Thứ Tư, ngày 13 tháng 8 năm 2014

Tuấn Khanh's Blog - Phụ nữ Việt Nam tệ lắm không?




Trong không gian tâm tình ngập ngụa phong cách tabloid của báo chí Việt Nam, mới đây khi độc giả còn chưa kịp hết ngỡ ngàng về bài viết căn dặn đàn ông khôn ngoan đừng bao giờ lấy vợ Bắc, thì lại thấy bài viết khác xuất hiện, nói rằng đừng bao giờ lấy chọn gái Nam vì chuẩn “3N”, mà quan trọng là trong đó có chữ “ngu”.

Chẳng phải lần đầu tiên “tiêu chuẩn” của vùng miền được bày ra, tạo nên những cuộc tranh cãi trên báo chí Việt Nam, bao gồm cả những ngôn ngữ và ý kiến hạ thấp nhau, nhưng với đợt bài viết lần này, nó không những chỉ ra sự dốt nát và tồi tệ của người viết, tổng biên tập tờ báo… mà còn chỉ ra phần nội thương không bao giờ được chữa lành trong lòng dân tộc Việt, dù có cờ trống hô vang bao nhiêu đi nữa về việc thống nhất địa lý, nay đã gần 40 năm.

Gọi là nội thương, vì trong những câu chuyện tưởng chừng như là lời nhận định riêng tư, chia sẻ, thì nó lại ẩn giấu không biết bao nhiêu là điều nhầy nhụa của lòng kỳ thị, chán ghét lẫn nhau. Sự phân biệt Bắc Nam trước đây có thể chỉ là những nhận định mang tính dân gian, nhưng nhờ vào những bài viết như vậy, mới bật ra được một thực tế rằng sự kỳ thị đó vẫn nằm trong đầu của nhiều người, kể cả những người có quyền cho đăng hay không những bài viết như vậy. Một thực tế bật ra về chuyện dân tộc Việt có những lớp người như đang miễn cưỡng phải chung sống với nhau, dựa trên lý do có quá nhiều sự khác biệt, ghét bỏ nhau về văn hoá, chính trị, đời sống… trong suốt mấy mươi năm chia cắt vì chiến tranh, chia cắt về quan điểm, mà mãi chưa quen được vì sự chung đụng trong thời thống nhất và phát triển đầy bất cập.

Nhưng hãy tạm thời gác lại câu chuyện nội thương cho một bài viết khác, ở đây, chúng ta hãy nói về người phụ nữ Việt Nam trong chế độ xã hội chủ nghĩa.

Một anh bạn làm báo lâu năm ở Miền Nam, khi đọc bài viết này, đã tức giận gửi thư cho toà soạn phát hành bài viết này, rằng nếu không rút xuống và xin lỗi, anh sẽ gửi đơn kiện vì phỉ báng phụ nữ miền Nam. Cũng giống như trước đó, một bạn nữ người Hà Nội cũng làm trong nghề báo, khi đọc được những dòng mỉa mai phụ nữ Bắc, đã viết trên facebook “chắc phải bỏ nghề thôi, báo chí bây giờ thật thối nát kinh tởm”. Nhưng cần nhìn kỹ hơn, báo chí thối nát cũng chỉ là một phần. Thối nát đến từ âm mưu thoả hiệp cho xuất hiện những ý tưởng ngu xuẩn đó, cũng như thối nát nằm sẳn trong đầu của giới lãnh đạo truyền thông, mà chắc chắn là những người tự gọi là đàn ông.
Những người phụ nữ miền Bắc lặng lẽ đọc từng câu chỉ trích cay nghiệt về mình, và rồi tới những người phụ nữ miền Nam sửng sờ thấy mình bị xô về phía tệ hại nhất. Họ bị từng nhát dao của nền báo chí vinh quang xã hội chủ nghĩa lách vào từng đường gân, thớ thịt, cắt móc và trưng bày như những món hàng định giá để được chọn. Trong những bài sớ tâu lên vua chúa Trung Quốc ngày xưa, giới quan lại phục vụ cho sự hưởng thụ của triều đình vẫn phân loại phụ nữ ở Giang Nam, Tô Châu… với những đặc tính khác nhau cho dễ chọn lựa. Chỉ vài bài viết của nền báo chí xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại hôm nay, với cách phân loại phụ nữ cho nhu cầu của mình, Việt Nam hôm nay sao nghe không khác gì một triều đại phong kiến đang thối nát mục rữa, và phụ nữ bị xếp vào một đẳng cấp hèn mọn.

Chúng ta đừng bao giờ ngạc nhiên khi lâu nay, các đoạn video bắt được phụ nữ bán dâm, công an chỉ làm nhục và phô bày họ, còn giới mua dâm là đàn ông – thì luôn phải được dè dặt tính toán là có nên công khai tên họ hay không. Trở lại câu chuyện năm 2011, làm chấn động khắp nơi về ông hiệu trưởng trường THPT Việt Lâm Sầm Đức Xương ở Hà Giang, sau khi bị phát hiện là cưỡng dâm, mở đường dây bán dâm phục vụ cho quan chức từ học sinh nữ của trường mình quản lý, thì chỉ có các nữ sinh là luôn khốn đốn trong vòng vây chính quyền.

Phụ nữ Việt Nam tệ lắm không? Và từ lúc nào, họ trở nên bé mọn và dễ dàng bị chà đạp như vậy trong xã hội hiện tại, lại được ca ngợi là một xã hội đáng sống nhất? Những câu chuyện cũ được nhắc lại, chỉ để giới thiệu những điều sỉ nhục dễ dàng đến với phụ nữ Việt hôm nay, là một tiến trình, chứ không là vô tình. Nó xé rách những vỏ bọc màu mè và sáo rỗng về quyền con người và giá trị phụ nữ Việt trong cuộc sống này, vẫn được tuyên truyền vào từng đợt lễ lạc hay thậm tuyên như những trò hề.
Trong một chuyến bay từ Đài Loan về Việt Nam, tôi vô tình ngồi gần các cô gái miền Tây đi lấy chồng xứ người. Khi hỏi thăm về gia cảnh, tôi được biết một sự thật khác so với những gì báo chí hay nói. Hầu hết những người phụ nữ trẻ này chọn lấy người chồng ở rất xa vì muốn giúp điều gì đó cho gia đình, và tự mình muốn thoát khỏi cuộc sống không lối thoát ở thôn quê. Khi hỏi về vấn nạn bị chồng Đài Loan đánh đập, một cô gái đã cười hồn nhiên nói “Không phải ai cũng bị như vậy, báo chí nói quá. Nhưng nếu như có bị đánh ở Đài Loan, tụi em còn được báo chí xứ đó lên tiếng giùm, chứ ở Việt Nam, lấy một ông chồng say xỉn rồi bị đánh chết cũng không ai lo cho mình”. Dĩ nhiên đây là một trong nhiều cách để giải thích cho chuyện phụ nữ miền Tây Nam Bộ Việt Nam ồ ạt lấy chồng ngoại quốc sau 1975, kể từ thời Nhà nước xã hội chủ nghĩa nắm quyền, nhưng không thể ngu ngốc và hoang tưởng như một vị tiến sĩ xã hội học, đảng viên CSVN, từng nhận định rằng do ít ý thức về đức hạnh mà phụ nữ Nam Bộ thường hay lấy chồng ngoại.

Sau sự kiện các bài viết đầy tính kỳ thị, và xúc phạm người phụ nữ Việt vào giữa tháng 8/2014, nhiều nơi đã rút bài đăng lại xuống, do sự phản ứng của độc giả. Nhưng đó không là một tín hiệu hoàn toàn tốt. Cội rễ của sự thối nát truyền thông vẫn đâu đó, lùi bước chỉ là một cách đối phó. Rồi đây chúng ta sẽ lại bắt gặp những đề tài như vậy nay mai. Xin đừng tức giận mà hãy đếm, vì đó là những tiếng chuông cuối cùng, báo hiệu sự cáo chung của nền báo chí lá cải xã hội chủ nghĩa, vốn được dung dưỡng bấy lâu nay.

Thứ Tư, ngày 06 tháng 8 năm 2014

Huỳnh Ngọc Chênh - VINH DANH HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ

Vào cuối thập kỉ 80 của thế kỉ trước, đảng Cộng sản Việt nam và nước CHXHCN Việt Nam như nghìn cân treo trên đầu sợi tóc. Nhà nước cộng sản được cho là thành trì Liên Xô và các nhà nước cộng sản Đông Âu hoàn toàn tan rã và sụp đổ. Đảng CSVN và nhà nước VN không những bị cô lập với thế giới mà còn phải đối đầu trực diện với một kẻ thù cực kỳ nguy hiểm và hùng mạnh ngay sát biên giới đang liên tục gây hấn trên đất liền cũng như trên biển để lăm le thôn tính VN.
Ảnh những người tham dự hội nghị Thành Đô được phía nhà cầm quyền Bắc Kinh công bố
Trong tình thế cực kỳ nguy hiểm như vậy, những người lãnh đạo tối cao của đảng CSVN đã tìm ra con đường cứu nguy để kéo dài sự tồn tại của đảng và nhà nước XHCN. Đó là bí mật tiếp xúc với chính kẻ thù và thành công đi đến một hội nghị lịch sử vô tiền khoáng hậu: Hội Nghị Thành Đô năm 1990.
Theo tài liệu từ cựu đại sứ Trung cộng tại VN thời đó, ông Lê Đức Anh là người có công thiết kế các cuộc tiếp xúc bí mật, và theo tài liệu công khai từ phía Bắc Kinh, đoàn lãnh đạo cấp cao VN tham dự và đưa đến sự thành công của hội nghị gồm có các ông Nguyễn Văn Linh- tổng bí thư, Đổ Mười- Thủ Tướng, Phạm Văn Đồng- cố vấn BCT.

Cho rằng Hội nghị Thành Đô là một bước ngoặc lịch sử vĩ đại mở ra đường thoát và duy trì sự tồn tại của đảng CSVN và nhà nước CHXHCN Việt Nam cho đến tận bây giờ.
Cho rằng HN Thành Đô đã biến kẻ thù nguy hiểm không đội trời chung là Trung cộng thành đồng minh hợp tác toàn diện mang lại lợi ích cho cả hai nước.
Cho rằng HN Thành Đô giúp bảo vệ được chủ quyền và lãnh thổ VN đồng thời giữ vững được hòa bình và ổn định trong khu vực.
Cho rằng HN Thành Đô giúp đảng và nhà nước VN chống lại âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực dân chủ "thù địch" trong và ngoài nước đang gây ra sự bất an cho đảng và nhà nước.

Thế thì:
-Tại sao từ 24 năm qua, đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN không hề công khai nhắc đến hội nghị Thành Đô? Đến ngay thời điểm nầy đảng viên CS và nhân dân VN chỉ biết về sự tồn tại của hội nghị qua công bố từ phía nhà cầm quyền Bắc Kinh.
-Tại sao không vinh danh hội nghị nầy trước toàn đảng, toàn dân và ghi danh hội nghị vào các văn kiện lịch sử?
-Tại sao không tuyên dương công trạng và ghi danh vào lịch sử những người có công lớn đưa đến sự thành công của hội nghị là các ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng? Nhất là sau khi các ông Nguyễn Văn Linh và Phạm Văn Đồng chết đi, trong tiểu sử và điếu văn đọc trước mộ của hai ông không hề nhắc một lời đến công trạng to lớn nầy?
-Tại sao, đã qua 24 năm kể từ ngày ký kết, nội dung hội nghị và những gì ký kết trong hội nghị giữa hai đảng và hai nhà nước không được công khai minh bạch ra cho toàn đảng và tòan dân được biết? Có gì khuất tất mờ ám phải che giấu?

Với tư cách một công dân, tôi cho rằng hội nghị Thành Đô là một trong những hội nghị lịch sử quyết định đến vận mệnh của đất nước và toàn thể dân tộc Việt Nam, trong đó có cá nhân tôi. Do vậy tôi yêu cầu đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN phải công khai mọi nội dung về hội nghị Thành đô, nếu đảng CSVN và nhà nước vẫn còn tự nhận mình là đảng từ nhân dân mà ra và là nhà nước của dân, do dân, vì dân.
                                                                     7.8.2014
                                                          Công dân Huỳnh Ngọc Chênh

Nguyễn An Dân/ Blog Trí Nhân Media - Luật sư Nguyễn Đăng Trừng và TPP

Nguyễn An Dân/ Blog Trí Nhân Media

Mấy ngày nay dư luận và nhất là giới luật sư xôn xao về việc Luật Sư (sau đây viết tắt là LS) Nguyễn Đăng Trừng, chủ nhiệm đoàn luật sư TpHCM, đã bị khai trừ khỏi đảng. Lý do theo như quyết định công bố là “xem nhẹ vai trò của đảng đoàn trong hoạt động của đoàn LS TpHCM, có biểu hiện tha hóa về lý tưởng chính trị, đạo đức và lối sống”

Từ chuyện Ls Nguyễn Đăng Trừng

Việc LS Trừng bị Đảng Cộng Sản VN khai trừ hôm nay chính là kết cục tất yếu của một quá trình lâu dài mà bắt nguồn là việc hình thành và ra đời của Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam, được trù bị từ năm 2006 và chính thức thành lập năm 2009. Khi đó, tiếng nói khách quan của LS Nguyễn Đăng Trừng khi phản đối sự áp đặt của đảng vào hội nghề nghiệp của các LS trên toàn quốc rất mạnh mẽ đã làm “phật lòng trung ương đảng”

Vào 3 năm trước khi Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam thành lập, năm 2006, giới LS đã xôn xao khi “biết trước” một ông cựu chánh án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, ông Lê Thúc Anh, sẽ làm chủ tịch liên đoàn, dù ông này chưa hề có 1 ngày hành nghề luật sư.

Với bề dày kinh nghiệm là một LS “tiền bối” thuộc thế hệ trước 1975, LS Nguyễn Đăng Trừng quá hiểu một ông chủ tịch liên đoàn “không có kinh nghiệm luật sư” sẽ chẳng thể làm được gì có ích cho liên đoàn lẫn đóng góp gì vào sự tiến bộ của tư pháp Việt Nam hiện đã và đang phải hội nhập quốc tế, nên đã cực lực phản đối và “bất hợp tác”. Đỉnh điểm của việc này là bác bỏ đơn gia nhập vào đoàn LS TpHCM của ông Lê Thúc Anh vì ông này “chưa trải qua học và hành nghề luật”, một quyết định đúng theo Luật Luật Sư.

Việc phản ứng hợp tình hợp lý của LS Trừng đã phá vỡ “truyền thống” của trung ương đảng. Đó là truyền thống bổ nhiệm các quan chức về hưu hay “không biết sắp xếp ghế nào cho ngồi” vào nắm ban chủ tịch các hội đoàn “cánh tay nối dài của đảng” để làm tai mắt cho đảng. Hội Nông Dân, Hội Phụ Nữ, Tổng Liên Đoàn Lao Động, Hội Liên Hiệp Thanh Niên…đều có thành phần chủ tịch đoàn là các quan chức đảng viên này kia ở trung ương chuyển ngành qua làm lãnh đạo chứ không phải xuất thân từ nghề nghiệp.

Đang ở vị trí thay mặt vài ngàn luật sư ở TpHCM, LS Trừng quá hiểu nếu các hội đoàn nghề nghiệp dưới sự dẫn dắt của lãnh đạo do đảng chỉ định sẽ chẳng mang lại hay làm được gì cho quyền lợi các hội viên và sự lớn mạnh của hiệp hội. Chuyện nông dân Việt Nam ngày càng bần cùng hóa, phụ nữ Việt Nam phải xuất ngoại lấy chồng và bán dâm vì nghèo khó ngày càng nhiều và lan rộng ra nhiều tầng lớp. Rồi công nhân, thanh niên phạm pháp vì sinh kế càng ngày càng gia tăng dù có các hội tương ứng như trên…chính là một bằng chứng ai cũng thấy rõ. LS Trừng vì quan ngại cho tương lai các luật sư hội viên nên vì quyền lợi tập thể mà đứng ra chỉ trích và phản ứng với sự áp đặt của đảng vào nhân sự của liên đoàn chứ không phải vì ông là người “chuyên quyền, độc đoán” nhưng quy kết trong văn bản kỷ luật. 

Trong quyết định kỷ luật cũng nói rõ là “LS Trừng đã nhiều lần chống lại, ngăn trở, phản ứng lại các quyết định của đảng đoàn LS và Ủy Ban Nhân Dân TpHCM”. Rõ ràng đây là biểu hiện của sự can thiệp của đảng và chính quyền vào hoạt động của Đoàn LS. Đoàn LS là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, không phải 1 ban của đảng, hay 1 cơ quan hành chính cấp dưới của chính quyền TpHCM. Đoàn LS TpHCM ra đời theo nhu cầu của các luật sư thành viên, sao lại có việc đảng đoàn và Ủy Ban Nhân Dân TpHCM “chỉ đạo” ông chủ nhiệm phải làm thế này thế nọ nếu các việc đó không phải từ nhu cầu tập thể của các hội viên??? Nếu Ông Trừng làm sai luật thì xử lý theo luật, không sai luật thì đó là việc của đoàn LS TpHCM, các luật sư thành viên không phản ứng, mắc gì đến đảng mà đảng dùng nó làm lý do kỷ luật đảng viên ???.

Luật sư là một giới trí thức hơn ai hết có nhu cầu tìm hiểu và tôn trọng sự thật. Thêm nữa, cái khác biệt của hội nghề nghiệp luật sư so với các hội nghề nghiệp khác là yếu tố thượng tôn pháp lý và đạo lý. Nếu ông Trừng phạm vào việc “tha hóa về đạo đức, lối sống” thì tôi tin là các luật sư khác trong đoàn sẽ tự động bài xích ông Trừng trước khi đảng lên tiếng vì các LS là người có kiến thức, có óc quan sát và nhận định sắc sảo (yêu cầu nghề nghiệp phải có). Đằng này sau khi trao đổi với nhiều luật sư có uy tín và thâm niên trong đoàn luật sư, đều thấy sự buồn đau, chua xót và “tức tối” thay cho LS Trừng, như vậy sự thật có nằm ở kết luận của văn bản kỷ luật của đảng về tư cách cá nhân của LS Trừng không ???

Điều đáng lo ngại cho chính các luật sư ở đây là sau việc LS Trừng công khai phản đối việc áp đặt sai nguyên tắc pháp luật của đảng vào hoạt động của của đoàn LS rồi bị đảng khai trừ nhằm hất ông ra khỏi ghế chủ nhiệm, sắp tới sẽ còn có LS nào “dám” hành động như ông Trừng để tự mình bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và các đồng nghiệp ??? Có bao nhiêu luật sư đã từng lắng nghe và thấy chua xót vì các nhận định của quần chúng “nói cho cùng, luật sư ở Việt Nam chỉ là vật trang sức cho tòa mà thôi”, “ mấy ông ấy làm cò chạy án là chính chứ cãi cọ gì, án do đảng quyết chứ có phải căn cứ vào luật đâu”, “tòa xử sao chả được, kiến cãi khoai thôi”.

Một người phụ nữ ở nông thôn Việt Nam phải làm mãi dâm vì sinh kế, chịu đủ tủi nhục và hiểm họa dù bản thân người đó là đối tượng quan tâm và là thành viên của Hội Nông Dân ( vì là gia đình nông dân) , của Hội Phụ Nữ ( vì là phụ nữ), của Hội Liên Hiệp Thanh Niên ( vì là thanh niên) cho thấy điều gì khi đảng đóng vai trò cầm nắm các hội đoàn này ???. Là trí thức, dĩ nhiên các luật sư không cần bán thân như thế, nhưng đã có và sẽ trong tương lai, liệu rằng các luật sư vì hoạt động trong 1 nền tư pháp mà đảng quyền cao hơn pháp quyền, sẽ bán lương tâm đạo đức nghề nghiệp, “bán” luật pháp và pháp lý để tồn tại và đi lên không ?? Hay là lựa chọn lối đi như LS Nguyễn Đăng Trừng đã chọn, đó là bỏ qua danh vọng và quyền chức do đảng ban tặng, để tranh đấu cho việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình nhằm phát triển nghề nghiệp, đóng góp vào sự hoàn thiện của pháp luật Việt Nam

Nghĩ đến chuyện Việt Nam gia nhập TPP

LS Nguyễn Đăng Trừng là thành viên-hội viên của nhiều tổ chức LS danh tiếng ở Asean, Châu Á và quốc tế, việc đảng khai trừ ông ta sẽ gây một tiếng vang không mấy tốt đẹp cho thanh danh của đảng trong đối ngoại và trong chính sách “trí thức vận” là điều sẽ phải xảy đến. Và hơn nữa còn là nhiều hệ lụy kéo theo không chỉ đảng thiệt hại mà dân tộc và đất nước cũng phải gánh chịu, nhất là trong thời điểm Việt Nam đang “rất muốn và phải là thành viên của TPP”

Trong các tiêu chí mà các nước thành viên TPP xét kết nạp thành viên mới như Việt Nam, yếu tố tự do- tự quyết của các hội đoàn nghề nghiệp là yếu tố bắt buộc phải có theo 8 công ước của liên đoàn lao động quốc tế quy định (cụ thể là công ước 87 về quyền lập hội). Việc LS Trừng chủ động ngăn chặn và phản ứng việc can thiệp sâu của đảng vào liên đoàn luật sư đúng theo pháp luật là điều cần thiết phải được chính phủ và ngành tư pháp Việt Nam ủng hộ để dùng điều này chứng minh cho các nước thành viên TPP khác như Mỹ thấy rằng tại Việt Nam, đảng và nhà nước luôn tôn trọng và quyết tâm thực thi cải cách để họ nhanh chóng thông qua cho Việt Nam gia nhập khối

Trong tư thế kinh tế Việt Nam đã phụ thuộc sâu vào Trung Quốc, một kẻ thù xâm lược cả dân tộc đều công nhận thì việc gia nhập sân chơi TPP sẽ là 1 ưu thế quan trọng trong việc “thoát Trung” về kinh tế để mang lại sự phát triển bền vững hơn về sau. Nếu cứ để xảy ra các việc như đảng khai trừ những đảng viên có xu hướng cải cách như LS Trừng sẽ dẫn đến làm chậm (hoặc có thể hủy bỏ) lại TPP lần này thì rất tai hại. Thiệt hại của nó là vô cùng lớn trong bối cảnh nền kinh tế đang bí lối ra như lúc này. Thành ra chuyện LS Trừng bị khai trừ đảng không còn là chuyện của riêng hai bên này nữa, mà nó sẽ là hệ lụy kéo dài về sau cho sự hội nhập quốc tế của Việt Nam., nếu các lãnh đạo nhà nước không quyết tâm bảo vệ những “hạt nhân” như LS Nguyễn Đăng Trừng. Và sau cùng, ai sẽ chịu trách nhiệm về “bước lùi” này của đất nước trong lúc “ngặt nghèo” này ???

Vừa mới đây ngày 29/07/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có nói các luật sư và các hội đoàn luật sư cần phải “tự chủ và đổi mới mạnh mẽ hơn nữa” thì ngay sau đó LS Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ đảng vì “phát huy tự chủ và đổi mới mạnh mẽ”. Tôi nghĩ ông Trương Tấn Sang cần đề nghị đảng xét lại việc này nếu ông thực sự coi trọng giới luật sư như ông phát biểu khi thăm liên đoàn LS vào ngày 01/08/2014. Song song đó, nên chăng các luật sư thuộc đoàn LS TpHCM, những người mà 20 năm qua luôn bỏ phiếu ủng hộ LS Nguyễn Đăng Trừng làm chủ nhiệm, cùng kiến nghị Chủ Tịch Nước, người đứng đầu tư pháp, xem xét lại quyết định này.

Đa số dư luận đều nghĩ rằng việc khai trừ LS Nguyễn Đăng Trừng là do thành ủy TpHCM quyết định nhưng tôi e rằng không phải. Mâu thuẫn của LS Trừng và trung ương đảng đã có từ năm 2007 đến nay kéo dài qua nhiều sự việc. Đến nay ông mới bị kỷ luật cho thấy trong thời gian mấy năm qua một bộ phận của Thành Ủy có ủng hộ ông nhưng hôm nay họ phải chấp hành chỉ đạo của Trung Ương thì đúng hơn. Việc các đại biểu quốc hội TpHCM lúc gần đây phát ngôn đều kêu gọi cải cách thể chế mạnh mẽ cho thấy xu hướng đó (cao trào là việc ông nghị viên “bảo hoàng hơn vua” Hoàng Hữu Phước ủng hộ làm ngay Luật Biểu Tình và Luật Lập Hội vừa qua là 1 ví dụ rõ nét).

Theo tình hình phía Mỹ cho thấy, hiện nay đã có nhiều hạ nghị sĩ và một số thượng nghị sĩ đang chú ý và phản đối tình trạng đảng cộng sản đang cầm quyền luôn có những can thiệp quá sâu vào các hội đoàn nghề nghiệp tại Việt Nam. Nên chăng chính phủ cần xem xét lại việc LS Trừng bị kỷ luật, vì rõ ràng điều này cũng sẽ ảnh hưởng vào nhận xét của chính giới Mỹ trong việc kết nạp Việt Nam vào TPP, cũng như để các trí thức khác (như GS Ngô Bảo Châu) đang và sẽ yên tâm khi cộng tác cùng chính phủ để cống hiến tài năng cho đất nước và dân tộc.

Trong tương lai với đà nâng cao dân trí cùng việc hội nhập quốc tế, việc xây dựng một nền dân chủ pháp trị là điều tiên quyết phải có để đất nước và dân tộc lớn mạnh. Trong đó, vai trò của các luật sư là không nhỏ, việc cùng bảo vệ nhau để bảo vệ tính minh bạch, thượng tôn pháp luật của cộng đồng luật sư là điều mà quần chúng mong mỏi trước khi quần chúng “nhờ cậy” luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Tôi hi vọng rằng dù Luật Sư Trừng đã bị đảng khai trừ nhưng cộng đồng các luật sư có tâm, có tầm và có lương tri nghề nghiệp sẽ tiếp tục con đường của ông đã đi trong việc góp phần cải cách chính trị ở Việt Nam.

Thanh Hùng / Infonet - 12/13 quán quân Olympia không về nước: Những nguyên nhân chua xót

Thanh Hùng (thực hiện)/ Infonet

Chỉ những người đã học ở nước ngoài mới dám nói: Ở nước ngoài họ được sống thực với mình, dám nói điều mình nghĩ. Trong khi về nước, lại phải giấu giếm ý nghĩ của mình, hoặc phải lựa chiều nói dối, không thực lòng. Đâm ra họ sợ.

Để giải đáp thắc mắc độc giả về việc trong số 13 quán quân Olympia hiện chỉ có duy nhất 1 người lựa chọn quay trở về Việt Nam, PV Infonet đã có cuộc trao đổi với nhà báo Nguyễn Như Mai về vấn đề này.

Là cố vấn lâu năm của chương trình "Đường lên đỉnh Olympia", ông có thể cho biết quan điểm của mình trước thực trạng là có đến 12/13 quán quân Olympia ở các năm quyết định làm việc hoặc mong muốn ở lại làm việc tại nước ngoài sau thời gian du học?

Sau kì chung kết "Đường lên đỉnh Olympia" lần thứ 14, có những nguồn thông tin cho biết 12/ 13 nhà vô địch đã quyết định ở lại. Số liệu ấy không rõ có chính xác hay không chưa kiểm định, vì ít nhất phải học xong đại học mới có thể có điều kiện xin ở lại định cư tại Úc hay không. 

Nhưng theo tôi, thực ra không chỉ những “nhà leo núi Olympia” mới như vậy, nhiều bạn khác có tài năng sau khi đi du học cũng thế thôi. Tôi là cố vấn "môn" Hiểu biết chung của chương trình này trong suốt 14 năm. Cũng có dịp gặp gỡ, quen biết nhiều người được cử đi học thạc sĩ, tiến sĩ nên cũng rất quan tâm đến vấn đề này. Và tôi biết chắc một điều rằng hầu hết họ đều muốn ở lại nếu thực hiện được.

Được biết, tính đến thời điểm hiện tại, chỉ có bạn Lương Phương Thảo-quán quân mùa thứ 3, là nhà vô địch duy nhất của chương trình đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Vậy số còn lại, họ có chia sẻ với ông nguyên nhân vì sao sau thời gian du học, đều muốn ở lại nước ngoài, cụ thể ở đây là Úc?

Theo họ, có mấy lý do sau: Ở Úc hay bất cứ nước tiên tiến nào (như Canada, Thụy Điển, Na Uy hay Mỹ) đều có một cuộc sống ổn định, đầy đủ hơn. Đấy là điều mong ước của tất cả mọi người lao động. Không nói những người có học thức mà thậm chí những người đi làm công, có tay nghề cũng đều xin ở lại nếu đủ tiêu chuẩn. 

Nhưng đối với những người có tri thức, được đào tạo bài bản ở nước ngoài, thì họ  muốn ở lại không chỉ vì đời sống vật chất. Họ còn có một thực tế phải đối măt khi về nước, đó là phải chạy chọt xin việc, phải va đập vào những thủ tục phức tạp, phải lo lót "đầu tiên"- tiền đâu. Mà nhiều khi vẫn thất nghiệp. 

Xin được việc làm rồi, họ lại không thể phát huy được sở học. Bởi làm giảng dạy, làm khoa học thì thiếu thiết bị, thiếu môi trường khoa học, lại bị chèn ép, kèn cựa, “cá mè một lứa”... 

Làm trong cơ quan thì bị các thủ trưởng thiếu tri thức sử dụng vào những việc chẳng cần đến những điều đã học. Rồi sống mòn với nếp sống sáng cắp cặp đi, tối cắp về... Họ e ngại tất cả những mơ ước, hoài bão đều dần bị thui chột.

Đấy là chưa kể về nước, lương lậu có thể không tương xứng với cống hiến, thậm chí không nuôi được mình và gia đình....

Ngoài ra, họ còn chịu những áp lực nào khác về tư tưởng nữa không, thưa ông? 

Thêm một điều nữa, chỉ những người đã học ở nước ngoài mới dám nói: Ở nước ngoài họ được sống thực với mình, dám nói điều mình nghĩ. Trong khi về nước, lại phải giấu giếm ý nghĩ của mình, hoặc phải lựa chiều nói dối, không thực lòng. Đâm ra họ sợ.

Vậy thử hỏi, nếu bạn là người như họ, là người trong cuộc, thì bạn quyết định như thế nào? Xin đừng nên trách họ là được hưởng ưu ái nọ kia mà không yêu nước, là chỉ muốn hưởng thụ... 

Xin nói là, họ biết rất rõ, muốn sống ở nước ngoài cũng không dễ đâu, phải lao động thực sự, phải có tài, chứ không thể dựa vào chạy chọt, dựa dẫm được đâu. Chỉ trừ những con nhà đại gia, con quan tham có tiền để ra nước ngoài sống cuộc sống hưởng thụ do tiền của dư thừa mà thôi.

Có thể kể đến một số gương mặt như: Phan Mạnh Tân- quán quân năm thứ 3 hiện đã đi làm ở công ty IBM, Melbourne, Australia. Hay Huỳnh Anh Vũ-quán quân năm thứ 8 là một trong hai sinh viên hiếm hoi được giữ lại trường trở thành giảng viên ngành kinh tế tại ĐH Swinburne,… Vậy theo ông, thực trạng này có phải đang báo hiệu việc"chảy máu chất xám" của nước ta hiện nay và thời gian tới?

Nói là "chảy máu chất xám" thì to tát quá, nhưng đó thực sự là một xu thế. Các nhà leo núi Olympia là những học sinh giỏi, nhưng cũng chưa phải là những tài năng ghê gớm. Tuy nhiên họ có tiềm năng trở thành người tài. Nước Úc không vô cớ mà cấp học bổng, ưu ái cho họ đến học đâu. Họ sẽ hưởng lợi, hớt tay trên của ta khi những học sinh, sinh viên đó ở lại làm việc cho họ.

Tìm thông tin trên mạng, ta thấy rất nhiều người Việt đã thành danh ở nước ngoài trong rất nhiều lĩnh vực từ khoa học, công nghệ đến kinh doanh. Chứng tỏ nguồn gen của Việt Nam khá chất lượng, rất đáng tự hào đấy chứ.

Mà trên quy mô toàn cầu thì chuyện chảy máu chất xám cũng không có gì lạ. Như nước Mỹ chiếm hầu hết giải Nobel, nhưng trong số đó rất nhiều người vốn từ các nước khác đến nhập cư.

Với tình trạng trì trệ của đất nước ta như hiện nay, chuyện còn có rất nhiều người được cử đi học hay tự đi du học sẽ ở lại nước ngoài là điều khó mà cưỡng lại.

Nếu như thế, thì một số ý kiến cho rằng họ thiếu trách nhiệm với đất nước, liệu có hơi quá với họ, thưa ông?

Rõ ràng không thể trách cứ các bạn thủ khoa Olympia hay những sinh viên ra nước ngoài học mà không trở về. Đừng áp đặt cho là họ không yêu nước, không thực hiện trách nhiệm với đất nước.

Chưa nói đến các bạn đi du học, ngay cả các học sinh sinh viên tỉnh lẻ, hay miền núi sau khi tốt nghiệp tại sao lại không về "phục vụ quê hương" mà tìm mọi các trụ lại ở "đất thánh" thủ đô hay TP Hồ Chí Minh? Trong khi đó, phải vận động trí thức lên xây dựng miền núi, vùng sâu vùng xa.

Vấn đề là chúng ta phải tự hỏi tại sao lại để xảy ra cớ sự như vậy. Bấy lâu nay nước ta cứ đưa ra những chủ trương chính sách như thu hút nhân tài. Thậm chí còn dùng những câu to tát như "trải thảm đỏ" đón nhân tài, nhưng thực ra đó mới chỉ là những khẩu hiệu, chứ chưa có tính thực tế.

Bây giờ không thể chỉ dùng những lời kêu gọi chung chung như thế mà có thể giữ chân người tài được. Còn làm như thế nào, đó là trách nhiệm của những nhà lãnh đạo, nhà quản lý đất nước phải có tầm nhìn cao hơn.

Xin cảm ơn ông rất nhiều!

Thứ Hai, ngày 04 tháng 8 năm 2014

Loan Nguyên - LÊ VĂN TÁM - " I NỚP U"

Loan Nguyên
Anh yêu thương! Tính đến ngày em hết là "con lừa" thì em đã yêu anh ngót nghét được 20 năm có lẽ..., em bắt đầu yêu anh kể từ ngày em nhập học lớp 1, em bị nhét vào ngôi trường mang tên Lê Văn Tám, và thế là cái tên anh lúc nào cũng nằm chình ình ngay trên ngực áo em, phập phồng theo nhịp thở của trái tim em, sáng nào tung tăng đến trường em cũng hát vang toáng cả con đường như con điên bài hát về anh mà em đã bị bắt học thuộc, và điều đặc biệt là em đã được vinh dự chọn đi thi kể chuyện về "Lê Văn Tám - người anh hùng tí hon giả tưởng của chế độ"...em đã rinh 1 cái giải cộng với phần thưởng lớn lao bao gồm 1 tấm giấy khen, 1 bịch kẹo và 1 cuốn sổ. Ôi chao ơi cái đám bạn em "lồng lộn" lên vì ghen tức với em, cả lũ chúng nó cũng đều rất yêu anh nhưng chưa có đứa nào được vinh dự học thuộc lòng và kể vanh vách chiến công của anh trước "Trại súc vật" toàn tai to mặt lớn...trong cái đại hội gì đó em quên mẹ nó rồi. Em đành an ủi chúng nó bằng cách chia kẹo và cả lũ giơ tay "thề quyết tâm" sẽ noi gương anh là bọn lừa chúng em sẽ sẵng sàng là "ngọn đuốc sống" thiêu cháy tất cả những gì Đảng và NN cho là "phản động"...
Anh yêu! Em những tưởng tình yêu em dành cho anh sẽ theo em mãi mãi đến suốt đời suốt kiếp nhưng không ngờ tình chúng ta ngang trái quá. Em đã đau đớn vật vã, khóc lóc suýt đâm đầu vào xe bus tự tử mấy lần khi cái thằng "in tẹt nét" nó dám bảo là anh không có thật, anh là do một bọn chính trị khốn nạn vẽ vời xây dựng lên. Nó và một số người có tên tuổi như GS Phan Huy Lê khẳng định cái hình tượng chúng em yêu dấu là hình ảnh giả tưởng "láo toét, bịa đặt" do ông Trần Huy Liệu bị ép viết theo yêu cầu của chế độ. Em đau đớn đến bầm tím ruột gan, sao lại có sự thật phũ phàng đến thế? Sao tình yêu quê hương, đất nước, yêu anh hùng của em và các thế hệ chung "chuồng lừa" lại có thể bị "chà đạp" đến như vậy? Tụi em đã được "nhồi sọ" là phải yêu anh đến chết bỏ thì làm sao mà chúng em không đau đớn, vật vã cho được khi phát hiện ra Honey của em chỉ là sản phẩm của một sự tuyên truyền, dối trá, lừa lọc...
Anh yêu thương! Dù sao em cũng đã lỡ yêu anh, vì yêu anh nên em phải nói cho cái bọn khốn nạn tạo dựng nên anh biết rằng: dù anh là ai? Anh là thật hay là giả thì tụi nó cũng là lũ vô lương tâm và bỉ ổi khi dùng thủ đoạn chính trị, dùng hình tượng "trẻ em" để tuyên truyền kích động trẻ em "tự sát". Bọn chúng chẳng khác gì các bọn khủng bố trên Thế Giới bắt trẻ em ôm bom tự sát, lợi dụng trẻ em cho những mưu đồ chính trị... Nói trắng ra tụi nó còn tàn độc và thâm hiểm hơn nhiều vì chúng dùng quyền của chúng ngụy tạo lịch sử, bơm đầy gian dối vào sách giáo khoa, chúng nhồi sọ, đóng gói biết bao điều tàn tệ, man trá, phi lí vào đầu hàng triệu hàng triệu đứa trẻ, từ thế hệ này sang thế hệ khác... để rồi lớp trẻ VN sau 1975 không khác gì những con cừu ngây ngô bảo sao nghe vậy, cho gì ăn nấy, chỉ biết ấm ức cúi đầu thinh lặng, vô cảm vô tình với quyền lợi dân tộc, quyền lợi đất nước...Chúng đã sử dụng thuốc độc tiêm vacxin cho tụi em từ lúc mới học mẫu giáo cho đến lớp Đại học, chúng em đã miễn nhiễm với các từ "tự do, dân chủ, hạnh phúc", chúng em chỉ biết có mỗi "độc lập" và hả hê với vinh quang "chiến thắng quân thù" của đất nước VN. Chúng tạo dựng dây chuyền sản xuất và thải ra hàng loạt các thế hệ có mắt, có tai, có tim, có óc... cũng như mù, câm, điếc vì mắt chỉ thấy có mỗi Đảng CSVN quang vinh, tai chỉ nghe những được những thông tin gian dối 1 chiều bị bóp méo, óc chỉ luẩn quẩn nghĩ đến cơm ngày 3 bữa, tim luôn phập phồng nơm nớp lo sợ, hèn kém chưa bao giờ dám lên tiếng đòi hỏi quyền lợi chung và đấu tranh vì chính nghĩa...Ôi, chúng đã thành công và hả hê trước "sự im lặng của bầy cừu"...!
Lê Văn Tám, anh là minh chứng hùng hồn nhất cho sự man trá của chế độ này. Nếu anh có "linh thiêng ", hãy châm ngọn lửa dũng cảm vào các thế hệ trẻ, hãy giúp họ nhận ra đâu là sự thật, hãy giúp họ cởi bỏ lốt cừu, lên tiếng và hành động để xứng đáng là thế hệ tiên phong trong công cuộc "giải phóng" đất nước.
Your Love!

Loan Nguyên

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 8 năm 2014

Nguyễn Trần Sâm - Bắc Kỳ và Nam Kỳ


Nhân đọc Di Chúc Bắc Kỳ Tự Do của Tuấn Khanh (http://quangdonquixote.blogspot.com/2014/07/nhac-si-tuan-khanh-di-chuc-bac-ky-tu-do.html)

Cách đây vài hôm, khi đọc trên Quê Choa bài “Di chúc Bắc Kỳ tự do” của nhạc sỹ Tuấn Khanh, tôi đã xúc động đến trào nước mắt. Xúc động vì tình đồng tộc, nghĩa đồng bào sâu nặng như tình ruột thịt trào ra qua những dòng gan ruột của anh.

Với riêng tôi, một người “Bắc Kỳ” theo nghĩa rộng, tức là người miền Bắc, sự xúc động còn có một lý do khác mà tôi sẽ nói sau.

Trong phần đầu của bài viết, Tuấn Khanh nói sơ qua cảm nhận về người “Bắc Kỳ” khi anh còn nhỏ. Một thứ cảm nhận hình thành vừa do những gì được thấy, vừa bị ảnh hưởng bởi cả trào lưu và định kiến. Anh viết:

Bắc Kỳ” trong ký ức từng là một tâm cảm bị ám thị, thiếu thiện cảm hơn cả khi so sánh với “Ba Tàu”. 

Và ở đoạn sau:

Phải mất đến hơn nửa đời người, tôi mới nhận ra rằng không hề có một giai cấp nào trong đồng bào miền Bắc của đất nước mình, mà chỉ có một cuộc sống không được chọn lựa nào đó đã phủ chụp lên từng miền, từng vùng đã ảnh hưởng cùng cực đến họ, tạo ra những điều khó tả (tôi gạch dưới – NTS) như vậy.”

“Những điều khó tả” mà Tuấn Khanh nói ở đây, nói thẳng ra, đó là những tính xấu của dân Bắc. Đành rằng ở đâu cũng có người tốt và người xấu – thậm chí nếu có “cõi trời” thì có lẽ trên đó cũng vậy thôi – nhưng tôi, xin nhắc lại, một người dân Bắc, vẫn phải thừa nhận rằng trong cuộc sống dân Bắc có nhiều cái xấu hơn, trong đó có những cái xấu đặc trưng, hình thành do sống nhiều năm trong một “bầu không khí” luôn khuyến khích những cái nhỏ nhen, bon chen, giả dối.

Rất may là những người như Tuấn Khanh vẫn nhận ra rằng những cái xấu đó không phải nằm trong bản chất con người, mà chủ yếu do “có mộtcuộc sống không được chọn lựa nào đó đã phủ chụp lên từng miền, từng vùng đã ảnh hưởng cùng cực đến họ, tạo ra những điều khó tả như vậy.” 

Cái “cuộc sống không được chọn lựa nào đó” này là gì? Đó là lối sống bị áp đặt cách thô bạo. Áp đặt thứ kinh tế tập thể, trong đó những người làm việc năng nổ và xuất sắc không được hưởng nhiều hơn kẻ lười biếng. Thậm chí, người lao động giỏi nếu không biết khom lưng thì có thể bị mất hết, trong khi kẻ lười nhác nhưng chịu khó lấy lòng cấp trên có thể được nhận nhiều thứ. Cái thứ kinh tế tập thể đó đã đi đến cái kết cục tất yếu là suy thoái trầm trọng, đẩy con người đến chỗ càng phải bon chen, thu vén bằng mọi cách mà gần như không còn cảm giác xấu hổ. Áp đặt lối suy nghĩ và nói năng theo mẫu của cấp trên. Áp đặt những cuộc “sinh hoạt tư tưởng” đe dọa biến tất cả những ai có suy nghĩ độc lập, tự do thành “kẻ thù giai cấp”. Áp đặt một thứ “tình cảm cách mạng”, đẩy tình ruột thịt, tình bạn hữu xuống vị trí thứ yếu…

Tôi nhận ra điều đó, ở một ngày khi thấy chung quanh mình có rất nhiều bạn, kể cả thầy cô, là những người Bắc mà tôi tin cậy.” Tuấn Khanh viết tiếp. Tình ruột thịt mạnh hơn hết thảy trong con người anh đã giúp anh nhận ra nguyên nhân của “những điều khó tả” trong những người đồng bào Bắc Kỳ. Và khi nhận ra điều đó, anh càng thấy thương những người bà con miền Bắc hơn. Trong lòng anh thực sự không còn chút ngăn cách nam-bắc nào.

Không những thế, Tuấn Khanh còn khẳng định vai trò của “Bắc Kỳ” trong đời sống xã hội:

“… văn chương Bắc Kỳ, âm nhạc Bắc Kỳ, báo chí Bắc Kỳ… đã góp tay dựng lên một nền văn hóa của cả đệ nhất và đệ nhị cộng hòa của miền Nam.” 

Hơn thế nữa, anh đã chỉ ra rằng cuộc di cư năm 1954 của dòng người từ Bắc vào Nam đã mang đến cho cả dân tộc một “bản di chúc vĩ đại”, “bản di chúc về tự do”.

Tình cảm của những người “Nam Kỳ” như Tuấn Khanh thực sự làm ấm lòng những người con miền Bắc, trong đó có tôi.

*

Thời còn trẻ, khi học đại học, vì sống ở Bắc Kỳ nên bạn bè tôi chủ yếu là Bắc Kỳ. Nhưng những người bạn thân nhất của tôi lại là người Nam Kỳ. Đó là con em những cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Mặc dù các vị cán bộ tập kết này ra Bắc theo tiếng gọi của “cách mạng”, nhưng nhiều vị đã truyền lại được cho con cái họ lối sống và suy nghĩ chân thực, không bị nhuốm màu “chủ nghĩa”, không bày đặt kiểu cách rườm rà. Trong khi những đứa bạn Bắc Kỳ, nhất là kinh kỳ, có “phương pháp thể hiện mình” rất bài bản, thì những đứa con cán bộ miền Nam không hề biết, hay đúng hơn là không bao giờ xài những “bài” kiểu đó. Thấy tôi cũng thẳng tuột, cũng ngố kiểu nhà quê, cánh bạn gốc Nam Kỳ rất quý tôi. Và tôi đã lọt vào được một vài nhóm toàn con em cán bộ tập kết đó. Chúng tôi chơi rất thân với nhau.

Những năm sau này, tôi có dịp tiếp xúc và làm việc với dân “Nam Kỳ chính hãng”, càng thấy họ chân thật và đơn giản hơn hẳn dân Bắc Kỳ, và trong công việc thì họ hầu như không bao giờ láu vặt, dùng những trò tiểu xảo, thú thật, trái tim tôi càng hướng về những người bạn phương Nam nhiều hơn.

Trước 1975, tôi cũng như hầu hết dân Bắc đều suy nghĩ giống như được “dạy”. Lối suy nghĩ đó cũng chi phối chúng tôi khi nhận định về mối tương quan giữa hai miền, về “công lao giải phóng miền Nam” của dân Bắc (dưới sự lãnh đạo của TW!). Nhưng càng ngày, tôi càng hiểu ra rằng nếu không có “công cuộc giải phóng” đó thì miền Nam bây giờ chắc gần giống Đại Hàn Dân Quốc, còn miền Bắc giống như thiên đường CS Triều Tiên. Ý nghĩ đó, cộng với những thông tin cho thấy những người Bắc tràn vào Nam trong ba bốn mươi năm qua mang theo lối sống không phù hợp với dân Nam, làm “những điều khó tả”, làm tôi luôn có cảm giác như mắc lỗi với những người anh em trong đó.

*

Nhiều năm trước, thỉnh thoảng tôi thắc mắc, không hiểu sao trong gia đình người miền Nam không có “anh cả, chị cả”, mà cao nhất là “anh hai”, “chị hai”. Có người giải thích với tôi, đó là do ảnh hưởng quan niệm của một nhánh tôn giáo, trong đó coi cha mẹ thực của con người là ở chốn vô hình nào đó, còn hai người sinh ra mình chỉ là “anh sinh, chị đẻ”. Nếu vậy thì hai người này mới thực sự là anh cả, chị cả, nên trong số những đứa mà họ sinh ra làm gì có ai xứng đáng được gọi là anh cả, chị cả nữa. Tôi thấy cách giải thích này cũng có phần đáng chú ý, nhưng không thật sự thuyết phục.

Cách đây vài năm, trong một lần có mặt ở Quy Nhơn, một tối tôi ngồi trò chuyện với mấy người bạn, đủ cả ba miền. Câu chuyện cuối cùng chạm đến câu hỏi trên. Và thật bất ngờ, một cô người miền Nam trong nhóm đã nêu ra một cách giải thích mà tôi tin ngay lập tức. Đó là ngày xưa khi dân Việt mới vào trong đó lập nghiệp, nỗi nhớ quê và anh em ngoài Bắc sâu nặng đến mức người ta quy ước với nhau rằng con cái trong một gia đình không được gọi nhau là anh cả, chị cả, để hình dung ra như thể chúng có anh cả, chị cả, nhưng anh chị vẫn còn ngoài Bắc. Điều đó cũng là để nhắc nhở rằng tình đồng tộc cũng không khác gì tình anh em trong một gia đình hẹp, để nhắc nhở các thế hệ sau không được quên đi gốc tích của mình, và không được kỳ thị kẻ Bắc người Nam.

Tôi bỗng hoàn toàn tin vào cách giải thích đó. Thậm chí tin rằng nó được truyền lại qua mấy thế kỷ. Thật may là nó đã không bị thất truyền!

Và không hiểu sao, tôi thấy xúc động khác thường, mấy chục năm qua chưa từng như vậy. Lúc đó, tôi đã phải đứng dậy đi ra chỗ khuất, để giấu dòng nước mắt cứ tự động trào ra mà không cách nào ngăn được (ở tuổi ngoài 60!). Mãi hàng chục phút sau, tôi mới dám quay lại, trong sự ngạc nhiên của nhóm bạn vì sự bỏ đi bất thường của tôi.

Cách giải thích của người bạn miền Nam về “anh cả, chị cả”, và những lời tâm huyết như của Tuấn Khanh làm tôi thấy yên tâm, rằng tình đồng tộc, nghĩa đồng bào, bất chấp vật đổi sao dời, vẫn luôn là điều thiêng liêng có thể lay động con tim ta ở nơi sâu kín nhất. Và “Bắc Kỳ”, “Trung Kỳ” hay “Nam Kỳ” chỉ thuần túy là những khái niệm địa lý hành chính.

Suy nghĩ đó làm tôi thực sự thấy ấm lòng và hạnh phúc.


Nguyễn Trần Sâm 

Thứ Tư, ngày 30 tháng 7 năm 2014

Tờ trình tổng quát của nhóm Cánh Buồm tại ỦY BAN VĂN HÓA, GIÁO DỤC, THANH NIÊN, THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG CỦA QUỐC HỘI

Link : http://canhbuom.edu.vn/index.php/su-pham/488-canhbuom-bao-cao-quoc-hoi

Nhận lời mời từ Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, sáng ngày 16-7-2014, đại diện của nhóm Cánh Buồm đã có buổi trình bày về chương trình và kế hoạch của nhóm. Dưới đây là tờ trình tổng quát tóm tắt những nét chính về đường lối và việc làm của Cánh Buồm trong những năm qua được gửi tới các vị trong Ủy ban đang thực hiện việc giám sát và phản biện về Đề án đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, mời quý vị cùng tham khảo. 

Tờ trình tổng quát của nhóm Cánh Buồm tại
ỦY BAN VĂN HÓA, GIÁO DỤC, THANH NIÊN,
THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG CỦA QUỐC HỘI
  
Thưa quý vị,
Được báo cáo trước Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc Hội về công việc của mình sau 5 năm ra đời và hoạt động quả thật là một vinh dự đối với trách nhiệm của nhóm biên soạn sách giáo khoa chúng tôi.
Nhóm Cánh Buồm chào đời vào nửa cuối năm 2009 với năm thành viên đầu tiên, được Nhà xuất bản Tri thức đỡ đầu trong cuộc hội thảo ra mắt mang tên Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội.
Cánh Buồm mơ ước ấy có một mục tiêu là soạn lại bộ sách giáo khoa bậc tiểu học.
1. Nhiệm vụ tự giao
Sao lại tự giao nhiệm vụ soạn sách giáo khoa tiểu học?
Nhóm Cánh Buồm ra đời vì một ý thức được nung ủ. Cái năng lượng nạp cho Cánh Buồm, ngoài lý tưởng và năng lực tạo đổi thay cho sự sống Giáo dục, họ còn được nạp từ năng lượng tiêu cực hoàn toàn dễ cảm nhận thu gom từ sự thất vọng của xã hội trước một công cuộc Giáo dục “phát triển chẳng giống ai”.
Cả xã hội đều nhìn thấy những dị dạng của nền Giáo dục Việt Nam đương thời.
Phản ứng thì đủ kiểu.
Trước hết, có một bộ phận người dân tự tổ chức một nền Giáo dục đào tẩu – tìm mọi cách cho con em ra học nước ngoài, thậm chí “du học” từ bậc phổ thông, nếu không du học ở nước ngoài, chí ít cũng du học tại chỗ ở những trường lớp VIP. Nhóm Cánh Buồm không chủ trương như thế, chúng tôi khuyến khích sự chia ngọt sẻ bùi với dân tộc, nhất hạng trong Giáo dục càng phải nhìn xa hơn đôi ba quyền lợi vị kỷ.
Thứ hai, có những “nhà cải cách” kinh doanh một nền Giáo dục tiếng tăm. Những trường tư mở ra, mỗi trường một khẩu hiệu, chỉ thiếu một khẩu hiệu chung cho cả sự nghiệp trồng người, là điều những nhà lãnh đạo Giáo dục đang còn khất. Có cả cỡ thứ trưởng GD về hưu cũng mở trường tư kiểu “treo khẩu hiệu” như thế. Tuy kiếm tiền trên đầu con em, nhưng lại mang danh “khoa học”: một thí dụ dễ thấy nhất là việc họ bắt trẻ nhỏ “đo IQ” và thi tuyển vào lớp Một. Nhiều gia đình phải tổ chức cho con em “luyện thi” từ khi năm tuổi. Đầu vào càng khó, uy và danh càng cao. Nhóm Cánh Buồm kiên quyết không chủ trương con đường đánh tráo đó.
Và thứ ba là, có một bộ phận trí thức đáng kính kiên trì phản biện và xoay xở đủ cách, từ tác động vào Nghị quyết ở cấp cao nhất, đến tác động vào những ngôi trường ở cơ sở, hòng xoay chuyển tư duy Giáo dục và tác động tới thực tiễn Giáo dục nước nhà – xây dựng một nền Giáo dục trong mơ.  Nhóm Cánh Buồm chủ trương không “phản biện”, và càng không than vãn. Nhóm Cánh Buồm chủ trương cái gì làm được thì làm luôn. Sức yếu thì dồn sức vào “huyệt” – làm một cái MẪU – cái “mẫu” không phải như một tấm gương để “noi theo”, mà cái mẫu như một sự vật cụ thể vừa mang tính gợi ý và cũng vừa mang tính kích thích.
Tính gợi ý, đó là làm thực sự điều gì cần phải làm mà giới lãnh đạo Giáo dục chưa biết hoặc có thể đã biết mà chưa tổ chức làm được. Một việc quan trọng nhất nhóm Cánh Buồm phải làm ngay là soạn lại sách giáo khoa tiểu học các môn Khoa học xã hội và Nhân văn.
Tính kích thích, đó là làm thực sự và hết sức mình để đưa ra những đóng góp có thực, nhưng không coi đó là giá trị bậc nhất, mà luôn luôn hy vọng chính mình được đồng nghiệp vượt qua.
2. Hiện đại hóa Giáo dục
Làm thì phải có định hướng. Định hướng chấn hưng nền Giáo dục nước nhà của Cánh Buồm làhiện đại hóa Giáo dục.
Hiện đại hóa là gì? Đó không phải là bắt chước theo nước ngoài, dù là nước tiên tiến – phải xác định như vậy, vì có những ý kiến muốn dịch và dùng nội dung, chương trình của nước ngoài để cải cách nền giáo dục nước ta. Văn hóa phải có hồn cốt dân tộc, để không cho ra lò những sản phẩm lai căng.
Hiện đại hóa phải bắt đầu với trẻ em lớp Một và bắt đầu với việc tổ chức cho các em biết TỰ HỌC – năng lực tự học như một món quà duy nhất nhà giáo dục hai tay dâng tặng trẻ em để các em mang hành trang đó đi suốt cuộc đời.
Một nền giáo dục mang phẩm chất tự học cần phải và có thể tổ chức được ngay ở đây và ngay tự bây giờ và hoàn toàn không tốn tiền: cơ chế tự học nằm trong năng lực tâm trí của người học, là thứ con người hoàn toàn không mất tiền mua.
Những hình thức kích thích tính tự học của học sinh cần được tiến hành từ rất sớm. Theo sách Cánh Buồm, ngay từ lớp Ba, đã có thể cho học sinh tổ chức xemina về những đề tài hấp dẫn các em. Tới lớp Bốn, các em đã học viết đoạn văn và bài văn, trẻ em càng tham gia hình thức xemina ở trình độ cao hơn nhưng lại dễ dàng hơn.
Tinh thần tự học lại phải gắn liền với tinh thần đánh giá, trong đó tự đánh giá là vô cùng quan trọng. Đánh giá không phải là tự nhận xét, tự phê bình cuối học kỳ hoặc cuối năm học như trong nhà trường thời phổ thông 9 năm đầu những năm 1950. Việc tự nhận xét trong nền giáo dục hiện đại được “cài đặt” trong từng thao tác học tập, diễn ra trong từng tiết học, và – đây là điều quan trọng – diễn ra một cách tự nhiên, không cần “nhắc nhở”, không căng thẳng. Nó sẽ gắn với việc bỏ cho điểm, bỏ thi, những điều rồi sẽ phải diễn ra, không chỉ tiết kiệm tiền bạc và thời gian, mà còn để nâng cao Tự do và Nhân phẩm người học. Việc đó sẽ xảy ra không do hô hào, mà do tổ chức lại CÁCH HỌC.
Cách đặt vấn đề như thế dẫn tới việc xác định lại chương trình và sách giáo khoa là hoạt động cốt lõi của một sự nghiệp Giáo dục. Phải làm được sách giáo khoa không chỉ mang tinh thần tự học mà chứa đựng những kỹ thuật tự học.
3. Chương trình và Sách giáo khoa
Để cho một nền Giáo dục vận hành, cần nhiều yếu tố. Nhưng nhà sư phạm không nhất thiết phải đụng tay vào tất cả các yếu tố.
Cái “huyệt” nhà sư phạm phải bấm vào là tổ chức việc HỌC của con em thông qua tổ chức việc DẠY HỌC đúng định hướng một nền Giáo dục HIỆN ĐẠI HÓA.
Dĩ nhiên, điều đó không ngăn cản nhóm Cánh Buồm ước mơ về một ngôi trường Ba Không: không hộ khẩu, không học phí, và không bắt nạt (bằng thi cử, bằng xếp hạng, bằng lấy điểm số ra dọa nạt và mua chuộc … ). Song, tổ chức cái “Không” thứ ba thuộc trách nhiệm của mình với tư cách nhà sư phạm mà giải pháp kỹ thuật nằm trong việc tổ chức một nền Giáo dục ở đó trẻ em TỰ HỌC – TỰ GIÁO DỤC và dĩ nhiên, trong đó thay cho kiểm tra cho điểm sẽ có yếu tố TỰ ĐÁNH GIÁ.
Để tạo ra năng lực tự học cho con trẻ, cần xác định nhiệm vụ bậc học là cái “huyệt” ngành GD chưa bấm. Chúng tôi xác định Tiểu học là bậc học phương pháp. Tư tưởng đó được nhắc đi nhắc lại, nhất là qua hội thảo năm 2011 mang tên Tự học – Tự giáo dục vàhội thảo năm 2012 mang tên Em biết cách học.
Khi đã chiếm lĩnh phương pháp gốc từ bậc tiểu học, bậc Trung học cơ sở sẽ có nhiệm vụ là tự trang bị kiến thức – sao cho hết 9 năm học, trẻ em đã có thể có đủ CƠ SỞ  như tên gọi của bậc học – để các em vào đời theo ba chọn lựa: (a) đi kiếm sống, (b) đi học nghề, (c) học lên Trung học. Như vậy, có thể thấy là cuộc Cải cách Giáo dục cho toàn dân sẽ phải đặt trọng tâm vào bậc Phổ thong Cơ sở với hai phân khúc: (a) 5 năm đầu: chiếm lĩnh phương pháp học; (b) 4 năm sau, tự trang bị đủ kiến thức cơ sở.
Suy ra từ logich đó, nhiệm vụ bậc học của bậc Trung học sẽ là bậc tập nghiên cứu để sau đó, bậc Đại học là bậc tập độc lập nghiên cứu, dẫn tới bậc sau đại học là bậc hoàn toàn độc lập nghiên cứu. Quan niệm như thế, nên nhóm Cánh Buồm đã từng nói: Đại học nghiên cứu bắt đầu từ lớp Một!
Trong cả chuỗi học đó, yếu tố tự học hiện diện khắp nơi. Làm gì để trẻ em ngay từ lớp Một đã tự học? Bí quyết sư phạm nằm ở chỗ tìm ra những thao tác làm việc của những người tiêu biểu trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, và hoạt động xã hội để tổ chức cho trẻ em làm lạinhững thao tác chắt lọc mà những người đi trước ưu tú đã từng làm.
Xin lấy mấy thí dụ để minh họa:
(a)    Thay cho lối học ê a đánh vần và đọc ngắc ngứ, trẻ em lớp Một sẽ chủ động học những thao tác nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt từng được tiến hành bởi các nhà ngôn ngữ học kể từ thế hệ Alexandre de Rhodes – ba thao tác đó là phát âm – phân tích âm – tự ghi (và tự đọc).   
(b)  Thay cho lối nghe bình giảng văn chương, và sao chép những bài văn mẫu, trẻ em ngay từ lớp Một đã học những thao tác nghệ thuật tưởng tượng – liên tưởng – sắp xếp (bố cục) để chính các em tự làm ra cái Đẹp nghệ thuật vừa tầm cỡ các em.
(c)     Cũng trong cuộc tự học đó, trẻ em sẽ không nghe giảng và nhắc lại những răn dạy về đạo đức – các em sẽ được tổ chức một lối sống theo tinh thần đồng thuận như lối sống của những nhà đạo đức, những nhà hoạt động xã hội tiêu biểu.
Hoạt động học thực ra chỉ quay xung quanh trục gồm ba đỉnh ấy, và tư duy của người học cũng sinh ra từ đó: tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật, tư duy đạo lý và không cần dạy thêm, học thêm một “tư duy” nào khác nữa cũng đủ để thành những con người tự do – trách nhiệm – tâm hồn phong phú như ước vọng của cả dân tộc chúng ta.  
4. Khác gì với quá khứ?
Nhắc lại vài điều trong “lịch sử” có khi cũng cần thiết.
Ngay từ khi ra đời, bộ sách giáo khoa Cải cách hiện hành có tên Chương trình năm 2000 (CT-2000) đã gặp rắc rồi. Các tác giả cãi nhau đó là “thay sách” hay “sửa chương trình” hay “cải cách”. May mà nó được trụ đỡ bởi bộ Luật Giáo dục thông qua nhanh gọn nên chương trình và sách đó có quyền từ năm học 2004 được “tràn ngập lãnh thổ”. Ấy thế nhưng tiếng kẻng báo động đầu tiên đã được phát đi bốn năm sau, vào năm 2008 bởi báo Tuổi trẻ, và một từ ngữ mới cũng ra đời “tràn ngập lãnh thổ” và lặp đi lặp lại: quá tải.
Có vị bộ trưởng cho cân cặp sách của học sinh, để chứng minh rằng trẻ em gò lung đeo cặp đi học không vì quá tải bởi sách của CT-2000. Sau đó, liên tiếp từ 2008 đến mãi năm học 2013-2014, năm nào cũng nói đến giảm tải – riêng ông bộ trưởng đương nhiệm còn dùng thuật ngữgiảm tải sâu. Các nhà sư phạm danh giá thì tự phê phán rằng sách CT-2000 nặng tính hàn lâm. Lẽ ra, nếu các vị thành thực nhận thấy sách giáo khoa CT-2000 nhồi nhét những kiến thức không có tính hệ thống khiến cho giáo viên không biết đường nào mà lần, và kết quả quá tải là một từ ngữ quá lịch sự, đến nỗi phải giảm tải (là một từ ngữ quá mơ hồ).
Nhóm Cánh Buồm tự giao nhiệm vụ giải quyết vụ “giảm tải” đó theo cách của mình: bỏ cái cũ, làm một cái mẫu tổ chức việc học từ bậc tiểu học những môn học khó nhất, đó là: Tiếng Việt, Văn, Lối sống, và năm nay chúng tôi sẽ cho ra mắt sách Lịch sử bậc Tiểu học. 
Nghĩ rằng Ủy ban Văn hóa – Giáo dục … không chỉ quan tâm đến ý tưởng, đường lối, mà còn muốn biết sâu vào quan điểm sư phạm cùng nội dung từng bộ môn, nên chúng tôi xin báo cáo rõ như sau.
(a) Môn Tiếng Việt
Nhiệm vụ môn Tiếng Việt là tạo ra ở học sinh một phương pháp ngôn ngữ học để các em nghiên cứu vật liệu tiếng mẹ đẻ, để có năng lực dùng ngôn ngữ chính xác, phong phú trong việc học cũng như trong đời sống hàng ngày.
Lớp Một – Ngữ âm học: nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt để tự biết cách ghi, do đó mà tự biết cách đọc, và đến cuối lớp Một thì có năng lực đọc thầm – năng lực của con người có văn hóa đọc.
Lớp Hai – Từ vựng học: nghiên cứu sự phát sinh và phát triển của Từ tiếng Việt từ khi dùng tín hiệu để “nói” cho đến khi xuất hiện từ thuần Việt, tiến lên những dạng phát triển của từ thuần Việt (từ ghép, từ láy) và sự mở rộng sang từ Hán Việt và từ mượn.
Lớp Ba – Cú pháp học: nghiên cứu câu tiếng Việt trên hai phương diện: “vỏ ngoài” cấu trúc Chủ-Vị của câu, và cấu trúc logich bên trong của câu, nhờ đó mà biết tạo ra những câu không thể sai cú pháp đồng thời có cách diễn đạt minh bạch, uyển chuyển, văn minh.
Lớp Bốn – Văn bản học: nghiên cứu và tạo ra bài văn tiếng Việt. Những tích lũy từ ngữ (lớp Hai và Ba) và những tập luyện về logich (lớp Ba) sẽ được dùng vào việc viết văn bản. Việc học viết bài văn chia làm hai giai đoạn: (a) viết đoạn văn như một bài văn thu nhỏ để tập tìm ý và xử lý ý; và (b) chuyển đoạn văn thành bài văn.
Lớp Năm – Hoạt động ngôn ngữ: ứng dụng tổng hợp năng lực ngôn ngữ học vào các dạng hoạt động ngôn ngữ trong đời sống, bao gồm ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, ngôn ngữ xã giao trong đời sống, hàng ngày.
(b) Môn Văn
Môn Văn Cánh Buồm có nhiệm vụ lấy văn chương làm vật liệu mẫu để tạo ra ở học sinh một cơ sở năng lực nghệ thuật, thay cho cái “năng lực văn” nhại lại những cảm thụ của người khác.
Năng lực nghệ thuật của học sinh (cũng như mọi năng lực khác) đều phải do học sinh làm ra,chứ không qua nghe-nhìn dửng dưng.
Lớp Một – đồng cảm: học sinh làm lại những hoàn cảnh đem đến cho nhà văn (hoặc người nghệ sĩ nói chung) một lòng đồng cảm với thân phận con người – nhờ đó mà nhà văn và người nghệ sĩ có được cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Cách tạo lòng đồng cảm cho trẻ em diễn ra bằng những trò chơi đóng vai.  
Lớp Hai – Tưởng tượng: cũng giống nhà văn, sau khi có cảm hứng liền “lao vào sáng tác”, khi đó dù muốn dù không, dù có ý thức hay vô thức, người sáng tạo đều cần đến những thao tác bắt buộc. Thao tác đầu tiên và quan trọng nhất, đó là tưởng tượng. Học sinh lớp Hai tập làm lại thao tác đó theo định nghĩa hành dụng (định nghĩa bằng việc làm) Tưởng tượng là làm việc thầm trong đầu.
Lớp Ba – Liên tưởng: những sản phẩm tưởng tượng ban đầu còn chưa đủ ý, chưa diễn đạt hết ý tưởng của nhà văn hoặc người nghệ sĩ. Sự gọt giũa nhào nặn sẽ khiến cho hình tượng mang một ý nghĩa khác với hình tượng “thô” ban đầu. Việc làm đó của người đi trước sẽ được học sinh lớp Ba tập luyện khi học thao tác liên tưởng.
Lớp Bốn – sắp xếp (bố cục): Một hình tượng còn phải nằm trong một toàn cảnh liên quan đến các nhân vật và những tình tiết khác – chưa kể là với những vật liệu khác nhau đòi hỏi cách sắp xếp khác nhau tạo nên những thể loại khác nhau – công việc này được học sinh lớp Bốn làm lạitrong thao tác sắp xếp (hoặc bố cục).
Lớp Năm – các dạng hoạt động nghệ thuật: Bốn lớp đầu của bậc tiểu học cung cấp cho trẻ em một năng lực nghệ thuật gồm một lý tưởng (hoặc một tinh thần sáng tác, một đạo đức nghệ thuật) và một ngữ pháp nghệ thuật. Lên lớp Năm, các em mang hành trang đó áp dụng vào các hình thức nghệ thuật cơ bản: âm nhạc, nhảy múa, tạo hình, thơ trữ tình, văn tự sự, và kịch.
(c) Môn Lối sống
Thay thế cho môn Đạo đức, hoặc Luân lý, hoặc Giáo dục Công dân, nhóm Cánh Buồm tổ chức cho học sinh tự xây dựng và cùng xây dựng một cung cách sống khác chắt lọc thành mônGiáo dục Lối sống (gọi tắt là môn Lối sống).
Nhiệm vụ của môn Lối sống là huấn luyện trẻ em (và “vô tình” tác động cả tới những ai liên quan đến các em) một tinh thần và năng lực sống đồng thuận trong cộng đồng.
Nhóm Cánh Buồm không định nghĩa đồng thuận bằng lý thuyết dài dòng, mà định nghĩa bằng việc làm để học sinh SỐNG trong những yếu tố tạo thành sự ĐỒNG THUẬN: (a) cùng lao động theo cương vị khác nhau; (b) cùng chia sẻ những giá trị tinh thần có thể khác nhau; (c) cùng phát hiện và tháo ngòi xung đột.
Lớp Một – sống tự lập: Mục tiêu của lớp Một là tổ chức cho trẻ em sống tự lập. Chúng ta không tổ chức việc đó như một thứ “quy chế”. Trái lại, ngay từ lớp Một, trẻ em phải biết nhà trường em đang học là một xã hội với ba thành phần: (a) Giáo viên; (b) phụ huynh; và (c) học sinh. Cần tổ chức cho trẻ em sống tự lập trong bối cảnh đồng thuận giữa ba thành phần đó. Và sản phẩm sống tự lập của trẻ em sẽ là “phép thử” sự đồng thuận ở cộng đồng trường học đó có đúng nghĩa hay chỉ là hình thức.
Lớp Hai – sống đồng thuận trong cộng đồng: Lên lớp Hai, học sinh được học những nguyên tắc lớn về cuộc sống của cộng đồng. Từ trải nghiệm lớp Một – tổ chức sự đồng thuận giữa giáo viên, phụ huynh và học sinh để các em được cái quyền sống tự lập (cái quyền mà có khi chính các em cũng từ chối) – học sinh đến với những nguyên tắc chung sống cộng đồng. Từ lớp này, nguyên lý đồng thuận sẽ được các em nhìn nhận một cách có ý thức hơn so với ở lớp Một.
Lớp Ba – sống đồng thuận trong gia đình: mục tiêu của giáo dục Lối sống ở lớp Ba là giáo dục cách sống đồng thuận trong gia đình. Đó cũng chính là một cộng đồng, ở đó cùng lao động, cùng chia sẻ giá trị tinh thần, và nguyên tắc phát hiện – tháo ngòi xung đột được thể hiện một cách hết sức nhân bản.
Lớp Bốn – sống đồng thuận trong tổ quốc và nội dung Lớp Năm – sống đồng thuận trong nhân loại là những nội dung nhóm Cánh Buồm chưa biên soạn xong vì nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan – trong đó có nguyên nhân chưa thực nghiệm đầy đủ.
(d) Môn Lịch sử
Môn Lich sử xưa nay được đưa vào nhà trường phổ thông chỉ như là những tư liệu lịch sử ở dạng thô, sau đó thả nổi về phương pháp, tùy giáo viên nhào nặn theo ý thức và khả năng của mình.
Sách Lịch sử do nhóm Cánh Buồm biên soạn có đặc điểm là chỉ rõ ra những việc làm của học sinh khi các em học Lịch sử. Các giáo viên từ đây có thể căn cứ vào việc làm của học sinh đã cho sẵn trong sách giáo khoa để tổ chức các tiết học lịch sử – sự khác nhau giữa các giáo viên sẽ chỉ là giữa “năng lực thô” dễ dàng phổ cập cho từng giáo viên và “năng lực tinh” của mỗi người làm nghề.
Có bốn việc làm của học sinh khi học Lịch sử:
1.    Việc 1: Tiếp nhận sử liệu.  Sử liệu được tiếp nhận như là những “vật tự nó” đối với mọi người. Việc đọc, và nhất là đọc thầm, được dùng để học sinh tự làm việc này.
2.    Việc 2: Nhập thân vào sử liệu.  Công việc này sẽ tiến hành thuận lợi vì học sinh học Văn Cánh Buồm đều được luyện các thao tác tưởng tượng qua trò chơi đóng vai, qua kịch câm và kịch nói. Học sinh sẽ vào vai các nhân vật lịch sử trong những bối cảnh có kịch tính.
3.    Việc 3: Bài học lịch sử của em: Phải có những bài tập để học sinh tự rút ra bài học lịch sử chứ không chép những kết luận do giáo viên hoặc sách đưa ra. Đây là một thí dụ: Em đi thăm đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi, em khấn Hai Bà một điều gì, em ghi lời khấn đó vào vở. Hoặc: ngày Tết, em đi ngang gò Đống Đa, em nói với Sầm Nghi Đống một điều gì, hãy ghi lại.
4.    Việc 4: Góc sưu tầm của em: đây chính là phần tự học thêm, các tài liệu sưu tầm đi từ tranh ảnh, phim, cho đến những tư liệu nghiên cứu. Một khi học sinh ngay từ bậc tiểu họcđã thích sưu tầm tư liệu lịch sử cho riêng mình, thì đoan chắc các em sẽ tiếp tục hứng thú và kỹ năng đó khi học lên cấp trên.
Về chương trình chung của môn Lịch sử,  nhóm Cánh Buồm đề nghị chia việc học Lịch sử ở bậc phổ thông thành ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn tiểu học (học từ lớp Ba) – Nội dung Lịch sử gồm hai phần: (a) khoa học khám phá sự tiến hóa của con người; (b) những trang sử hào hung với những nhân vật đẹp, những hành động kiệt xuất. Mục tiêu là tạo ra tình yêu Lịch sử, do đó mà yêu và nhớ sử liệu.
Giai đoạn phổ thông cơ sở – Nội dung Lịch sử là bằng một tình yêu sự thật mà đi tìm tính chính xác của sử liệu – càng quan trọng, đó là đi tìm tính chính xác của sử liệu do chính học sinh thực hiện. Sách giáo khoa đưa ra những tư liệu gốc như một sự khơi mào. Học sinh tự thâm nhập vào sử liệu, tự các em tìm những sử liệu được coi là trung thực để rút ra những bài học lịch sử xứng với tầm hiểu biết của các em.
Giai đoạn trung học phổ thông – Nội dung Lịch sử sẽ là những vấn đề triết học lịch sử, những “tại sao” của Lịch sử. Tại sao chiến tranh? Tại sao có tôn giáo? Tại sao có giàu nghèo? Mục tiêu lý tưởng ở bậc Trung học này là học sinh vừa được giải đáp thắc mắc đồng thời vẫn giữ được những thắc mắc không giải quyết nổi để ”ôm mối hận” đó mà đi vào đại học…
5. Triển khai thế nào?
Sau khi đã trình bày cả chương trình cùng sách giáo khoa Cánh Buồm, có câu hỏi sau: sách Cánh Buồm có khả thi không?
Dĩ nhiên, chúng tôi nói “Có, hoàn toàn khả thi”, trong khi có thể rất nhiều người sẽ nói “không”. Nhưng nhóm Cánh Buồm thì tin vào sức mạnh của cuộc sống thực, căn cứ từ mấy điều sau.
Một là, chắc chắn xã hội sẽ đòi hỏi phải làm một điều gì đó ngay bây giờ vì đã quá muộn. Chắc chắn xã hội không thể để mặc cho các trào lưu Giáo dục đào tẩu và Giáo dục tiếng tămhoành hành bằng công việc “cải cách” Giáo dục riêng của họ bởi họ và cho họ. Nhưng phải có cái gì đó để thay thế cho cái “nền giáo dục mang hơi đồng tiền” ấy? Nhóm Cánh Buồm đã có sẵn đây một cái gì cao hơn, tầm nhìn xa hơn, và gần với việc tự học của con em hơn, với lý tưởng chấn hưng được nền văn hóa dân tộc Việt.
Hai là, chắc chắn xã hội sẽ đòi vứt bỏ cách làm giáo dục theo lối “giảm tải”, thậm chí giảm tải sâu CT-2000. Vì nếu giảm tải và giảm tải sâu được thì từ khi báo Tuổi trẻ cảnh báo hồi năm 2008 tới giờ chắc là đã khối người làm rồi! Cần thay bằng một TƯ TƯỞNG KHÁC VÀ CÁCH LÀM KHÁC. Nhóm Cánh Buồm đã dự liệu chuyện đó và đã sẵn sàng một cái MẪU khác hẳn.
Ba là, xu thế của đời sống ngày càng cởi mở sẽ đi xa hơn và nhanh hơn quyết định hành chính “Một chương trình nhiều bộ sách”. Nhóm Cánh Buồm đã mở nhiều cuộc hội thảo và nhiều cuộc sinh hoạt sư phạm hàng tháng thu hút vô số người quan tâm. Đó sẽ là lực lượng tiềm năng đón nhận sản phẩm Cánh Buồm.
Có những dấu hiệu cho thấy nhóm Cánh Buồm không ảo tưởng.
Bà nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã cảm nhận được trình độ CAO và KHÁC HẲN song dễ thực thi của sách Cánh Buồm. Từ năm 2012 bà đã động viên chúng tôi: “Chị không nói sách của nhóm các em là tốt nhất, nhưng cho tới nay chưa có bộ sách nào bằng”.     
Bất chấp việc có hai người lên tiếng rằng nhóm Cánh Buồm phạm luật, bà Nguyễn Thị Bình yêu cầu Bộ GD và ĐT tìm hiểu công việc của nhóm. Ngày 3 tháng 2 năm 2012, Vụ Tiểu học tiếp và nghe Nhóm trình bày. Bà Bình kiểm tra lại. Một thứ trưởng thưa với bà rằng “anh em báo cáo là sách tốt, nhưng cao”. “Cao” mà là khuyết điểm, thì nên chọn cao hơn là chọn ưu điểm là sự lùn tè!
Bà Nguyễn Thị Bình, và ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó ban Tuyên giáo Trung Ương tìm cách đưa bộ sách tiểu học Cánh Buồm vào dạy thử ở Hội An từ năm học 2013-2014. Tại cuộc họp ở Ban Tuyên giáo TƯ, có mặt người của Sở GD-ĐT Quảng Nam, ông Vũ Ngọc Hoàng khen nhóm Cánh Buồm là “tập thể lao động cộng sản chủ nghĩa” – chắc là không chỉ nhằm nâng cao phẩm chất chính trị của chúng tôi. Song việc vẫn không xuôi, hình như bà Nguyễn Thị Bình và ông Vũ Ngọc Hoàng còn quá cả tin.
Hôm nay, trước một Ủy ban của Quốc Hội trực tiếp chăm lo cho công cuộc chấn hưng Văn hóa – Giáo dục, cho phép nhóm Cánh Buồm báo cáo về những ân nhân của chúng tôi:
Về sự ủng hộ tuyệt vời về tinh thần (và có khi cả về vật chất) của 
-        Ông Trần Thế Tôn, thương binh hỏng mắt mặt trận Quảng Trị thông qua trợ lý đã đọc được kỹ toàn bộ sách Cánh Buồm, đã trực tiếp đến gặp nhóm Cánh Buồm để động viên chúng tôi;

Và các vị
-        Vũ Ngọc Hoàng (ban Tuyên giáo TƯ); Chu Hảo và Nguyên Ngọc (quỹ văn hóa Phan Châu Trinh); nhà xuất bản Tri thức giúp ra đời Tủ sách giáo khoa Cánh Buồm và Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm; Patrick Michel và Patrick Girard, hai vị giám đốc Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội, liền trong 5 năm đã giúp tổ chức mỗi năm 2 kỳ hội thảo; Viện IDECAF Thành phố Hồ Chí Minh đã hai lần giúp giới thiệu sách của Nhóm; giáo sư Cao Huy Thuần đã giúp mời giáo sư Alain Fenet tham gia phản biện các sản phẩm Cánh Buồm;

Ngoài ra nhóm Cánh Buồm cũng nhận được thêm hỗ trợ bằng tiền của:
-        Bà Nguyễn Thị Bình; Giáo sư Hoàng Tụy; giáo sư Ngô Bảo Châu; Khoa học gia Thái Văn Cầu và Phùng Liên Đoàn (Hoa Kỳ), hai gia đình Đan Mạch và Na Ụy (giấu tên); vợ nhà thơ Hoàng Hưng; các cô giáo Nguyễn Trần Diễm Linh và Nguyễn Ngọc Điệp; các ông Đoàn Minh Tuấn, Nguyễn Viết Dũng, Lê Quốc Quân; gia đình Trung tướng Trần Độ; vợ chồng bác sĩ Nguyễn Kim Cương; các nhà báo nhà văn: Hoàng Hưng, Giáng Vân, Trung Dân, Phạm Lưu Vũ; họa sĩ Trần Trung Chính; các doanh nhân: Nguyễn An Kiều, Nguyễn Trần Bạt, Trang Cà phê, và ông Đặng Lê Nguyên Vũ (tập đoàn cà phê Trung Nguyên) ngoài việc cho tiền còn cho trụ sở sinh hoạt khoa học sư phạm hang tháng…

Nhờ những giúp đỡ kể trên, nhóm Cánh Buồm có điều kiện in sách mỗi năm. Sách in ra phần lớn dùng làm quà (có khi thu lại được tiền) cho các nhà nghiên cứu hoặc các vị muốn dùng để dạy con em hoặc muốn nâng cao chất lượng công việc nhà giáo tiểu học. Tất cả các tác giả và dịch giả sách Cánh Buồm cho tới nay đều không lấy nhuận bút. Tất cả tiền quỹ đều quay về nhóm dùng vào việc in sách mới hoặc tái bản.
Năm 2014 này, vào ngày 15 tháng 10, tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace sẽ lại có cuộc giới thiệu sách Cánh Buồm đã chữa lần thứ ba, cuộc Hội thảo mang tên CAO HƠN, XA HƠN, … VÀ DỄ TỰ HỌC HƠN. Tự tên gọi đó đã nói gần đủ những điều cần nói. Sách Cánh Buồm năm 2014 sẽ hết sức dễ dùng cho cả người dạy cũng như người học.
Cảm nhận được sự nóng lòng chờ đợi ngoài xã hội, nhìn trước được xu thế phát triển, nhóm Cánh Buồm chủ động đi trước nghiên cứu mẫu chương trình và sách giáo khoa tiểu học cho cuộc Cải cách Giáo dục nhất thiết phải tiến hành.
Chúng tôi không biết mình nên kiến nghị gì. Những kiến nghị sẽ có tác dụng gì. Chúng tôi không vận động hành lang điều gì. Chúng tôi tin vào quy luật vận động của sự vật. Chúng tôi tin vào những quyết định đúng lúc của cuộc sống thực. 
Và cuối cùng, đây mới là tâm tư và nguyện vọng chính thức của chúng tôi, những nhà giáo tự nguyện làm mẫu Cải cách Giáo dục: không nghĩ nhiều đến “thành công” và “thắng lợi”, mà chúng tôi lo lắng nhiều hơn đến việc mình càng ngày càng phải nghĩ đúng và làn đúng. Ngay từ khi thành lập, nhóm Cánh Buồm đã tỏ rõ mình phải Hiểu Trẻ em – Dạy Trẻ em (tên Hội thảo ra mắt 2009)Tiếp đó là Chào lớp Một (2020), là Tự học – Tự giáo dục (2011), và Em biết cách học (2012)… Đầu năm 2014, cũng ra đời cuố sách đầu tiên của Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm với kế hoạch tiếp nối là những đầu sách dịch Jean Piaget, Howard Gardner và Lev Vygotsky. Ba cây đại thụ Tâm lý học đó là những cái mẫu – lại MẪU! – kích thích những nghiên cứu trẻ em, và là trẻ em Việt Nam của Dân tộc Việt Nam trước sứ mệnh dắt tay các em đưa các em tự giáo dục thành những con người Việt Nam tử tế.
Xin trân trọng cám ơn.
                                                                                Phạm Toàn, người sáng lập
                                                                      Nguyễn Thị Thanh Hải, trưởng nhóm
                                                                                                    Nhóm Cánh Buồm

(Báo cáo do Phạm Toàn chấp bút và chịu trách nhiệm)