sống của chính mình, cái duy nhất, có một không hai trong vũ trụ này. Xuất chúng là sống tràn đầy từng phút từng giây chính đời mình bằng con tim đơn sơ quảng đại, yêu thương và rộng mở.
Chị và tôi đều biết tôi không tiện ở lại lâu trong căn nhà nhỏ này của người chị. Chị biết đó là buổi tối đặc biệt chắc khó có lại lần thứ hai, để kể tôi nghe những điều chị muốn kể. 
Tôi hoàn toàn an tâm rồi. Ngay hôm sau tôi sẽ về. Còn mấy ngày nữa mới Tết. Vẫn còn kịp, tôi không về Sài Gòn liền mà sẵn tiện, ghé thăm giáo xứ kinh tế mới mà nào giờ chỉ nghe kể chứ tôi chưa tới bao giờ. 
Đó là một cuộc thăm viếng rất thú vị. Tôi có cảm tưởng lòng mình đang tràn ngập niềm vui và không thể không đi... loan báo 'tin mừng' ấy cho bạn bè cũ của anh chị. Đúng là một tin mừng! Chúa đã sống lại thật rồi! Chúa đã sống lại trong người bệnh tâm thần phân liệt là chị!

XUẤT CHÚNG (14 - Hết)
Một người bạn của tôi, một cô giáo trong trường xưa, đọc thấy loạt bài này, bèn nhắn tin đến tôi, nói rằng có gặp chị bạn tôi mới gần đây nhân vợ tôi từ Úc về thăm quê hương mời bạn bè họp mặt. (A, tôi nói vợ đây, là người vợ cũ. Cuộc hôn nhân của chúng tôi đã đổ vỡ, khoảng 4 năm kể từ sau ngày đầu tiên chúng tôi quen biết anh chị).
Nghe kể anh chị giờ sống rất ổn, đã có nhà riêng. Cậu con trai của anh chị, bé lẫm chẫm năm nào, giờ đã có gia đình, đã sinh cho anh chị đứa cháu nội. Bữa họp mặt đó có chụp hình, cô giáo hứa sẽ tìm lại hình của chị, gởi tôi xem. 
Chị ấy giờ sống khỏe mạnh y như một người bình thường, dù chị vẫn uống thuốc. Vâng, một người bệnh tâm thần thì vẫn cần thuốc cả đời, nhưng ngày từ lúc còn ở Việt Nam, tôi biết chị đã có thể tự theo dõi sức khỏe mình, tự biết uống thuốc khi cần và tự biết liều thuốc cần bao nhiêu. 
Rất ổn rồi. Ngay từ lúc đó tôi đã thấy chị đi lại và hoạt động nhanh lẹ hơn, không kém người khỏe bao nhiêu. Và ngay từ lúc đó, tôi biết chị đều đặn đến nhà thờ dự thánh lễ mỗi chiều. Chị cũng dắt con theo để tập thói quen tốt cho con nữa. 
Thời gian đầu khi chúng tôi mới ly hôn, anh chị hay nhắn tôi đến nhà chơi, và tôi biết anh chị cũng hay mời riêng vợ tôi đến chơi nhà anh chị. Anh chị muốn an ủi chúng tôi, tôn trọng cả hai phía, không nỡ hạch hỏi điều tra hay trách móc phán xét bên nào cả.
Chị làm đồ nhắm cho chồng chị và tôi nhậu lai rai. Chắc là thời gian đó tôi phờ phạc rầu rĩ lắm. Chị ngồi ngó tôi một hồi rồi vừa cười vừa la: "Anh Hà thiệt là tình á! Sao anh để đến nông nỗi này? Lúc em mới biết chuyện, em buồn lắm. Nhưng thôi, số phận vậy rồi. Giờ em vẫn thường cầu nguyện cho anh và chị. Cầu cho hai người được bình an". Tôi cảm động thấy chị cư xử thật ấm áp và độ lượng, như một người bạn từng trải, hiểu đời.
Trước khi xuất cảnh đi Mỹ, tôi cũng đến thăm chào từ biệt anh chị. Anh từng vất vả và lo lắng nhiều nên tóc anh sớm bạc. Chị đã trở thành một phụ nữ tuổi 40, mạnh khỏe, chăm chỉ và đảm đang, khuôn mặt toát ra vẻ hiền lành phúc hậu. Tôi thấy anh chị thật hạnh phúc. 
Anh ấy cũng công nhận anh hạnh phúc. Anh cám ơn Trời đã cho anh một người vợ đặc biệt, người vợ đã giúp anh dù cũng 'ham vui' như bao nhiêu đàn ông khác, đã biết kềm mình trong kỷ luật để mà sống cho tốt.  
Thôi tôi xin lấy lại bản nháp mà tôi đã viết mấy bữa trước khi tôi muốn kết thúc sớm chuyện kể này. Tôi đã định kết thúc sớm vì ngần ngừ cân nhắc, sợ mình không được quyền tiết lộ bí mật nội tâm của chị. Nhưng đã lỡ kể thì phải kể cho hết. Tôi đã đành phải bật mí về sự xuất chúng lạ lùng của chị. 
Ai trong chúng ta cũng có thể trở thành xuất chúng, khi chúng ta dám đón nhận và đảm nhận cuộc đời của chính mình, số phận và 'ơn gọi' độc đáo duy nhất của riêng mình - không giống, và không cần phải giống bất cứ ai trên trái đất này. 
Tận kỳ tính! Sống đến kỳ cùng cái phận người trôi nổi và cái tính người linh thiêng của nhân loại, ngay trong hoàn cảnh tư riêng đặc thù của mình. Và vì là người, nên biết mở rộng con tim nữa để mà đón nhận và yêu thương mọi người khác - thông cảm và yêu thương người khác vô điều kiện như họ 'là', trong hoàn cảnh riêng tư duy nhất của họ. 
Xin cám ơn quý anh chị đã theo dõi và khích lệ tôi kể hết câu chuyện này. Xin cứ xem đoạn nháp này là cái kết của tôi ạ:

XUẤT CHÚNG (nháp)
Tôi đã phải khá dài dòng kể lại câu chuyện chị bạn từng bị bệnh tâm thần phân liệt, có lẽ điều tôi muốn nói, trước tiên là sự cảm kích sâu xa về những nỗ lực của loài người để giúp đỡ nhau, mang vác nhau, đùm bọc nhau và chữa lành nhau.
Có bệnh thì ta mới biết ơn ngành Y, cũng như ăn hạt cơm chúng ta biết ơn người trồng lúa. Tất cả chúng ta cần có nhau thì mới tồn tại được trong vũ trụ bao la huyền nhiệm này. Lòng biết ơn nhau giúp thế giới loài người chúng ta chung sống hòa bình và nhân ái.
Nếu đùng một cái mà Ông Trời, hay Ông Chúa, làm "phép lạ" để thế gian này không còn bệnh tật và khổ đau nữa, thì điều đó chưa chắc đã là "lạ". Cái lạ, là những bất hạnh và mong manh của phận người thúc đẩy chúng ta phải nỗ lực từng bước, có khi từ thế hệ này qua thế hệ kia, để tiến tới một thế giới nhân bản hơn, yêu thương hơn, "người" hơn.
Với tôi, "phép lạ" chính là chỗ đó! Trong cái nhìn đó, thì chúng ta biết ơn cả những người bệnh, những người bất hạnh, những người "nghèo", và cả những người "ác xấu".

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2018

Tâm sự của FB Michael Le : XUẤT CHÚNG (10-11-12) tiếp theo…


Tác giả : FB Michael Le (Lê Hồng Hà)

XUẤT CHÚNG (10)
Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa lúc ấy giống như ngôi làng nhỏ xây kiểu Pháp. Mỗi dãy nhà, (đúng hơn là mỗi căn nhà vì chỉ rộng hơn nhà tư nhân tí), lúc đó toàn là nhà trệt, đều có mảnh đất và hàng rào chung quanh. 
Vị y sĩ dẫn tôi đến nhà dành cho bệnh nhân nữ đã được "cắt cơn". Nhà này chỉ có hàng rào thấp bao quanh mảnh sân phía trước, với hai cây bông sứ thấp, trồng một ít hoa. Phía sau là sân tắm giặt, phơi đồ. Cổng rào không khóa, nhưng các cửa đi và cửa sổ của nhà đều có song sắt kiên cố, dòm y như nhà tù. 
Cô y tá mở cánh cửa sắt, lắc chùm chìa khóa leng keng, báo hiệu hết giờ ngủ trưa và được ra sân trước hóng mát rồi. Cô kêu tên chị bạn tôi, nói có người nhà đến thăm nè. Lập tức, cả phòng nhốn nháo hẳn lên. Mười mấy người xúm xít bu tới cửa đi và cửa sổ, tròn mắt dòm, nhưng lạ là không ai dám ra cả. 
Tôi thoáng thấy chị ngồi dậy, chậm chậm nhìn ra. Thấy tôi, chị chầm chậm xuống giường. Chị có vẻ vô cùng ngạc nhiên và mừng. Tôi cũng ngạc nhiên không kém, thấy chị tuy vội nhưng vẫn nhớ sửa sang lại áo sống, kẹp tóc lại cẩn thận trước khi bước ra. Mười mấy cô bệnh nhân dạt ra nhường lối cho chị. Tôi nghe những tiếng reo lên: "Có người nhà thăm rồi kìa! Có người nhà thăm kìa!". 
Vị y sĩ bảo tôi chịu khó gặp chị ở đây vì hôm nay ngày thường, phòng tiếp khách đóng cửa không có ai trực. Tôi mở cổng bước vào sân. Đã mấy tháng rồi tôi mới gặp lại chị. Chị vẫn đi chậm chậm như ngày nào. Chị mừng rớt nước mắt và đây là lần đầu tiên chị nắm lấy tay tôi, bằng cả hai tay chị. "Anh Hà. Sao anh tới đây được vậy? Em mừng quá! Em ở đây buồn lắm. Em nhớ con em lắm".
Có chiếc bàn đá tròn giữa sân và bốn ghế đá dài bao quanh. Tôi với chị ngồi đó. Chưa nói chuyện gì nhiều thì mười mấy nữ bệnh nhân ào ra hành lang, dòm chúng tôi một cách thèm thuồng, chỉ chỏ nói gì đó với nhau, người thì òa khóc, người thì mếu máo, người khác lại cười hí hí.
Tôi thực ngạc nhiên thấy chị nhìn những bạn đồng phòng bằng cái nhìn xót xa thương cảm. Chị nói với tôi: "Tội lắm anh Hà. Mấy chị thèm được người nhà tới thăm lắm, mà rất ít. Có chị ở đây lâu rồi mà không ai thăm cả". Chị cố gắng cất giọng yếu ớt, nói to lên: "Ra đây chơi đi mấy chị. Anh này là bạn của chồng em". 
Như chỉ chờ có thế, cả phòng ùa ra. Một chị lớn tuổi nhất, độ 40, nhanh chân nhất và bạo dạn nhất, chạy tới giành ngay chỗ kế bên tôi. Những cô khác rụt rè hơn, chạy tới rồi khựng lại chưa dám ngồi, miệng cười toe toét mà mắt rưng rưng như khóc. Tôi tươi cười mời các cô ngồi, lòng nhói lên, xót xa vì phần đông họ đều còn trẻ, thậm chí có cô còn rất trẻ.
May là tôi đã quen với các lớp Trẻ em Chậm phát triển nên cảnh này không làm tôi ngán. Ôi thôi là như cái chợ. Mạnh ai nấy nói. Có cô bỗng bật khóc hu hu. Cô khác la: "Im đi mày! Mày khóc bác sĩ cho mày lên phòng sốc điện bây giờ!". 
Nghe nhắc tới phòng "liệu pháp sốc điện", tôi thấy ai nấy mặt mày xanh lét. Cô kia càng kinh hoàng khóc to hơn, hai tay chắp lại vái lạy liên hồi, nhưng miệng thì la: "Không khóc nữa! Không khóc nữa!". (Phòng sốc điện là thế nào, tôi thực tình không dám kể. Ai muốn biết nó thế nào thì... hỏi ông Phạm Văn Thành, một cựu tù chính trị từng bị tra tấn bằng ghế điện). 
Chị tuổi 40 ngồi kế tôi thì nhắc đi nhắc lại cả trăm lần địa chỉ của chị, nhờ tôi đến nhắn người nhà rước chị về. Chị bảo cứ tới ngay chợ đó chợ đó, ghẹo bên trái đi tới một chút rồi ghẹo bên phải, ngay trân nhà có cây bông giấy là nhà chị....
Tôi rất ngạc nhiên, vô cùng ngạc nhiên vì sự bao dung tử tế của chị bạn tôi. So với tất cả bệnh nhân cùng phòng, chị là người ăn mặc chỉnh tề sạch sẽ nhất. Tóc chị gội chải mượt mà chứ không rối bời như những cô khác. Chị có vẻ còn rất mệt vì phải uống nhiều thuốc an thần. 
Một cô đứng dậy la lên: "Tụi bây có im hết đi không, cho người ta nói chuyện kìa! Người ta đến thăm người nhà chứ có thăm tụi bây đâu hả?". Cả nhóm lặng đi một chút, im re, rồi lại bùng lên như cái chợ! 
Mắt chị bạn tôi thỉnh thoảng sụp xuống và tôi thấy chị phải định thần, hít thở mấy hơi cho tỉnh. Chị nhìn người này người kia, mỉm cười với họ. Chị nói nhỏ với tôi: "Họ tội lắm anh à!".
Đã sống chung nhà với chị cả năm, thỉnh thoảng nghe chị kể chuyện. Dù là những mẩu chuyện rời rạc, tôi lờ mờ cảm nhận tấm lòng vị tha lạ kỳ của chị. Bây giờ ngồi đây, hơn hai tiếng đồng hồ ngồi bên chị và giữa nhóm bệnh nhân đáng thương này,  tôi vô cùng xúc động thấy chị "nhường" tôi cho các bạn đồng cảnh ngộ.
Ngay lúc ấy, tôi rúng động vì sự phi thường của chị. Tôi nghĩ tôi không sai khi nói rằng chị là một người "xuất chúng" (đó là một trong hai lý do tôi lấy chữ đó đặt tựa cho loạt bài này).    
Tôi quyết phải làm mọi cách để chị được xuất viện. Có mất bao nhiêu công sức và thời gian nữa, tôi cũng sẽ quyết đồng hành với gia đình anh chị. Tôi tin là chị sẽ được bình phục. Một người có trái tim nhân hậu đến thế thì nhất định sẽ được chữa lành. Nhất định Chúa sẽ chữa chị lành! Tôi tin chắc chắn thế!

XUẤT CHÚNG (11)
Từ bệnh viện thăm chị về, tôi ghé đến chỗ anh làm việc để "báo cáo tình hình". Tôi nói bẵng thời gian lâu không gặp chị, thấy chị thuyên giảm không ngờ. Trông chị khá lắm. Lần lên cơn trở lại vừa rồi có lẽ do thời tiết quá nóng và do chị sơ suất quên tăng liều thuốc hàng ngày lên chăng?
Anh báo tin mừng cho tôi. Đã có giải pháp. Một người chị vợ của anh nhân có việc đi Sài Gòn đã tìm đến thăm. Nghe tình hình như vậy, chị sẵn lòng rước em gái mình và cháu về ở chung, dự định vài tháng hay một năm. Chị ấy sống với chồng và hai đứa con nhỏ ở Đà Lạt. Chồng chị lại phải đi công tác xa nhà lâu ngày. Thôi thì hai chị em đùm bọc nhau một thời gian.
Tôi mừng quá! Tôi biết anh với gia đình bên vợ bất hòa đã lâu, và anh từng 'khắc khẩu' nhất, va chạm nhiều nhất là với với bà chị vợ này. Nay chị ấy không những đích thân tìm đến làm lành mà còn sẵn sàng góp một tay giúp hai em mình. Khí hậu Đà Lạt lại quá lý tưởng cho người bệnh. Ôi, cám ơn Trời! Quá tốt!   
Niềm tin! Niềm tin! Tin rằng người bệnh sẽ được hồi phục! Khi mà mọi người thân chung quanh người bệnh tâm thần đều dám TIN rằng bệnh nhân sẽ hồi phục, thì tôi nghĩ... đến Chúa cũng không dám 'cãi'.  
Người chị đã rước cháu về Đà Lạt trước. Anh bạn tôi đã có thể an tâm rồi. Mùa Tết đến, công việc đã rất nhiều mà chủ còn giao anh thêm nhiệm vụ trực Tết. Chúng tôi thống nhất với nhau: cuối tuần anh sẽ đến bệnh viện rước chị về, và hôm sau tôi sẽ tháp tùng đưa chị đi Đà Lạt.  
Sáng đó tôi ra bến xe, chờ một chút thì anh chở chị bằng xe đạp lọc cọc đến. Chị trông vẫn còn rất mệt. Mấy ngày cận Tết khó mua vé, rốt cuộc chỉ còn hai chỗ trên chiếc xe nhỏ chật cứng mà ghế tựa thì chỉ cao ngang lưng. Kiểu này ngồi rất mỏi. 
Tôi ngồi 'chặn' cửa sổ, chị ngồi bên. Đứng dưới xe, anh với tay nắm lấy tay chị. Lần đầu tiên tôi thấy anh nhìn chị bằng cái nhìn dịu dàng. tràn đầy yêu thương âu yếm, trước mắt tôi, không ngại ngần gì nữa. Anh dặn dò vài điều, rồi nói: "Em có mệt, cứ ngả vào vai Hà mà ngủ. Giữ sức khoẻ và chăm sóc con giùm anh. Anh thu xếp công việc sớm rồi sẽ rước hai mẹ con về với anh". 
Thật cảm động! Tự nhiên tôi có cảm tưởng anh vừa 'tuyên hứa' lần nữa lời thề yêu thương với vợ mình, trước mặt... 'người chứng hôn' là tôi: "Anh hứa lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh tật cũng như khi khỏe mạnh, sẽ tôn trọng và yêu thương em, suốt đời anh!".
Chiếc xe cà rịch cà tang, dừng tới dừng lui thả khách đón khách, chạy cả hơn nửa ngày mới tới Đà Lạt. Chị ngủ suốt, không ăn gì, chỉ ráng dậy khi tới giờ uống thuốc. Tôi quàng vai để chị ngả vào tôi mà ngủ, vừa như đứa em gái bé bỏng tội nghiệp, vừa như người chị mà tôi đã thoáng thấy vẻ đẹp kỳ lạ của tâm hồn, một người chị tôi vừa thân thiết vừa thực lòng kính trọng.       
Về tới Đà Lạt, chị vui và khỏe hẳn lên khi được gặp lại con. Hai chị em cũng rất mừng gặp lại nhau sau mấy năm xa cách. Người chị nói với tôi: "Vợ chồng em chỉ là bạn mà còn thương giúp đỡ đùm bọc tụi nó, chị là chị thì làm sao bỏ em bỏ cháu mình được".
Cả ngày ngồi bó chân trên xe, tôi xin phép đi bộ lòng vòng kiếm quán cafe, ngắm Đà Lạt xem nó ra làm sao, cũng là để hai chị em tha hồ tâm sự. Một dãy dài cả chục quán liên tiếp, tôi rảo một vòng, chọn quán nào có nhạc hạp gu nhất, ghé vô. 
Ngồi đó, hút thuốc liền tù tì, một cơn trống rỗng buồn bã bỗng từ đâu ập tới. Tôi ngẫm nghĩ thân phận lông bông của mình. Tôi ngẫm nghĩ về tình trạng hôn nhân của chính vợ chồng tôi. Chúng tôi rất thương nhau, có vẻ rất giống nhau rất hạp nhau nữa, nhưng không hiểu sao cứ khủng hoảng hoài! 
Tôi kêu thêm cafe, quên cả thời gian, trời tối hẳn lúc nào không hay, bỗng giật mình vì chị cùng đứa con đứng trước mặt tôi tự bao giờ. "Anh Hà! Trời đất! Chị em cứ sợ anh giận hay buồn gì chị. Đã dặn anh về ăn cơm sao anh không về?"
Tôi lật đật theo chị về nhà. Đi qua dãy quán cafe, chị đùa vui: "Trời tối quá, mẹ con em phải vô từng quán, đi tới từng bàn tìm anh. Mắc cười quá. Chắc ai cũng tưởng em đi tìm chồng bắt ghen".     
Về tới nhà thì người chị đã cho con đi ngủ rồi. Tôi ngại không dám ăn uống gì nữa. Nhà rất nhỏ. Chỉ một phòng ngủ cho chủ nhà. Có căn gác thấp phía trên bếp phía sau. Một cái mùng đôi cho hai mẹ con chị. Một mùng đơn cho tôi kế bên. 
Trong ánh đèn nhỏ mờ mờ, chị ngồi đó với đứa con ngủ trên tay. Tôi ngồi đối diện. Chị đã ngủ cả ngày trên xe nên lúc này thật tỉnh táo. Quen biết nhau đã gần 3 năm, từng sống chung nhà hơn 1 năm, vậy mà đây là lần đầu tiên chị với tôi nói chuyện với nhau nhiều đến thế, gần như suốt đêm. 
Lần đầu tiên người bệnh tâm thần ấy bộc lộ với tôi về nội tâm của chị, về những kỷ niệm của chị, những gì chị suy nghĩ, chị ước ao, chị thất vọng và hy vọng. Một cuộc trò chuyện vô cùng quý giá và ý nghĩa cho tôi!

XUẤT CHÚNG (12)
Ai làm việc trong ngành tâm lý trị liệu đều phải biết nguyên tắc giữ kín những điều riêng tư mà 'thân chủ' thố lộ, cũng gần như một linh mục phải giữ kín những 'bí mật tòa giải tội' vậy. Thực ra, tôi có phải nhà trị liệu trị liếc gì đâu. Tôi chỉ là người bạn, có duyên đồng hành với một người bạn từng mắc bệnh tâm thần phân liệt và thân nhân của người ấy, trong một thời gian khá dài. 
Tôi kể lại câu chuyện dài dòng này sau khi đã cân nhắc thật lâu mình có mạo phạm những điều riêng tư của người khác không. Tôi dám kể, bởi vì thấy câu chuyện của gia đình anh chị bạn tôi rất gần gũi với tất cả chúng ta - phận người mong manh khó nhọc của chúng ta giống nhau lắm. Tôi còn muốn kể, với hy vọng chia sẻ một kinh nghiệm mình may mắn được nếm trải, rằng thế giới nội tâm của một người bệnh tâm thần thì không khác gì chúng ta cả.
Những gì chị tâm tình với tôi trong đêm đó không có gì là quá bí mật nhưng có lẽ khá bất ngờ. Người bệnh tâm thần, ngay cả trong giai đoạn bệnh nặng nhất, cũng có thể cảm nhận đầy đủ về 'thực tại' chung quanh y như tất cả chúng ta, có khi còn nhạy cảm hơn chúng ta về vài khía cạnh nào đó của cuộc sống.
Chị hỏi tôi còn nhớ ngày đầu tiên chị đến ở với gia đình chúng tôi không? Tôi làm sao quên được. Cái 'máu nghề nghiệp' làm tôi luôn nhủ mình chăm chú 'lắng nghe' mọi thông điệp từ chị - những thông điệp bằng lời và quan trọng hơn nữa, những thông điệp không lời: cung giọng của câu nói, ánh mắt, sắc mặt, cử chỉ, hành động... 
Tôi vẫn thường xuyên ôn đi ôn lại những 'thông điệp' của chị trong suốt một năm sống chung nhà, để mong hiểu được chị thật chính xác và thật 'thấu cảm'. "Hãy để những thông điệp ấy vang đi dội lại trong tâm trí mình", cô Tô Thị Ánh, sư phụ môn tâm lý trị liệu của chúng tôi, thường hay nhắc chúng tôi thế.     
Tôi nhớ lắm. Hôm đó ngày nghỉ, vợ con đi vắng, tôi ở trường một mình. Anh chở chị đến, có lẽ ngay sau khi vừa rước chị về từ bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Tôi đưa anh chị lên phòng trên tầng 4 đã dọn dẹp sạch sẽ nhưng trống trơn chưa có giường chiếu gì cả. Chị lừ đừ, lên cầu thang rất chậm chạp, khuôn mặt trơ trơ như hoàn toàn vô tri vô cảm. Chị lăn ngay ra nền gạch bông nằm li bì, chắc là ngủ. Anh chỉ kịp chào hỏi tôi vài câu rồi phải đi ngay để đón đứa con nhỏ đang gởi nhờ ai đó. Hôm đó cũng là lần đầu tiên tôi gặp mặt chị. 
Tôi xuống phòng vợ chồng tôi ở tầng 3, lấy lên cho chị chiếc gối và tấm chăn mỏng. Chị nằm chơ hơ trên nền gạch tội quá. Gọi mấy lần không thấy chị trả lời, tôi nhẹ nhàng nâng đầu chị lên để luồn chiếc gối vào dưới rồi đắp tấm chăn ngang bụng chị. Tôi làm những điều đó dịu dàng như một y tá chăm sóc bệnh nhân. Thấy trời nóng, tôi lại xuống rót cho chị ly nước và lấy chiếc quạt máy lên.
Chị kể lại, lúc đó đầu chị nặng chịch, mắt mở không lên vì thuốc, nhưng chị biết hết. Vào bệnh viện tâm thần, nhìn những bệnh nhân chung quanh lên cơn điên, chị biết hết, quan sát được hết và điều đó làm chị phải nhớ lại, ôn lại những lần lên cơn của mình. Thì ra bệnh tâm thần nó kinh khủng như thế đó, bi thảm và tội nghiệp như thế đó. Chị tuyệt vọng và chỉ muốn chết. Chết để giải thoát cho chồng con mình. 
Chị biết hết. Chị biết chồng chị phải để chị nằm lại căn nhà xa lạ này, có người đàn ông xa lạ này. Chị biết tôi đến gần bên chị, quỳ xuống bên chị. Chị nghe hết những lần tôi gọi tên. Chị muốn ngồi bật dậy mà không được, mắt mở không lên, miệng muốn nói mà không thốt ra lời. Chị cảm thấy bơ vơ, yếu đuối và bất lực, không thể tự vệ gì được nữa. 
Người đàn ông này là thế nào? Sao anh ta dám chạm vào mình? Sao anh ta nâng đầu mình lên? Chị kể từ khi bị bệnh, có nhiều lúc chị sợ hãi mọi người chung quanh. Ai cũng sẽ khinh bỉ và ghét bỏ mình vì mình không còn là con người bình thường. Ai cũng sẽ có thể trừng trị mình hay làm hại mình. Nếu người đàn ông xa lạ này làm bậy với mình thì sao, khi chung quanh không có ai để mình kêu cứu? 
Chị mỉm cười, anh mắt trở nên thật vui. "Anh Hà biết không? Ngay lúc đó mà em vẫn cảm thấy ngạc nhiên sao ông này cứ một hai kêu mình bằng chị. Em biết rõ em đang trên tầng lầu rất cao. Nếu anh làm bậy, em nghĩ em sẽ lao ra lan can cầu thang và nhảy xuống. Em buồn lắm rồi. Chán nản lắm rồi. Tuyệt vọng về bản thân mình lắm rồi..."
Chị kể ngay sau hôm đầu tiên đó, chị đã cảm thấy an tâm và tin cậy. Anh này là một người đàng hoàng tử tế. Tối đó khi gặp vợ con tôi lên phòng chào hỏi, chị càng cảm thấy an tâm hơn. Chị biết mẹ con chị đang được tá túc ở một gia đình hiền lành. Chị nói tuy vậy, phải mất một thời gian lâu nữa, chị mới bớt mặc cảm và thấy thoải mái hơn khi sống chung một nhà với chúng tôi.
"Anh Hà. Em xem anh như anh ruột của em. Còn thân thiết hơn anh ruột của em nữa. Không biết nói lời nào để cám ơn anh!".
Chị mở đầu những lời tâm tình như thế đó. Tôi chỉ còn biết chăm chú nghe, ngạc nhiên hết sức về những gì có thể diễn ra trong tâm trí một người đã bị xếp vào dạng "tâm thần phân liệt". Ôi, ai dám bảo là họ điên nhỉ? 
Ôi, những người vô tình buông ra những lời nhận xét cợt nhã hay thậm chí xúc phạm phẩm giá của những người bệnh tâm thần... Ôi, kể cả những đàn ông xấu tính xâm hại tiết hạnh của những nữ bệnh nhân... Ôi, thực ra, ai điên hơn ai?

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

Tâm sự của FB Michael Le : XUẤT CHÚNG (7-8-9) tiếp theo…


Tác giả : FB Michael Le (Lê Hồng Hà)
XUẤT CHÚNG (7)
Vợ chồng chúng tôi được học (nói đúng hơn là được 'trị liệu') nhiều năm môn Tâm lý trị liệu Nhóm. Chúng tôi cũng có tham gia    những nhóm tĩnh tâm, cầu nguyện, học hỏi chia sẻ Kinh thánh nhiều năm, ngay từ hồi chưa kết hôn.
Tính tôi thì... 'ruột ngựa', có làm sao thì cứ toèn toẹt thành thật tâm tình hết cả, từ cái tật mê gái thượng thừa, gặp ai cũng mê, đến cả cái tật Thủ Thiêm Thủ Thừa Thủ Đức Thủ Dầu Một. Ôi, từ lúc trẻ tôi đã nghĩ những gì riêng tư nhất có khi lại phổ quát nhất. Đời mình có là gì đâu. Nội tâm mình có là chi đâu. Yêu thương là bộc lộ. Yêu thương là chia sẻ, chia sẻ cả những gì sâu kín nhất trong tim mình. 
Vợ chồng chúng tôi cũng không tránh khỏi những lúc cơm không lành canh không ngọt. Thời gian yêu nhau, ngay cả tuần lễ cận ngày đám cưới, sống với nhau mới một năm... chúng tôi đã trải qua nhiều lần khủng hoảng. Và những lần như thế tôi đều thành thật chia sẻ với các nhóm. Vợ tôi ít nói hơn nhưng cũng không phản đối.
Bạn bè quen biết chắc là ai cũng thấy tôi dễ thương, mỗi tội hơi... khùng. Và ai cũng rất thương mến vợ tôi, nên chuyện gì cũng thường là bênh vợ tôi hơn. Hì hì, ngay cả sư phụ Tô Thị Ánh cũng bênh vợ tôi hơn (đàn bà với nhau mà lị).
Cái thằng tôi thân đàn ông mà không lo gầy dựng sự nghiệp, không lo đi làm ăn kinh tế, đã ở nhà trông con lại còn đèo bồng thêm chuyện này thì còn ra làm sao? Hộ khẩu thì mất toi lâu rồi, chẳng có bằng cấp chính quy gì ráo trọi, rủi xảy ra chuyện gì thì ăn nói làm sao với pháp luật?
Chuyện chúng tôi sống chung với gia đình anh chị bạn trong ngôi nhà to đùng lặng lẽ như thế, còn có một vấn đề rất tế nhị mà ai cũng cảm thấy, chỉ ngại nói ra. Anh ấy đi làm tối ngày, cố dành dụm cho tương lai. Vợ tôi cũng bận bịu cả ngày với việc ở Trường. Tôi và chị ấy ở chung một nhà suốt tháng quanh năm, chuyện lửa gần rơm lâu ngày e cháy thì làm sao, có phải là tan nát cả hai gia đình không? Chị ấy bệnh tâm thần, rủi hôm nào... quên mặc áo quần, cứ hồn nhiên trần trụi như những lần ở quê thì sao?
Vân vân, đủ thứ vấn đề như thế, mà những người trưởng thành khôn ngoan trong xã hội phải biết dè trước phòng xa. Không ai thuyết phục tôi được, thì đúng là tôi cũng... khùng rồi. Tôi cảm thấy mình nổi giận khi biết có mấy người bạn hết thuyết phục vợ tôi lại còn tìm đến chỗ anh ấy làm việc và đặt thẳng vấn đề với anh ấy.
Học tâm lý không phải để được tinh đời hiểu biết tâm lý người ta đâu. Không đâu. Trước tiên và quan trọng nhất là để hiểu biết chính mình. Học biết mình là cái học cả đời chưa hết. Và càng biết mình thì càng khiêm tốn. Mình không thể tự mãn tự tin được. 
Chỉ có tin Chúa thì chúng tôi mới dám làm cái điều liều lĩnh này. Và giờ, nếu những trục trặc là dấu hiệu từ Chúa, thì tôi là ai mà dám cãi. Tôi đành phải tuân phục thôi. Đành phải chịu trận khi anh ấy tính đường dọn ra riêng. 
Tôi hạp với chị ấy hơn cả hạp với anh bạn tôi. Chị ấy trẻ hơn tôi nhiều nhưng tôi luôn kêu là chị (dù vợ tôi kêu chị bằng em). Thời gian khá lâu sống chung nhà, tôi nhận ra nơi chị ấy một tâm hồn trong sáng, thanh khiết và đầy trắc ẩn. Tôi kính trọng và thương chị ấy. 
Hai gia đình bịn rịn chia tay nhau. Phải phục anh ấy. Gia đình anh ấy ở Sài Gòn trước khi đi kinh tế mới. Anh ấy từng học trong nhà Dòng cũng ở Sài Gòn. Sài Gòn đúng là đất dụng võ của anh. Bạn học cũ trong Dòng cũng đông. Chỉ một năm thôi mà anh đã lấy lại được tinh thần. Có bạn bè hỗ trợ, anh dư sức bươn chải để bảo bọc gia đình. 
Thôi thì ý Chúa muốn thế, chắc chắn thì mọi chuyện rồi cũng sẽ tốt đẹp. Nhưng cái duyên hội ngộ giữa hai gia đình vẫn chưa hết. Cái duyên của chị ấy, người bệnh tâm thần ấy, với tôi vẫn chưa hết. Câu chuyện về sau đối với tôi càng rất ý nghĩa!

XUẤT CHÚNG (8)
Ông Trời luôn luôn có lý. Nói theo niềm tin của chúng tôi, Chúa luôn có lý. Những gì xảy đến, cho dù trái với ý muốn của mình, thì cứ khiêm cung đón nhận cái đã, tin rằng đó là điều tốt nhất. Chúng ta xét cho cùng chỉ là những đứa trẻ trong dòng đời cuồn cuộn chảy, biết đâu là bến là bờ. Chúng ta chả ai lường được ngày mai sẽ ra sao. Ông Trời thì như cha mẹ, thấy trước biết trước, âu yếm dọn trước những nẻo tốt lành nhất cho mình. 
Anh chị không còn ở với chúng tôi, dọn ra riêng, không ngờ mà thực là đúng lúc. Các cơ sở chăm sóc Trẻ Chậm phát triển bỗng nhận được quyết định chuyển từ ngành Y tế sang Giáo dục, xếp vào nhánh Trẻ khuyết tật, tức là gồm chung với Trẻ Điếc Câm, Khiếm Thị. Ở chỗ chúng tôi, phòng khám bệnh xã hội ở tầng trệt dọn đi. Hai căn nhà bốn tầng giờ hoàn toàn trở thành một ngôi trường, đã đầy học sinh. Một vị hiệu trưởng mới được bổ nhiệm về.
Con bé của chúng tôi đến tuổi vào nhà trẻ. Đã đến lúc tôi phải nghĩ đến chuyện đi làm. Khi đã lập gia đình, có con cái, mình mới thực sự trở thành một thành viên của xã hội, chịu sự chi phối của xã hội, gắn bó với 'nhịp thở' của xã hội ngay từ những chuyện nhỏ như bó rau lạng thịt, giá điện giá nước, tiền lương hàng tháng và học phí cho con... Đôi khi mình không còn được 'là mình' của những hoài bão ước mơ tuổi xuân nữa. 
Tôi quyết định bỏ mộng theo đuổi ngành tâm lý. Tôi học nghề sửa xe gắn máy. Sách vở dẹp qua một bên, bây giờ là cờ-lê mỏ-lết và tay chân áo quần đầy những dầu nhớt. Thỉnh thoảng tôi vẫn đến thăm anh chị, nhưng thường chỉ gặp anh ở chỗ làm, ngồi lai rai vài chai bia. Có lẽ anh cũng ngại, không muốn tôi đau lòng nhìn chỗ trọ chật hẹp nóng bức của anh chị. 
Thấy thương và phục anh. Anh phải gầy dựng lại từ số không ở đất Sài Gòn, chắt bóp từng đồng, tiết kiệm đủ thứ để dành dụm. Anh làm việc vất vả mà lúc nào cũng căng thẳng, canh cánh lo về bệnh tình của chị, không biết lên cơn lại lúc nào. Mái gia đình ấm cúng làm nơi an ủi, nghỉ ngơi, giải tỏa những nhọc nhằn sau ngày làm việc... có lẽ anh phải cắn răng chịu đựng, không có được những điều đó.    
Và cũng rất thương, rất phục chị. Sài Gòn vào mùa nắng thì nóng kinh hồn. Cái nóng bức, chỗ ở chật chội ồn ào là những điều rất bất lợi cho người bệnh tâm thần. Nghe anh kể, chị rất nỗ lực, kiên trì uống thuốc đều đặn. Anh tập cho chị đi chợ, nấu cơm, chăm con... chị nhất nhất tuân lời anh. Chị như đứa em gái hiền lành lớn lên ở nhà quê bình dị giờ bỡ ngỡ giữa Sài Gòn đông đúc phức tạp. Chị ấy thật là người vợ ngoan hiền. Sống chung một năm, chưa bao giờ tôi thấy chị cãi chồng, chưa bao giờ thấy chị to tiếng. Nói chuyện với chồng, luôn luôn chị một dạ hai thưa. 
Cứ thử duyệt lại mình bằng "con mắt chuyên môn", tôi tự hỏi vợ chồng chúng tôi còn thiếu sót gì không trong việc giúp chị hồi phục? Mà, bệnh tâm thần thì có thể chữa khỏi không, với tất cả những cố gắng của ngành y và ngành tâm lý? Liệu chị có thể được chữa khỏi hoàn toàn không?... 
Tôi đi đến kết luận rằng tâm lý tâm leo, tâm thần tâm thọt gì gì, thì cũng chẳng tới đâu nếu thiếu đi một điều vô cùng quan trọng: Tình thương! Tình thương yêu ấm áp và vô điều kiện! Người bệnh, và cả thân nhân người bệnh, cần điều đó hơn tất thảy. Chính điều đó là yếu tố quyết định giúp họ thêm nghị lực vượt qua số phận không may của mình. 
Anh ấy phải trở nên "không còn là mình" nữa để mà yêu thương một người vợ như thế. Anh ấy từng là một thanh niên đầy tự tin tự hào và ít nhiều tham vọng thành đạt. Tôi biết anh ấy có khiếu bẩm sinh về kinh doanh, quản trị, tổ chức. Anh ấy rất lanh lợi và hoàn toàn có thể trở thành "đại gia thời mở cửa", như một số bạn bè của anh ấy. Một cách nào đó, chính căn bệnh của chị đã kềm chân anh, kềm được khuynh hướng tranh đua và hiếu thắng của anh. 
Là đàn ông với nhau, tôi hiểu lắm, tương giao giữa mình với gia đình bên vợ không phải lúc nào cũng tốt đẹp. Anh cứng cỏi và nhiều tự ái. Không biết thời gian chị phát bệnh ở quê, hai bên gia đình có va chạm điều gì mà anh rất giận bên nhà vợ, rất tự ái, quyết không nhìn mặt nữa. 
Tôi chỉ mong anh ấy dịu xuống, làm lành, hòa giải với bên vợ. Mối liên hệ máu thịt với gia đình gốc của mình là điều vô cùng quan trọng trong đời sống tâm lý/tâm thần của bất cứ ai, huống hồ là với chị. Cắt chị ra khỏi mối liên hệ ấy là điều hoàn toàn không thể, và không nên, thậm chí là không phải đạo. Tôi không dám ép anh ấy nhưng có lẽ anh ấy hiểu ý tôi. Thật vui khi biết hai bên gia đình, dù ở quê xa xôi đi lại khó khăn, đã nối lại được liên lạc với anh chị. 
Hơn một năm ra riêng, anh chị chuyển nhiều chỗ thuê trọ theo đòi hỏi của việc làm. Một hôm, cũng vào dịp gần Tết, anh đến tìm tôi. Tôi lặng người nghe anh báo tin chị bị lên cơn trở lại và anh đã phải đưa chị vào lại Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Tôi nhìn anh phờ phạc và đau đớn. Anh không nói gì nhiều, chỉ ngồi bên ly cafe, rũ cả người xuống. Tôi chỉ mong anh không ngã gục. 
Theo đúng 'nguyên tắc' đã học từ trường phái Carl Rogers, tôi không hỏi han, không điều tra, không cật vấn gì hết. Anh, người thân gần gũi nhất của bệnh nhân, mới thực là người cần trợ lực về mặt tâm lý hơn bất cứ ai, để anh chịu đựng được gánh quá nặng này. 
Nhưng tâm lý tâm lọt gì nữa bây giờ? Tôi chỉ còn biết ôm lấy vai anh: "Vợ chồng tụi Hà sẽ luôn ở bên anh chị, đến cùng. Cố lên anh!"... Tôi xin số phòng và nói sẽ đến bệnh viện thăm chị ngay. Anh không thể bỏ bê việc làm được, vả lại còn phải chăm sóc con nhỏ. Tôi hứa sẽ đến thăm chị thường xuyên cho tới ngày chị được xuất viện.

XUẤT CHÚNG (9)
Chị đã phát bệnh trở lại như vậy, anh rất khó thuê chỗ trọ ở Sài Gòn vì chủ nhà nào cũng ngại. Để chị ở lại trong bệnh viện thì dứt khoát không được. "Nhà thương điên Biên Hòa" tôi chưa đến bao giờ nhưng Chợ Quán thì hai lần rồi, nhân dự các khóa bổ túc chuyên môn. Ôi, người thường mà ở đó một ngày dám cũng điên luôn. Giam chị trong đó, biết chừng nào chị mới lành? Xã hội mình ra như chưa bao dung nổi người bệnh tâm thần! Không có chỗ cho họ!?   
Không thể mời anh chị trở lại sống chung với chúng tôi được nữa vì Trường giờ đã đầy hoc sinh. Giải pháp tốt nhất lúc này là về quê, dù tôi biết điều đó anh ấy rất không muốn. Không nên đòi hỏi anh điều ngoài sức anh chịu đựng, nếu không muốn đến lượt chính anh cũng đổ sụm. Chỉ còn cách... 
Tôi bàn với vợ, hay là để tôi về quê với chị và cháu vậy. Tạm gác chuyện học nghề sửa xe, tôi quay qua học nghề làm ruộng làm vườn cũng xong, vài tháng hay cùng lắm một năm cũng được. 
Cái chính là TIN rằng chị sẽ hồi phục. Cái gì cũng bắt đầu bằng niềm tin. Nếu chúng tôi không dám tin thì làm sao thắp lên được niềm tin nơi người khác? Thuốc thang y tế đã có rồi. Tâm lý tâm lọt cũng rồi. Giờ tôi đóng vai một cán sự xã hội, đến tận nơi, sống cùng... 
Vợ tôi lúng túng không biết tính thế nào. Anh ấy nghe tôi bàn thế cũng không biết tính sao. Nhưng trước hết tôi phải đi Biên Hòa thăm chị xem tình trạng chị ra sao đã. Có lẽ còn phải hỏi ý kiến bác sĩ. 
Đây là lần đầu tiên tôi được vào khu bệnh nhân của một viện Tâm thần. Bệnh viện Biên Hòa nghe nói có từ thời Pháp, khuôn viên rất rộng, chỉ tiếc là ít cây xanh. Vì chưa tới giờ được thăm, tôi phải chờ ở văn phòng và nhờ thế được trò chuyện khá lâu với vị y sĩ. Anh ấy lớn tuổi hơn tôi chút, rất cởi mở. Anh ấy biết cách gợi chuyện, hỏi chuyện, và biết lắng nghe. 
Tôi vốn kính trọng những người làm việc trong ngành tâm thần, và đúng là anh ấy không làm tôi thất vọng. Tôi vì muốn bảo lãnh cho chị xuất viện nên cũng hăng hái đặt câu hỏi này nọ, nghĩ bụng mình tỏ ra quan tâm tìm hiểu thì các bác sĩ sẽ yên tâm hơn chăng. 
Tới giờ được thăm, anh ấy cố tình dắt tôi đi vòng quanh, giới thiệu. Dãy nhà này dành cho những bệnh nhân nặng, hàng rào lưới sắt cao bao quanh, cổng có khóa cẩn thận. Bên này dành cho nam, bên kia cho nữ, tất nhiên là khuất tầm nhìn, không thể thấy nhau. Dãy nhà kia là nơi các bác sĩ thăm khám, tôi thấy mấy cái bảng: phòng phát thuốc, phòng điện não đồ... và một phòng đặc biệt có cái tên hơi lạ, nhớ mang máng là "liệu pháp sốc điện". 
Khung cảnh bên trong của một bệnh viện tâm thần thật là ấn tượng. Tôi càng tin rằng không thể để chị ở đây lâu được. Đây chỉ là nơi cắt cơn. Tôi hỏi vị y sĩ. Anh ấy đồng ý. Anh nói sau khi đã khá hơn, người bệnh cần về nhà. Bầu khí gia đình thân thuộc là nơi tốt nhất để người bệnh hồi phục. 
Có lẽ tôi không nên kể nhiều về những gì tôi thấy bên trong bệnh viện. Sau này tôi nghe bệnh viện Biên Hòa được đầu tư sửa sang thêm nhiều lắm. Đã gần 30 năm qua rồi, chắc là rất nhiều thay đổi. Mai đây về thăm quê hương, không biết tôi còn có duyên trở lại thăm nơi đó không.