Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Bài phát biểu về tự do gây sốt cộng đồng mạng tiếng Trung


Ngày 1/7, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy Nghênh đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, ông nói đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm đến vận mệnh của đất nước.

Chào các em sinh viên! Đầu tiên xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!
“Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung Quốc thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội để khen. Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung Quốc có 30 phát minh,  chiếm 3%.
30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500,  chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh. Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.
Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo. Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề ? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.

Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung Quốc


Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo AlbernathyClark and kantrow, 1984).
Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc.
Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung Quốc.
Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.
Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới tây Âu.
Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự  phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.
Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%.
Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết ! Trong 500 năm trở lại đây, Trung Quốc không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa !
Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.

Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế?


Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng; thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.
Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung Quốc không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ.  
Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo, sự cống hiến của Trung Quốc gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.
Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung Quốc sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.
Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung Quốc? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung Quốc cổ đại.
Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500,  một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.

Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo


Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.
Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.

Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in


Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.
Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nha khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.
Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại  kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.
Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.

Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”


Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!
Chúng ta thường nói, Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung Quốc liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung Quốc sẽ chết đói.
Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung Quốc phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc và Mỹ đã có thương vụ làm hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.
Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung Quốc có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung Quốc mới phát huy hết khả năng, biến Trung Quốc trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.
Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”!


Trí Đạt (biên dịch)

Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

Trithucvn.net: Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển

Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.

Quý tộc, bình dân và lưu manh

Nhân loại là một quần thể to lớn và phức tạp nhất trên thế giới. Nói về tính chất vốn có của tinh thần và ý thức, có thể phân thành 3 thứ bậc khác nhau: quý tộc, bình dân và lưu manh. Ba thứ bậc này được phân theo dạng hình thoi đứng, ở giữa phình to là tầng lớp bình dân, đầu nhỏ ở trên cùng là tầng lớp quý tộc, còn đầu nhỏ dưới cùng là lưu manh. Từ bình dân tới quý tộc thì không có giới hạn rõ rệt, từ bình dân tới lưu manh cũng không có giới hạn rõ rệt, nhưng lưu manh và quý tộc thì có sự khác biệt một trời một vực.
Sở dĩ được gọi là quý tộc không phải vì có nhiều của cải, cũng không phải vì có nhiều quyền lực, mà là vì họ có một tinh thần cao quý, sử sách gọi đây là tinh thần quý tộc. Người thiếu tinh thần quý tộc, thì dù giàu có không ai sánh bằng cũng chỉ là mang bản tính lưu manh mà giàu có; dù có quyền lực to đến mấy, thì cũng chỉ là kẻ độc tài chuyên chế mang bản tính lưu manh.
Sở dĩ gọi là lưu manh không phải là vì không có gì trong tay, mà là ý thức lưu manh ở bên trong nội tâm. Giai cấp vô sản không đồng nghĩa với lưu manh, giai cấp vô sản đa số là người bình dân an phận thủ thường. Trong quần thể lưu manh, có người giàu, có kẻ nghèo; có bình dân, có quyền quý; có người ngốc nghếch, cũng có kẻ thiên tài.
Tinh thần quý tộc đại diện cho đỉnh cao của văn minh nhân loại, ý thức lưu manh đại diện cho sự thấp kém nhất của nhân loại. Dường như tất cả mọi người đều có suy nghĩ hướng tới sự cao thượng, và cũng có những ham muốn dục vọng thấp kém, đây chính là cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính. Nhân tính chiến thắng thú tính, thì con người hướng tới sự cao thượng; thú tính chiến thắng nhân tính, con người sẽ hướng tới sự hèn hạ bỉ ổi. Đối với đa số người bình dân, nhân tính và thú tính vẫn đang giằng co chưa có hồi kết, nên nó làm cho cả một đời vẫn cứ loay hoay quanh cao thượng và thấp kém. Đa số người dân đều là an phận thủ thường nên cả đời sẽ không có gì nổi bật. Bình dân nếu muốn siêu phàm thoát tục, thì phải hướng tới cao thượng để có hy vọng trở thành quý tộc. Còn nếu hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì sẽ trở thành lưu manh. Con người vươn tới sự cao thượng thì rất khó, và để trở thành quý tộc thì lại càng khó hơn; còn hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì rất dễ, trở thành lưu manh thì dễ như trở bàn tay. Cũng chính vì nguyên nhân này mà xã hội nhân loại hiện nay quý tộc thì ít mà lưu manh thì nhiều.
Cao thượng và cao quý  không khác nhau về bản chất, nhưng cao thượng và cao quý lại có khoảng cách, đó là mức độ khác nhau, trạng thái khác nhau. Bình dân cũng biết cao thượng, nhưng thường chỉ có thể cao thượng trong thuận cảnh, chứ không thể “cố thủ” cao thượng trong nghịch cảnh. Nếu như trong nghịch cảnh mà có thể giữ được cao thượng, thì đó chính là trạng thái cao quý, cũng tức là đã thành quý tộc.
Nếu cao thượng đã  đạt đến trạng thái cao quý, thì tức là “phú quý mà không dâm, dưới áp lực mà không chịu khuất phục”. Đây chính là trạng thái của tinh thần quý tộc. Câu trên có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là giải thích đối với phú hào quyền quý: Anh giàu có rồi thì không thể dâm đãng, anh có quyền rồi thì anh không thể lấy quyền đấy để bắt người khác khuất phục. Tầng thứ hai là giải thích với tầng lớp bình dân: Anh không giàu có, nhưng anh không thể bị phú quý dụ dỗ mê hoặc để rồi từ bỏ cao thượng; anh không có quyền lực nhưng anh không thể khuất phục trước quyền lực, anh chỉ có thể tâm phục khẩu phục trước sự công bằng và chân lý. Đạt đến trạng thái này rồi, thì dù có là bình dân nhưng anh vẫn có tinh thần quý tộc.

Tinh thần quý tộc là gì?
Tinh thần quý tộc có 3 nội hàm cao quý đó là: thành tín, đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm.
Thành tín là linh hồn của văn minh nhân loại, không có thành tín, thì không có đạo đức, cũng không có văn minh; thành tín cũng là linh hồn của phẩm cách cá nhân, không có thành tín, thì không thể có phẩm cách cao thượng. Người thiếu sự thành tín, thì hoặc là người vô lại hoặc là kẻ lưu manh. Dân tộc thiếu sự thành tín, thì chắc chắn là dân tộc ngu muội không có văn hóa. Thành tín cũng là gốc rễ của chế độ dân chủ, vì không có thành tín, thì không có dân chủ đúng nghĩa. Cụ thể, dân chủ dựa vào hiến pháp, và hiến pháp chính là khế ước của xã hội. Thành tín chính là gốc rễ của khế ước, không có thành tín thì khế ước cũng chỉ là tờ giấy vứt đi.
Quý tộc sở dĩ là quý tộc, là bởi vì quý tộc coi thành tín quan trọng hơn cả mạng sống, thành tín mang đến sự cao thượng, sự tôn nghiêm và giá trị cao quý của sinh mệnh. Ví dụ, quý tộc châu Âu thà dùng quyết đấu sòng phẳng thẳng thắn để phân thắng thua, chứ  không muốn dùng âm mưu quỷ kế để tranh cao thấp. Đây thực chất chính là thà chết để giữ lấy giá trị của thành tín. Sử quan thời Trung Quốc cổ đại thà chết chứ không muốn vì đế vương thay đổi lịch sử, cũng chính là thà chết để giữ lấy giá trị của sự thành tín.
Đạo nghĩa bao hàm nhân đạo và công đạo. Nhân đạo là tiền đề của công đạo, chính là sự tôn trọng đối với sinh mệnh của con người. Người ngay cả ý thức nhân đạo cũng không có, thì về cơ bản không thể có công đạo. Tôn thờ bạo lực chính là coi thường nhân đạo. Nhân đạo và công đạo hòa quyện sinh ra chủ nghĩa nhân quyền của nền văn minh hiện đại, sở dĩ châu Âu có thể sinh ra Công ước Nhân quyền, thực chất chính là do sự thúc đẩy của tinh thần quý tộc.
Tinh thần đạo nghĩa mang tới nhân từ, mang tới khoan dung, mang tới sự quan tâm, mang tới sự công chính. Quý tộc quan tâm tới những người yếu, các sự nghiệp từ thiện trên thế giới dường như đều do quý tộc đầu tư xây dựng, và cái mà họ dựa vào chính là tinh thần đạo nghĩa.
Tinh thần trách nhiệm chính là tinh thần dám gánh vác. Chịu trách nhiệm với lương tri của xã hội nhân loại, chịu trách nhiệm với văn hóa truyền thống của nhân loại, bảo vệ đạo đức, duy trì công bằng xã hội, bảo vệ sự phát triển hòa bình của xã hội.
Chính tinh thần trách nhiệm mang tới lòng tin và sức mạnh không gì lay chuyển được của quý tộc, một khi dân tộc rơi vào khủng hoảng, quý tộc sẽ đứng phía trước dân tộc, bảo vệ an toàn cho dân tộc. Chính tinh thần trách nhiệm này mang đến cho họ tinh thần “Prometheus cướp lửa thần trao cho nhân loại”, và tinh thần “ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa”. Cũng chính tinh thần này đã bảo vệ và thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển hơn.
Ba loại tinh thần này đều đến từ tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có tín ngưỡng tôn giáo mới có thể chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần kiên định và bền bỉ, đạt đến trạng thái cao quý.
Dù cá nhân quý tộc có tồn tại khuyết điểm này khuyết điểm nọ, nhưng quần thể quý tộc vẫn là lực lượng chủ đạo thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển.

Tinh thần quý tộc thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển

Trong mỗi cá nhân đều tồn tại cuộc chiến nhân tính và thú tính, và nó làm cho cả một đời cứ loay hoay giữa cao thượng và thấp kém: thượng đế kêu gọi con người hướng đến cao thượng, ma quỷ dụ dỗ con người hướng đến sự thấp kém; người cao quý cao thượng thì gần quý tộc hơn, người hướng tới thấp kém bỉ ổi thì gần với lưu manh hơn; hoặc có thể nói, người gần với quý tộc thì trở nên cao thượng, kẻ gần với lưu manh thì trở nên thấp kém. Tục ngữ gọi hiện tượng này là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Mở rộng ra, một dân tộc cũng tồn tại cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính, điều này thực chất là cuộc chiến giữa văn minh và vô văn hóa, cũng là cuộc chiến giữa quý tộc và lưu manh. Một dân tộc do quý tộc chủ đạo, thì sẽ mang đến sự tiến bộ cho nền văn minh; do lưu manh chủ đạo thì sẽ lùi lại về không có văn minh, đây không phải là sức sản xuất vật chất bị thụt lùi, mà là sự thụt lùi về văn minh tinh thần, về văn hóa, đạo đức. Điều này đã được chứng minh bởi lịch sử.
Lịch sử phát triển của nhân loại là do quý tộc chủ đạo, do đó nhân loại mới từ không văn minh mà hướng đến văn minh, nhưng trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài, có lúc cũng bị lưu manh kiểm soát, lưu manh chiếm cứ địa vị chủ đạo, kết quả làm cho văn minh bị thụt lùi, do đó, tiến trình phát triển của văn minh nhân loại mới xuất hiện nhiều khúc khuỷu, tiến lùi.
Ý thức tinh thần của con người là thể đa diện phức tạp, tức có ý thức giữ gìn cao thượng, thì cũng có ham muốn tình cảm thấp kém. Tuy nhiên, con người hướng tới cao thượng lại giống như leo núi, rất khó; còn hướng tới thấp kém lại rất dễ, giống như đang ngồi cầu trượt. Do đó mà xã hội nhân loại từ trước đến nay lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc.
Xã hội nhân loại trước giờ lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc, vậy sao quý tộc có thể chiếm địa vị chủ đạo trong sự phát triển của xã hội? Điều này quyết định bởi thái độ của tầng lớp bình dân: tầng lớp bình dân ủng hộ quý tộc, thì quý tộc chiếm thượng phong, tức chiếm vị trí chủ đạo, và dân tộc này sẽ duy trì nền văn minh cao thượng; tầng lớp bình dân mà ủng hộ lưu manh, lưu manh chiếm thượng phong, tức lưu manh chiếm vị trí chủ đạo, thì dân tộc này sẽ duy trì sự thấp kém không văn minh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản các dân tộc khác nhau có tiến trình văn minh và mức độ văn minh khác nhau.
Dân tộc ủng hộ quý tộc, quý tộc dễ chiếm thượng phong; dân tộc ủng hộ lưu manh, lưu manh dễ chiếm thượng phong. Nếu lưu manh chiếm thế thượng phong, chiếm vị trí chủ đạo, thì tất nhiên sẽ mê hoặc và dụ dỗ nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, ép buộc nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến thành một đại quốc lưu manh, văn hóa đạo đức sẽ bị thoái lui toàn diện, xã hội sẽ đổ vỡ.

 

Sáng tạo văn minh và sáng tạo lịch sử

Thành tựu văn minh nhân loại dường như đều là quý tộc sáng tạo, từ tư tưởng triết học thời viễn cổ, tín ngưỡng tôn giáo, lòng tin đạo đức, đến văn hóa nghệ thuật thời trung cổ,  đến khoa học tự nhiên thời cận đại, cho đến cơ chế dân chủ thời hiện đại, tư tưởng mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại, dường như đều là quý tộc sáng tạo ra. Có thể nói thế này, không có quý tộc, thì không có văn minh nhân loại. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần tìm những nhà triết học, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, thần học, khoa học vĩ đại trên thế giới, có ai không phải là quý tộc?
Quý tộc không chỉ sáng tạo văn minh, mà còn sáng tạo ra lịch sử. Những nhà quý tộc thời cận đại của châu Âu, họ đã sáng tạo ra “Quân chủ lập hiến”, sáng tạo “Tuyên ngôn độc lập”, sáng tạo “Tuyên ngôn nhân quyền”, anh hùng  dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi đã sáng tạo ra “Cách mạng phi bạo lực”, Martin Luther King của Mỹ sáng tạo ra “Tôi có một ước mơ”, họ đem những tư tưởng văn minh này vào thực tế, sáng tạo ra lịch sử huy hoàng, trở thành những cột mốc cho nhân loại hướng tới văn minh.

Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh

Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo lịch sử, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.
Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.
Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?

Hoàng Hà

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Đại học Harvard đã thực hiện một nghiên cứu dài nhất trong lịch sử loài người để trả lời cho câu hỏi làm sao để hạnh phúc

75 năm nghiên cứu, qua 4 đời khoa học tiếp nối - cuối cùng, con người cũng chứng minh được thứ gì là quan trọng nhất để có một cuộc sống hạnh phúc.
Thế nào là hạnh phúc? Là có nhiều tiền? Là được sống an nhàn hưởng thụ? Có một người để dựa vào, nâng niu và bảo vệ? Hay đơn giản chỉ cần một công việc để cống hiến hết mình cho nó?
Thực ra, con người đã đi tìm câu trả lời cho vấn đề này trong hàng ngàn năm. Thời phong kiến, tầng lớp nông dân sống nghèo khổ và thấy không hạnh phúc - rồi họ vùng lên, trở thành tầng lớp giàu có. Nhưng người giàu thì phải bon chen địa vị, cũng không phút nào được nghỉ ngơi, để rồi tiếc nuối về thuở hàn vi, cơ cực chút nhưng thoải mái, dễ chịu.
Nêu vậy để thấy, hạnh phúc không phải dễ kiếm tìm và cũng không có câu trả lời rõ ràng. Cũng bởi vậy mà khi các chuyên gia từ ĐH Harvard quyết định thực hiện nghiên cứu về nền tảng của hạnh phúc, họ cũng biết rằng đó sẽ là một quá trình dài hơi. 
Chỉ có điều, chẳng ai ngờ được đây lại là cuộc nghiên cứu dài nhất trong lịch sử loài người.
Đại nghiên cứu (Grant Study) - 75 năm và 4 đời khoa học để tìm ra nền tảng của hạnh phúc
Cuộc nghiên cứu bắt đầu từ năm 1938, khi các chuyên gia theo dõi cuộc sống của những người được cho là "hạnh phúc nhất thời điểm hiện tại" - như tổng thống đương thời John F. Kennedy và Ben Bradlee - cựu tổng biên tập Washington Post. Tất cả mọi yếu tố trong cuộc sống của họ đều được đưa ra xem xét.
Nhưng như vậy thì chưa đủ, vì họ vốn là những người thành đạt. Mà hạnh phúc thì không thể chỉ tồn tại ở tầng lớp này. 
Trong cùng giai đoạn đó, khoảng giữa những năm 1940, một nghiên cứu khác tương tự cũng được thực hiện tại Boston, nhưng đối tượng là các chàng trai trẻ. Đến thập kỷ 70, hai nhóm nghiên cứu cộng tác cùng nhau, qua đó so sánh thêm được các yếu tố như địa vị xã hội và nền tảng giáo dục.
Thời gian trôi với nhiều giả định được đưa ra, nhưng rốt cục vẫn chưa thể đưa ra kết luận. Đến năm 2003, nghiên cứu được Robert Waldinger - một nhà tâm thần học của Harvard tiếp nối, và cũng là nhà khoa học thứ 4 kế thừa nó.
Từ thời của Waldinger, sức khỏe, tâm trạng và tình hình tài chính là 3 yếu tố được xem xét kỹ nhất. Ông thậm chí còn đưa vào yếu tố di truyền, do công nghệ gene thời kỳ này đã có những bước phát triển vượt bậc.
Nhưng cuối cùng, Waldinger nhận ra tất cả những người cảm thấy hạnh phúc về cuộc sống của họ, bất kể độ tuổi hay giới tính, đều có một điểm chung duy nhất: Họ sở hữu những mối quan hệ bền vững, tốt đẹp.
Kết luận được đưa ra vào năm 2012, đặt dấu chấm hết cho một Đại nghiên cứu kéo dài 75 năm và qua tới 4 đời khoa học tiếp nối.
Duy trì những mối quan hệ tốt đẹp là cách để hạnh phúc hơn, đơn giản vậy thôi
"Những người sống tách biệt, cô đơn trái với mong muốn thường cảm thấy kém hạnh phúc. Sức khỏe giảm sút rất sớm khi đạt trung tuổi, chức năng não bộ cũng giảm nhanh hơn, và tuổi thọ của họ cũng ngắn hơn," - trích lời Waldinger trong một bài chia sẻ trên TedTalk được hơn 6,3 triệu lượt xem vào năm 2015. 
"Trong khi đó, các mối quan hệ tốt đẹp dường như giúp con người quên đi gánh nặng của tuổi tác."
Theo Waldinger, mọi người cần sớm nhận ra rằng những thứ tưởng như đem lại một cuộc sống tốt đẹp - tiền bạc, danh vọng, sự nghiệp - rốt cục cũng chỉ là phù phiếm. Chúng có thể giúp bạn sống tốt, nhưng không phải thứ quyết định đến sức khỏe hay mang lại hạnh phúc cho bạn. Ngược lại, việc nỗ lực duy trì các mối quan hệ thân thiết, bền vững lại làm được điều đó.
Tuy vậy, mối quan hệ sẽ cần phải được chọn lọc."Chất lượng cuộc sống của bạn không chỉ được quyết định bởi số lượng bạn bè bạn có, mà còn liên quan đến việc bạn có sở hữu một mối quan hệ cam kết lâu dài hay không. Chất lượng mối quan hệ là vấn đề chính", ông Waldinger khẳng định.
Nghiên cứu của Waldinger chỉ ra rằng vào cuối thập niên 30, hầu hết nam giới đều tin rằng sự nghiệp chính là thước đo quan trọng nhất để làm nên một cuộc sống hạnh phúc. Nhưng theo Waldinger, các mối quan hệ của bạn cũng đóng vai trò quan trọng tương đương. Và nếu để đem lại hạnh phúc, quan hệ còn vượt trội hơn.
"Tôi luôn biết điều này là sự thật, và có lẽ mọi người cũng vậy. Nhưng nhìn xung quanh xem, con người làm như thể điều đó chẳng là gì," - Waldinger cho biết. "Giờ tưởng tượng đi, sẽ thế nào nếu bạn trở nên cô đơn, và chẳng còn ai xuất hiện trong đời bạn nữa?"
Những lời của Waldinger thực sự cũng tác động đến chính bản thân ông. Là một nhà khoa học, ông chịu đựng rất nhiều áp lực khi nghiên cứu và công bố thành quả của mình. Nhưng sau đó, ông nhận ra mình phải thay đổi, và ông đầu tư thời gian vào công việc giảng dạy - nơi kết nối con người, thay vì vùi mình vào sách vở.
Còn bạn thì sao? Hãy nhớ, nền tảng của hạnh phúc là các mối quan hệ tốt đẹp. Đó là gia đình, là bạn bè thân thiết, là tri kỷ.
Đầu tư thời gian để xây dựng điều đó, đừng để phải hối hận.

Nguồn: The Washington Post, Ed Talk

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017

Thế nào là “thông minh kiểu Việt Nam và Trung Quốc”?

Nhiều người Việt Nam và Trung Quốc có cùng một suy nghĩ giống nhau, đó là hay cười nhạo người Tây phương ngu ngốc, không hiểu chuyện đời, “não không có nếp nhăn”, và bản thân họ lấy làm tự mãn. Vậy rốt cuộc thông minh theo kiểu người Việt Nam và Trung Quốc là như thế nào?
Gần đây, một kênh truyền thông New Zealand đã đăng một bài viết nói về “thông minh kiểu Trung Quốc” và nhận được sự chú ý của đông đảo người sử dụng internet. Tác giả bài viết tự nhận là người Hoa, đã nhận định rằng “thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không màng trắng đen hay thị phi, không cần biết thật giả hay đúng sai, có sơ hở liền lách vào, có tiện nghi liền chiếm lấy. “Thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không màng chính nghĩa hay tà ác, bất cứ lúc nào cũng có thể vì bảo hộ bản thân mình mà làm trái lương tâm. “Thông minh kiểu Trung Quốc” chính là để cho người khác phải phó xuất và gặp nguy hiểm, còn bản thân mình những gì mười phần có lợi sẽ giành lấy hết. Kỳ thực, “thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không nói đến thành tín, ức hiếp người thiện lương, chính là các giá trị đều đã đảo lộn, không xét đến quy tắc…
Nhiều người Việt có người thân là Việt Kiều ở Mỹ, có thể đã nghe câu chuyện về việc hàng hóa sau khi mua ở Mỹ có thể được trả và lấy lại tiền mà không cần phải giải thích lý do. Vì vậy, nhiều người khi chuẩn bị tham dự một sự kiện nào đó, liền đến “mua” một bộ quần áo, sau khi tham dự sự kiện xong rồi, lập tức mang trả lại quần áo để lấy tiền về.
Hệ thống bán hàng ở Mỹ còn có một chính sách đáng chú ý, gọi là Price Match. Với chính sách này, nếu bạn mua một sản phẩm sau đó chứng minh được sản phẩm này bán giá rẻ hơn giá tại cửa hàng nào khác, thì có thể được mua sản phẩm với mức giá tương đương mức giá mà bạn tìm thấy. Do vậy, có một số người, khi đi mua hàng với giá đắt hơn những nơi khác, họ không hề mặc cả, mà lại chọn những màu sắc hay kích cỡ (mà ở các cửa hàng khác không có), sau đó khi tìm được cửa hàng nào có mức giá rẻ hơn thì sẽ mang hóa đơn quay lại nơi mua hàng để được giảm giá.
Những người này dương dương tự đắc với hành vi của bản thân, đi đến đâu cũng tự cho rằng bản thân mình thông minh, thậm chí còn đặt câu hỏi sao những người khác quá “ngu ngốc”, không biết lợi dụng “kẽ hở” này.
Bài viết của tác giả người Hoa trên truyền thông New Zealand còn liên hệ đến tỷ phú Warren Buffett. Rất nhiều nhà đầu tư hỏi về tiêu chí chọn đầu tư cổ phiếu của ông Warren Buffett, và thông thường ông hay nhấn mạnh rằng ông rất coi trọng sự thành tín của giám đốc điều hành công ty, nếu không phải công ty làm ăn chân chính, ông nhất định sẽ không lựa chọn đầu tư. Với ông, lợi nhuận không phải là yếu tố hàng đầu, mà là chữ tín.
Một người Hoa đưa đứa con nhỏ mới 3 tuổi đến Mỹ du lịch và ở tại nhà người thân. Người nhà đã đưa cho người Hoa này một chiếc ghế ngồi ô tô dành cho trẻ nhỏ và nói: “Ở đây quy định trẻ nhỏ khi đi xe nhất định phải dùng loại ghế này, tôi đưa cho anh dùng, nhưng vì là ghế đi mượn, nên anh phải giữ gìn cẩn thận, vì chúng ta sẽ phải trả lại cho người ta.” Hai tuần sau khi không dùng xe ô tô nữa, chiếc ghế này đã được đem đến trả lại cửa hàng. Người bán hàng không hỏi lý do tại sao, chỉ đơn giản là đưa đủ số tiền cho người trả hàng. Người nhà liền tự hào nói: “Các cửa hàng ở Mỹ đều như vậy, nếu mua hàng trong vòng 2 tuần thì đều có thể mang hóa đơn đến và trả lại, do đó chúng tôi thường đến đây ‘mượn’ một số đồ đạc. Nhiều người Đại lục thậm chí còn mượn cả TV. Anh nói xem, người Mỹ có ngốc hay không chứ? Trả lại hàng vô điều kiện đúng là sơ hở quá lớn, vậy mà họ còn chẳng biết điều đó!”
Một năm sau, người Hoa này đến Nhật Bản, một số bạn bè đồng hương ở Nhật đã tiếp đón và dùng ô tô để đi lại. Người Hoa này hỏi: “Tokyo đất chật người đông, có phải là rất khó đỗ xe không?”
Đồng hương trả lời: “Không nghiêm trọng đến như vậy đâu, chính phủ quy định cần có chỗ để xe trước rồi sau đó mới được phép mua xe, vì vậy mà không có nhiều xe như anh nghĩ đâu.”
“Ồ, vậy tức là anh có một bãi đỗ xe riêng sao? Chắc là phải đắt đỏ đến mức cắt cổ có đúng không?”
“Anh nghĩ là ai cũng ngốc giống người Nhật Bản sao! Muốn mua xe thì trước tiên đi thuê một chỗ ở bãi đỗ xe, sau khi mua xe xong thì trả lại chỗ đó, vậy chẳng phải là vấn đề được giải quyết hay sao?”
Hai ngày sau, một số bạn bè người Nhật đến đưa người Hoa này đi chơi, họ đi bộ hoặc là đi bằng tàu điện ngầm. Những người bạn Nhật phân trần rằng: “Tokyo mua xe thì dễ, nhưng tìm chỗ đỗ xe thì không dễ dàng gì. Do đó, anh chịu khó đi tàu điện ngầm vậy nhé.”
Người Hoa này lập tức truyền cho anh ấy cách để giải quyết vấn đề. Không ngờ rằng anh ấy đã không “ngộ đạo” mà còn dửng dưng nói: “Nếu muốn lợi dụng sơ hở, thì có nhiều cách lắm. Ví dụ như mẹ tôi sống ở quê, nếu muốn thì có thể dùng hộ khẩu cũ là mua được xe. Nhưng thực tế thì tôi định cư ở Tokyo, không có chỗ đỗ xe mà lại mua xe, vậy thì những người hàng xóm sẽ nhìn tôi như thế nào? Lái xe đi làm, tôi phải đối diện với đồng nghiệp ra sao? Cấp trên và những người đàng hoàng sẽ không làm như vậy.”
Cơ chế trả lại hàng vô điều kiện ở Mỹ và những quy định đầy lỗ hổng ở Nhật, đều được xây dựng trên cơ sở “tín nhiệm”. Nếu sự “tín nhiệm” sụp đổ, thì xã hội cũng sẽ có thể sụp đổ. Do đó, ở xã hội Tây phương, người ta có thể tha thứ cho các chính trị gia làm sai, nhưng không thể tha thứ cho những chính trị gia nói dối.
Nếu như chúng ta “giả đổi thành thật, thật cũng giả”, mỗi người đều hư hư thực thực, thì toàn xã hội sẽ vận hành trên cơ sở “hoài nghi”. Tư duy ảnh hưởng đến hành vi, mà hành vi của mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng rộng ra đến dịch vụ kinh doanh và vận hành xã hội.
Khi đi tàu điện ngầm tại Rome bạn sẽ phát hiện rằng có máy bán vé nhưng không có soát vé. Chắc hẳn bạn sẽ thấy lạ lắm phải không? Làm thế này làm sao kiểm soát được xem hành khách lên tàu có mua vé hay không? Vận hành tàu điện ngầm thế này chẳng phải sớm muộn gì cũng bị lỗ hay sao?
Đây chính là cách nghĩ quen thuộc của chúng ta, luôn liên tưởng mọi chuyện theo kiểu khôn vặt hoặc vì tham lợi nhỏ cho bản thân mình. Đối với người Ý mà nói, nếu chúng ta hỏi câu hỏi này thì thật kỳ lạ. Đi xe có thể không mua vé chăng? Đi xe làm sao có thể không mua vé cho được? Cách nghĩ, cách tư duy của hai bên quả có sự khác biệt lớn.
Nếu như bạn thực sự muốn biết có thể đi tàu mà không cần mua vé hay không, thì câu trả lời là có thể, hoàn toàn có thể lên tàu đi một vài trạm, nhưng phải đảm bảo không để cho giới quản lý ở Ý biết được, nếu biết họ nhất định sẽ phạt bạn. Và sau này nếu bị phạt nhiều lần, có thể tạo thành tiếng xấu ở nước ngoài, thật sự là cái được không bõ cho cái mất!

Hồng Ngọc

Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Chuyện của mãnh hổ và chó điên: Đọc và ngẫm, hầu hết chúng ta sẽ có "thu hoạch"!

Một con hổ dũng mãnh đã làm gì khi gặp một con chó điên? Cách mà nó chọn trong câu chuyện dưới đây thực sự đã gợi mở cho chúng ta rất nhiều.

Một con hổ nhìn thấy một con chó điên, nó vội vã tránh ra thật xa. Hổ con nói với bố: "Bố ơi, bố dám đấu với sư tử, dám tranh hùng với báo săn, vậy mà lại phải tránh một con chó điên, thật mất mặt quá!"
Hổ bố hỏi: "Theo con, đánh bại một con chó điên có vinh quang không?"
Hổ con lắc đầu.
"Để con chó điên cắn phải một nhát, có đen đủi không?"
Hổ con gật gật đầu.
"Đã như vậy, chúng ta việc gì phải động chạm đến một con chó điên? – Không phải người nào cũng có thể coi làm đối thủ của con, không nên tranh biện với những người không có tố chất, cứ mỉm cười một cái rồi tránh thật xa, đừng để họ cắn được con.
Điều này nhất định con phải nhìn cho thấu đáo, bởi lẽ trong thực tế cuộc sống này, vẫn có rất nhiều người đang đấu với chó điên mà không ý thức được vấn đề."

Tản mạn những câu chuyện điển hình
Vào một ngày hè của năm 2014, tại Đan Mạch xảy ra một vụ án giết người. Người phụ nữ bị hại nhất định chưa từng nghe đến "Quy luật kẻ rác rưởi!" Khi người bình thường gặp phải những kẻ cặn bã, chớ dùng những cách bình thường để công kích hay phản ứng với họ. 
Hy vọng rằng những người lương thiện ghi nhớ thật kỹ điều này!
Đầu tháng 5/2015, việc một nam tài xế người Thành Đô, Trung Quốc đã ra tay đánh một nữ lái xe ngay trên đường phố vì người phụ nữ đột ngột thay đổi làn đường càng cho thấy mỗi chúng ta nên nhớ thật kỹ "Quy luật kẻ rác rưởi".
Trong vụ việc này, nữ lái xe đã không tuân thủ quy định giao thông, tùy tiện thay đổi làn đường, gây mất an toàn cho người khác, cô ta là một mẫu người "rác rưởi" điển hình.
Còn nam tài xế kia là một mẫu người nóng nảy, việc anh ta đánh phụ nữ giữa phố cũng đã khiến anh ta tự biến mình thành một kẻ "rác rưởi".
Người phụ nữ đã phải trả giá theo cách bị người khác đánh, thậm chí còn bị phạt vì vi phạm quy định an toàn giao thông. Còn người đàn ông phải chịu trách nhiệm hình sự, phải chịu hình thức xử lý nặng hơn.
Một cặp tình nhân ăn tối trong nhà hàng. Cô bạn gái xinh đẹp bị gã đàn ông say rượu ở bàn bên cạnh trêu chọc. Cậu bạn trai thấy vậy nói, dù sao cũng ăn xong rồi, chúng ta đi đi.
Cô bạn gái vùng vằng: "Sao anh tồi thế, anh có còn là đàn ông không?"
Cậu bạn trai đáp lại, rằng mình không muốn đấu với kẻ lưu manh. Cô bạn gái bắt đầu nóng nảy, sau khi mắng xong bạn trai lại tiếp tục quay sang mắng đám đàn ông say rượu, kết quả là bị đám người đó vây lại đánh.
Cậu bạn trai bị đâm 3 nhát dao, tử vong tại bệnh viện. Trước khi chết, cậu hỏi bạn gái một câu: Bây giờ anh đã được coi là đàn ông chưa?
Trong xã hội hiện đại ngày nay, dường như đã không còn cái gọi là giới hạn đạo đức cơ bản. Bi kịch ập đến với con người ta chỉ sau một suy nghĩ thiếu chín chắn, thực sự rất đáng sợ.
Một người bạn của tôi đang lái xe đúng làn đường của mình. Đột nhiên một chiếc xe màu đen khởi động từ vị trí đỗ xe, xuất hiện ngay trước đầu xe của bạn tôi.
Anh vội phanh gấp, chiếc xe trượt đi một đoạn đường, chỉ cách vài cm nữa là 2 chiếc xe đã va chạm với nhau.
Người lái chiếc xe đen như nổi điên, nhảy xuống quát tháo chúng tôi. Nhưng anh bạn tôi chỉ cười, vẫy tay chào đối phương rồi đi.
Ý của tôi muốn nói ở đây là: Biểu hiện của bạn tôi rất lương thiện. Tôi hỏi anh: "Sao lúc nãy anh lại làm vậy? Suýt chút nữa người ta đã làm hỏng xe của anh, thậm chí có thể làm hại chúng ta."
Anh bạn tôi giải thích: "Không ít người cư xử như những ‘kẻ rác rưởi’, họ suốt ngày chạy đi chạy lại khắp nơi, trên người đầy rác rưởi, đầy khó chịu, bực dọc, đố kỵ, tính toán, thù hận, đầy ngạo mạn và phiến diện.
Họ tham lam không biết thỏa mãn, họ oán hận, so đo, chẳng nhìn thấy người hay thứ gì tốt đẹp xung quanh, ngu muội, vô tri, phiền não, có tâm lý muốn báo thù nhưng trong người chỉ có cảm giác thất vọng.
Và như thế, rác trong lòng mỗi lúc một nhiều thêm, buộc họ phải tìm chỗ để trút xuống.
Có những lúc, chúng ta gặp đúng phải người như thế và rác cứ thế bị đổ lên người chúng ta…

Cho nên, không cần phải để ý! Chỉ cần mỉm cười, vẫy tay, tránh xa họ ra và tiếp tục công việc của mình. Những con người thông minh và lương thiện, tuyệt đối đừng tiếp nhận rác từ họ để rồi sau đó lại mang rác đó trút lên người nhà, bạn bè, đồng nghiệp hay những người đi đường khác."

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

Bí mật phong thuỷ linh thiêng của Hồ Tây, ngay cả Cao Biền cũng không thể phá giải

Lời toà soạn: Các dân tộc Á Đông có một nền văn minh vô cùng xán lạn. Lịch sử Á Đông nói chung, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, rất hào hùng, tràn đầy khí chất. Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu của người Á Đông, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Việt Nam, Trung Hoa… gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay. 
Cách đây gần 200 năm, khi vãn cảnh Tây Hồ, nhà thơ Cao Bá Quát từng rung động trước cảnh sắc mỹ lệ của chốn “danh thắng đệ nhất kinh kỳ” ấy mà thốt lên rằng: Tây Hồ đích thực là nàng Tây Thi!
Quả thật, ai cũng biết Hồ Tây rất đẹp. Nhưng đằng sau cái long lanh sóng nước, đằng sau cái lãng đãng sương mờ ấy, Hồ Tây lại ẩn chứa biết bao điều bí ẩn lạ kỳ…
Phải nói rằng hiếm có nơi nào quy tụ nhiều truyền thuyết và thần thoại như ở Hồ Tây, mà mỗi truyền thuyết, mỗi thần thoại lại gắn liền với những địa danh trên hồ. Và nếu dạo một vòng quanh Hồ Tây, ta sẽ có cảm giác như dưới mỗi bước chân đi đều có một sự tích, một huyền thoại nào đó: Từ bến bắt thuồng luồng đến đảo cá vàng Kim Ngư; Từ cây muỗm Quán Trấn Vũ đến cây thị cổ thụ trước sân đình Quán La; Từ đầm Xác Cáo gắn liền với sự tích Lạc Long Quân diệt hồ ly tinh, cho đến đền Kim Ngưu giải thích cho câu chuyện Trâu Vàng dưới đáy hồ; Từ miếu thần Cẩu Nhi kể chuyện Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi trong thời điểm Lý Công Uẩn dời đô, được vua phong làm Phúc thần và cho lập miếu thờ, đến bảy cây gạo huyền thoại, tương truyền là do bà Lạc phi – vợ của Lạc Long Quân – trồng để ghi dấu bảy trứng nở bảy rồng bay khắp nước non.
Và tất nhiên, cũng không thể không nhắc đến rất nhiều đền, chùa, miếu, quán, là nơi thờ cúng các vị Phật – Đạo – Thần và danh nhân lịch sử, như Phủ Tây Hồ thờ Tiên chúa Liễu Hạnh; đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ – một trong bốn vị thần trấn giữ kinh thành Thăng Long; chùa Thiên Niên thờ bà chúa dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô – thứ phi của vua Lê Thánh Tông; hay chùa cổ Trấn Quốc – trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long dưới thời Lý, Trần.
Có ý kiến cho rằng, đứng trước Hồ Tây người ta luôn thấy choáng ngợp trước cái mênh mông và rộng lớn. Nhưng đó không chỉ là cái bao la của khoảng cách dài – rộng, mà còn là chiều sâu văn hóa và bề dày của hơn 4000 năm lịch sử nước nhà.
Vậy, yếu tố nào khiến Hồ Tây đặc biệt đến thế, khiến hồn thiêng núi sông ngàn năm có thể lắng đọng lại nơi này?

Thăng Long – Tinh hoa của đất Việt

Khoảng 1200 năm trước, tướng Cao Biền nhà Đường sang nước ta làm An Nam tiết độ sứ. Vốn là bậc thầy phong thủy, Cao Biền đã phát hiện một mạch đất cực lớn thuộc loại “đại cán long” xuất phát từ núi Côn Lôn bên Trung Quốc, chạy đến Việt Nam chia làm ba chi lớn, trong đó có hàng chục ngôi đất xuất sinh thiên tử và hàng nghìn ngôi đất lớn nhỏ sẽ sinh ra các bậc anh tài. Bởi vậy, có thể nói vùng đất Giao Chỉ có linh khí đặc biệt, là nơi địa linh nhân kiệt, có thể sản sinh ra những bậc hiền tài.
Truyền thuyết dân gian kể rằng, Cao Biền đã đi khắp nơi để tầm long điểm huyệt, ông không ngờ trên dải đất phương nam nhỏ bé kia lại có nhiều điểm huyệt quý giá đến vậy. Thậm chí, ông đã ghi chép lại toàn bộ những địa điểm được cho là long mạch của Giao Chỉ và tổng hợp thành cuốn “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” trình lên vua Đường. Cho đến nay, người đời vẫn truyền tụng nhiều câu chuyện về việc Cao Biền trấn yểm long mạch, từng chạm trán Tản Viên Sơn Thần ở Ba Vì, hay gặp thần Long Đỗ trong giấc mộng ở thành Đại La.
“Đệ nhất đại huyết mạch, đế vương quý địa”
Sách “Lĩnh Nam Chích Quái” có câu chuyện kể về thuật phong thuỷ của Cao Biền, nhưng cả “Đại Việt sử ký toàn thư” và rất nhiều sách chính sử khác đều né tránh điều này. Nói cách khác, chính sử có xu hướng loại bỏ những yếu tố thần bí và tâm linh, trong khi các yếu tố huyền sử chỉ được tìm thấy trong truyền thuyết dân gian.
Tương truyền, Cao Biền sớm nhận thấy vùng đất mà về sau là kinh thành Thăng Long có vượng khí cực thịnh, nên gọi đây là nơi “đệ nhất đại huyết mạch, đế vương quý địa”, đáng chú ý là:
·         Giao châu hữu chi địa, thăng long thành tối hùng
(Giao Châu có một ngôi đất, thế rồng bay cực kỳ hùng mạnh)
·         Tam hồng dẫn hậu mạch, song ngư trĩ tiền phương
(Ba sông lớn dẫn mạch phía sau, hai con cá dẫn đường phía trước)
·         Tản Lĩnh trấn Kiền vị, đảo sơn đương Cấn cung
(Núi Tản Lĩnh trấn tại phương Kiền, núi Tam Đảo giữ tại cung Cấn)
·         Thiên phong hồi Bạch Hổ, vạn thủy nhiễu Thanh Long
(Nghìn núi quay về thành Bạch Hổ, muôn dòng uốn quanh tạo Thanh Long)
·         Ngoại thế cực trường viễn, nội thế tối sung dong
(Thế bên ngoài rộng dài, thế bên trong mạnh mẽ)
·         Chúng sơn giai củng hướng, vạn thủy tận chiều tông
(Mọi núi non đều quy phục, các dòng nước về chầu)
·         Vị cư cửu trùng nội, ức niên bảo tộ long
(Là nơi đế vương ở, bền vững chục vạn năm)
Cao Biền cũng sớm nhận ra vị trí trọng yếu của Hồ Tây. Nếu coi Thăng Long là long mạch vượng khí cực thịnh thì Hồ Tây chính là cái rốn trung tâm của long mạch ấy. Sử sách cũ có chép rằng, Cao Biền sang nước Việt đã trấn yểm nhiều long mạch nhưng chỉ Hồ Tây là không thể đụng chạm tới. Sách “Tây Hồ chí” chép: “Cao Biền sang phá những thắng địa của nước Nam ta, đến Hồ Tây thì thấy kiểu đất Phượng Hoàng ẩm thủy liền tâu sớ về triều. Lại xuống Sơn Nam, khai thông làm đứt long mạch, có thần núi hoá trâu vàng chạy ẩn vào hồ“. Như thế đủ thấy dù nhận ra vị trí đắc địa, huyệt mạch của Hồ Tây nhưng bậc thầy phong thuỷ Cao Biền cũng không cách nào phá giải được.
Long chầu hổ phục, sông tụ núi chầu
Quả thật, không ngẫu nhiên mà Thăng Long được gọi là nơi có thế đất “long chầu – hổ phục”, là nơi “sông tụ – núi chầu”. Hơn 1000 năm trước, khi Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội), vua đã viết trong “Chiếu dời đô” rằng:
“Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước (…) Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.”
Bởi vậy mà kể từ khi Lý Thái Tổ chọn Đại La làm kinh đô và đặt tên là Thăng Long, nước ta từ một quốc gia bé nhỏ mất quyền tự chủ gần 10 thế kỷ, đã vươn mình mạnh mẽ, thiết lập được nền thịnh trị lâu dài, không những thế còn nhiều lần đánh bại những đội quân phương Bắc hùng mạnh của các triều đại phong kiến Trung Hoa.
Điều ấy cũng được thể hiện trong hai câu đối trên cổng chùa Quán Thánh:
“Hữu quốc gia dĩ lai, vượng khí kinh kim tồn nhạc độc 
Trung thiên địa nhị lập, thần quang cái cổ trấn quy xà”
(Từ khi có quốc gia đến nay, vượng khí vẫn tồn giữ nguyên vẹn khắp sông núi,
Đứng trong trời đất, Thần quang trấn áp được các loài ác quái hơn cả khi xưa)
Điểm sáng “Mắt Rồng”
Và nếu nhìn xa hơn nữa, ta sẽ thấy cái đắc địa của thế đất, thế sông đều tụ họp ở nơi kinh kỳ này.
Đất nước Việt Nam cong cong hình chữ S giống như một con rồng uốn lượn. Trên “đỉnh đầu” là vùng núi phía Bắc với những dãy núi cao hiểm trở. Phần “mặt rồng” đất đai bằng phẳng với mạng lưới sông ngòi chằng chịt, được gọi là đồng bằng Bắc Bộ. Chạy dọc theo “thân rồng”, kéo dài từ phía Bắc tới cực nam Trung Bộ là những dãy núi trùng điệp, sát cạnh đó là dải duyên hải miền Trung dài và hẹp. Cuối cùng là “bụng” và “đuôi rồng”, chính là miền Nam Bộ, là đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, đất đai màu mỡ phì nhiêu, hoa trái hai mùa tươi tốt.
Và ở đây ta bắt gặp một sự tương đồng, sự tương đồng đến lạ kỳ khi đặt tấm bản đồ Việt Nam bên cạnh “Nội kinh đồ” – bức đồ hình cổ xưa và bí ẩn trong Đạo gia.

Hình phải: Bản đồ địa hình Việt Nam ; Hình trái: “Nội kinh đồ”. Mô tả sơ lược về Nội kinh đồ hình: Trên đỉnh đầu là núi non trùng điệp; Sau đó chạy dọc theo xương sống với các dãy núi đồi và rừng cây; Cuối cùng xuống vùng bụng và đan điền, tương ứng với mảnh đất canh tác màu mỡ, phì nhiêu.
Vì sao lại có sự tương đồng kỳ lạ đến thế? “Nội kinh đồ” (內經圖) không phải là bản đồ quốc gia, cũng không phải là mô tả địa lý của bất kỳ vùng đất nào. Thực chất, đây là bức đồ hình về dưỡng sinh và tu luyện thân thể người, trong đó ẩn chứa các bí mật về tu tiên, luyện đạo, cũng như các đường kinh mạch và huyệt vị. Người nào giải mã được “Nội kinh đồ” sẽ có thể tu hành đắc đạo, đạt được trường sinh, do đó đây còn được gọi là “duyên thọ tiên đồ”. Điểm đặc biệt của “Nội kinh đồ” là các đường kinh mạch và huyệt vị, cũng như các nội tạng chủ chốt trong cơ thể được thể hiện trên một bức tranh sơn thủy, có hồ có núi, có con người, có lâu đài đền quách, có ruộng nương, v.v., giống hệt như tấm bản đồ địa lý hoàn chỉnh.
Tất nhiên, tác giả của “Nội kinh đồ” không hề có ý mô tả Việt Nam trong bức đồ hình. Nhưng từ sự trùng hợp lạ kỳ đó, thì xét từ góc độ phong thủy, ta sẽ thấy địa hình Việt Nam cũng giống như một cơ thể hoàn chỉnh, được tạo hoá hữu ý sắp đặt một cách thần kỳ. Chẳng thế mà cổ nhân vẫn thường nói: đây là vùng đất địa linh nhân kiệt, văn hiến ngàn đời.
Vậy thì, nếu đối chiếu theo “Nội kinh đồ”, kinh thành Thăng Long đứng ở vị trí nào? Chính là Mắt Rồng – vị trí được minh họa giống như mặt trời đỏ rực trên đồ hình. Trong nguyên tác tiếng Hán, vị trí này được mô tả là “昇法之源 (thăng pháp chi nguyên), tạm hiểu là ‘cái gốc để pháp thăng cao’.

Hồ Tây – Tinh hoa của Thăng Long

Tất cả những điều trên nói với chúng ta rằng, Thăng Long là vùng đất linh thiêng, vùng đất thần thánh, là điểm sáng tâm linh, cũng là tinh hoa của nước Việt.
Vậy còn Tây Hồ? Hồ Tây nằm giữa đất kinh kỳ, cũng có thể coi là trung tâm của cố đô xưa. Khi xây thành Đại La (về sau là thành Thăng Long), Cao Biền đã gọi Hồ Tây là “não thủy”, ý nói rằng đây là nơi yếu huyệt của kinh thành. Trong sách ‘Tây Hồ chí’ cũng viết: “Thăng Long là thắng địa của phương Bắc, mà Tây Hồ là một thắng cảnh của đất Thăng Long” – điều ấy nói nên rằng, nếu như Thăng Long là tinh hoa của đất Việt, thì Hồ Tây lại là nơi tinh hoa trong cái tinh hoa ấy.
Trải qua hàng ngàn năm, chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, Hồ Tây vẫn mãi là một địa danh linh thiêng với nhiều truyền thuyết thần kỳ. Tất cả những sự tích bên lề giống như chuỗi “vành đai tâm linh” ôm lấy hồ Tây. Nếu ví Hồ Tây là nhụy hoa thì những Trấn Quốc, Tĩnh Lâu, Thiên Niên, Tảo Sách, Kim Liên… lại tựa như cánh sen bao bọc lấy đài nhụy thuần khiết… Ở mỗi nơi tôn kính ấy là kho tàng câu chuyện về cõi tâm linh, là câu chuyện hư mà thật, thật mà hư bên màn sương mờ ảo Hồ Tây.

Hồng Liên