Thứ Tư, ngày 23 tháng 11 năm 2016

Trithucvn.net - 9 câu ngụy biện điển hình của người Việt

Có một thói quen rất nguy hiểm mà người Việt thường xuyên sử dụng trong giao tiếp, đó là thói quen ngụy biện. Thói quen này đã lây nhiễm một cách vô hình từ giao tiếp thường nhật, từ tâm lý thắng thua khi tranh cãi, và nhất là trong cộng đồng cư dân mạng…

Ngụy biện hay Fallacy là khái niệm để chỉ những cách lập luận tưởng chừng là đúng, nhưng thực chất lại là sai lầm và phi logic trong tranh luận. Ngụy biện có thể biến một vấn đề từ sai thành đúng, và từ đúng trở thành sai. Ngụy biện có thể dẫn đến những cái nhìn sai lệch và tư duy sai lầm mà chính bản thân người nói cũng không nhận ra được.
Những ai đã có kiến thức về ngụy biện đều hiểu một điều đáng buồn rằng: Người Việt rất hay ngụy biện và tư duy ngụy biện! Chúng ta đều biết hai chữ “ngụy biện”, nhưng liệu chúng ta có thật sự hiểu về nó? Bạn có tin rằng tại Việt Nam, ngụy biện đã cướp đi mạng sống của con người?


Ngụy biện như một thứ mặt nạ xấu xí khiến người ta tư duy lệch lạc mà không hay biết (Ảnh minh họa: Qua wixsite.com)
Trên thế giới, ngụy biện đã trở thành một kiến thức được biết đến rộng rãi, và các nhà nghiên cứu đã thống kê khoảng trên dưới 100 loại ngụy biện khác nhau. Đáng tiếc là tài liệu về ngụy biện tiếng Việt chỉ có một vài nguồn, đó là trang GS Nguyễn Văn Tuấn, trang Thư viện khoa học, hay trang “Ngụy biện – Fallacy” của TS. Phan Hữu Trọng Hiền.
Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt đã được nêu ra tại các nguồn tài liệu trên:

1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”
Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

2. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”
Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

3. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”
Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”“Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.
4. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”
Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?
5. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”
Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.
6. “Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước”
Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả. Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?

7. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”
Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?
8. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”
Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.
9. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc”
Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.
Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?
Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.
Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.

Quang Minh tổng hợp

Thứ Ba, ngày 22 tháng 11 năm 2016

Luật khoa tạp chí - Tóm lại, đại cử tri là cái chi chi? Tại sao Trump ít phiếu phổ thông hơn lại thắng?

Nhiều người Việt Nam đặt ra câu hỏi: tóm lại, cử tri Mỹ hay đại cử tri mới là người bầu ra tổng thống? Câu trả lời chính xác nhất là: cả hai.
o    Quỳnh Vi – Hữu Long
o    Thông thường, có hai cách để bầu ra Tổng thống:
o    (i) Trực tiếp: toàn bộ cử tri đi bầu, ai nhiều phiếu phổ thông hơn thì thắng. Mô hình này gọi là dân chủ trực tiếp.
o    (ii) Gián tiếp: toàn bộ cử tri đi bầu đại biểu Quốc hội, rồi đến lượt mình đại biểu Quốc hội bầu ra tổng thống. Mô hình này gọi là dân chủ đại diện.
o    Mỹ chẳng theo mô hình nào trong hai mô hình trên. Trên thực tế, mô hình của họ là rất hiếm thấy, nếu không muốn nói là có một không hai. Hãy xem quy trình bầu cử của họ trước:
1. Mỗi bang được phân bổ một số phiếu đại cử tri nhất định và khác nhau. Có tổng cộng 538 đại cử tri, cần quá bán (tức tối thiểu 270 phiếu) là thắng.
2. Các đảng giới thiệu người ra ứng cử tổng thống ở tất cả các bang. Ví dụ đảng Cộng hoà cử ông Donald Trump. Cá nhân cũng có thể ứng cử.
3. Các đảng/cá nhân ứng cử nộp cho chính quyền bang danh sách đại cử tri đúng bằng số đại cử tri của bang. Ví dụ bang Florida có 29 phiếu đại cử tri thì đảng Cộng hoà sẽ lên danh sách 29 người, nộp cho bang. Đảng Dân chủ cũng làm như vậy. Mỗi đảng/cá nhân ứng cử sẽ lên những danh sách khác nhau, nộp riêng. Các đại cử tri này là người thật, việc thật, chứ không phải con số ảo như nhiều người tưởng.
4. Cử tri toàn liên bang đi bầu. Họ không đi bầu cho đại cử tri, mà bầu trực tiếp cho ứng viên họ thích. Hãy xem lá phiếu cử tri trong hình này.

5. Ứng viên nào giành được đa số phiếu phổ thông ở bang nào thì sẽ “ăn” tất cả phiếu đại cử tri của bang đó (trừ bang Miane và Nebreska có cơ chế riêng). Ví dụ, nếu ông Trump giành được đa số phiếu phổ thông ở Florida, thì toàn bộ 29 đại cử tri mà đảng Cộng hoà đã lên danh sách trước đó, sẽ bỏ phiếu cho ông Trump trong hội nghị đại cử tri vào tháng 12. Lúc này, khi có đủ 270 phiếu đại cử tri, ông Trump mới chính thức trở thành Tổng thống Mỹ.
Để hiểu được cơ chế bầu cử có một không hai này của nước Mỹ, chúng ta cần hiểu mấy điều sau:
Vì sao Đại cử tri ra đời?
Lý do rất đơn giản: các nhà lập quốc Mỹ không tin vào mô hình dân chủ trực tiếp, vì chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về số đông, và đa số cử tri không phải khi nào cũng đưa ra được quyết định đúng đắn. Sự độc tài của số đông (the tyranny of the majority) là thứ họ muốn tránh.
Do đó, họ muốn trao quyền quyết định chiếc ghế tổng thống cho một nhóm người được lựa chọn, với niềm tin rằng những người này sẽ đưa ra quyết định sáng suốt hơn là số đông dân chúng, vốn dễ bị cảm xúc và tâm lý đám đông chi phối.
Tóm lại, họ chọn mô hình bầu cử gián tiếp. Nhưng mô hình bầu cử gián tiếp của họ cũng chẳng giống ai.
Năm 1787, khi thảo luận về bản dự thảo Hiến pháp, các nhà lập quốc ban đầu muốn để cho Quốc hội bầu Tổng thống. Tuy nhiên, họ lo ngại khả năng tổng thống được bầu bởi những nhóm lợi ích gồm các dân biểu thường xuyên gặp nhau, thân quen với nhau ở thủ đô. Bên cạnh đó, sự độc lập của Tổng thống so với Quốc hội cũng bị đặt dấu hỏi.
Do đó, họ đồng ý với nhau lập ra chế độ đại cử tri. Mỗi bang được phân bổ một số đại cử tri bằng với số hạ nghị sĩ (dân biểu) và thượng nghị sĩ (mỗi bang 2 người) cộng lại. Việc lựa chọn các đại cử tri này như thế nào thì tuỳ mỗi bang quyết định.
Các đại cử tri từ tất cả các bang chỉ gặp nhau một lần để bầu tổng thống rồi giải tán luôn. Điều này giải quyết được nỗi lo sợ của các nhà lập hiến như đã nói bên trên.
Khởi thuỷ, các đại cử tri muốn bầu cho ai thì bầu, không cần biết đa số cử tri bầu cho ai. Sau này, các bang ràng buộc đại cử tri bằng luật, theo đó, đại cử tri phải bầu theo ý chí của đa số cử tri. Hiện có 24/50 bang có luật như vậy. Các bang khác không có luật ràng buộc nhưng tập quán chính trị buộc họ phải làm như vậy.
Lưu ý: nếu đại cử tri bầu trái ý đa số cử tri thì phiếu của họ vẫn được tính. Có xử phạt họ hay không là việc của tiểu bang, liên bang không liên quan gì nên vẫn kiểm phiếu và công bố kết quả như thường. Tuy nhiên, việc bầu trái ý này rất hiếm khi xảy ra và chưa bao giờ ảnh hưởng tới kết quả chung cuộc.
Tại sao số đại cử tri mỗi bang lại phải bằng số dân biểu và thượng nghị sĩ bang đó cộng lại?
Để hiểu được điều này, ta cần tìm hiểu về cách tính số dân biểu và thượng nghị sĩ trước.
Tưởng tượng Mỹ là một công ty cổ phần, các bang là cổ đông, dân số mỗi bang là vốn góp của mỗi cổ đông.
Như vậy, bang nào góp nhiều dân vào liên bang hơn thì được nhiều phiếu hơn. Đây chính là cách hình thành Hạ viện. Số dân biểu mỗi bang được chia theo tỉ lệ dân cư. Mỗi dân biểu đại diện cho một khu vực cử tri có số dân tương đối bằng nhau trên toàn liên bang. Bang nào nhiều dân hơn thì số dân biểu cao hơn. Cái này giống cách phân chia số đại biểu Quốc hội về các tỉnh thành ở Việt Nam. Hiện nay, Hạ viện Mỹ có 435 dân biểu.
Nhưng nếu chỉ như vậy thôi thì có thể xuất hiện hiện tượng cổ đông lớn chèn ép cổ đông nhỏ, bang lớn ăn hiếp bang bé. Các bang bé vì thế không có lý do gì để gia nhập liên bang, thà tách ra làm quốc gia riêng còn hơn.
Do đó, họ thoả hiệp với nhau và sinh ra Thượng viện. Bất kể đông dân hay ít dân, bang nào cũng có 2 ghế như nhau. Thượng viện Mỹ có 100 thượng nghị sĩ, đại diện cho 50 tiểu bang. Các dự luật phải thông qua cả hai viện mới có thể được ban hành (dĩ nhiên tổng thống phải phê chuẩn thì mới có hiệu lực).
Nhờ cơ chế này, các bang nhỏ ít bị “ăn hiếp” hơn, các bang lớn bớt “hung hãn” hơn.
Bên cạnh đó, lại một lần nữa, các nhà lập hiến Mỹ lo sợ sự độc tài của số đông. Trong trường hợp cụ thể này, họ không muốn trao toàn quyền lập pháp cho Hạ viện, vốn luôn bị số đông (đa số) cử tri chi phối. Họ muốn các dự luật của Hạ viện phải được Thượng viện thông qua. Mà Thượng viện thì ít bị đám đông chi phối hơn, vì nhiệm kỳ của họ tới 6 năm, trong khi nhiệm kỳ của thành viên Hạ viện chỉ là 2 năm.
Như vậy, Hạ viện đại diện cho dân cư, Thượng viện đại diện cho các bang. Đây cũng chính là nguyên tắc nền tảng hình thành nên Hiến pháp Mỹ: chính quyền phải là đại diện của cả dân chúng (population-based) và các bang (state-based).
Các nhà lập hiến muốn tổng thống cũng được bầu dựa trên nguyên tắc này. Do đó, họ sinh ra cách tính số đại cử tri mỗi bang bằng số dân biểu và số thượng nghị sĩ của bang đó cộng lại. Riêng thủ đô Washington D.C được 3 đại cử tri dù không có đại diện có quyền bỏ phiếu ở Quốc hội.
Nếu tính theo số dân biểu thì bang Alaska chỉ được 1 phiếu đại cử tri, nhưng cộng thêm số thượng nghị sĩ thì bang này có thêm 2 phiếu. Tiếng nói của họ do đó có giá trị hơn gấp 3 lần.
Trong khi đó, bang California có 53 dân biểu, nếu tính thêm 2 thượng nghị sĩ nữa thì cũng chỉ lên được 55 phiếu đại cử tri, không khác biệt là bao. Cơ chế này do đó khiến cho các ứng viên tổng thống chú ý hơn tới các bang nhỏ, thay vì chỉ tập trung vào các bang lớn, đông dân.
Xin hết sức lưu ý: các đại cử tri không phải là các dân biểu và thượng nghị sĩ. Họ là những người khác nhau. Khi cử tri đi bầu tổng thống thì song song với đó cũng bầu dân biểu và thượng nghị sĩ luôn, vì bầu cử tổng thống và bầu cử quốc hội được tổ chức đồng thời.
Vậy tại sao Hillary Clinton nhiều phiếu phổ thông hơn mà lại ít phiếu đại cử tri hơn Donald Trump? 
Lý do rất đơn giản: nguyên tắc “được ăn cả, ngã về không” (winner-take-all).
Theo đó, tại 48/50 bang của Mỹ, ứng viên nào giành được đa số phiếu phổ thông thì “ăn” toàn bộ phiếu đại cử tri. Trong hầu hết các trường hợp, người nhiều phiếu đại cử tri hơn cũng là người nhiều phiếu phổ thông hơn. Nhưng lịch sử Mỹ đã chứng kiến 5 lần mà người trúng cử Tổng thống lại có ít phiếu phổ thông hơn.
Để lý giải điều này, ta hãy nhìn vào mô hình giản lược sau, được điều chỉnh từ mô hình tương tự của Facebooker Tien Nguyen:
Hiện tượng lý thú này sẽ không xảy ra nếu phiếu đại cử tri được chia theo tỉ lệ phiếu phổ thông, ai được bao nhiêu phiếu phổ thông thì được tương ứng với chừng ấy phiếu đại cử tri. Nguyên tắc “được ăn cả” này khiến cho tương quan giữa các chỉ số thay đổi.
Bên cạnh đó, việc mỗi bang được “cho không” hai phiếu đại cử tri tương đương với số thượng nghị sĩ khiến cho bài toán phiếu đại cử tri – phiếu phổ thông trở nên phức tạp hơn, và xác suất xảy ra hiện tượng thắng phiếu đại cử tri nhưng thua phiếu phổ thông cao hơn.
Lịch sử của nguyên tắc winner-take-all này cũng khá nhiêu khê. Hiến pháp Mỹ không ràng buộc chuyện này, nó là do các bang đặt ra. Ban đầu, các đại cử tri muốn bỏ phiếu cho ứng viên nào thì bỏ, không có ràng buộc gì. Do đó, số phiếu đại cử tri của mỗi bang cũng phân tán cho nhiều ứng viên khác nhau.
Tuy nhiên, sau đó, một số bang muốn củng cố ảnh hưởng của mình, nhất là các bang nhỏ muốn các ứng viên quan tâm đến bang mình hơn, nên họ quyết định sẽ dồn phiếu cho một ứng viên thôi. Nhờ vậy, các bang này hấp dẫn các ứng viên tới vận động hơn.
Các bang khác không muốn mất ảnh hưởng, liền bắt chước theo mô hình winner-take-all này. Vậy là lần lượt các bang đều áp dụng cả, trừ hai bang đã kể.
Vậy cơ chế bầu cử tổng thống này có dân chủ không? Nước Mỹ đã chọn cơ chế đó. Hillary Clinton đã chọn chơi theo luật chơi đó và chấp nhận thua.
Còn bạn, bạn có thể tự đưa ra câu trả lời cho riêng mình.
Tài liệu tham khảo: 
o    The Reason for the Electoral College (Factcheck.org)

o    Wikipedia

Thứ Năm, ngày 17 tháng 11 năm 2016

Thiên ý thể hiện trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ

Các cuộc thăm dò trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ cho thấy bà Hillary Clinton chiếm ứu thế. Thế nhưng kết quả cuộc bầu cử thì ông donald trump thắng thế nhờ các phiếu đại cử tri, vậy nguyên nhân nằm ở đâu?

Ông Donald Trump, một ứng cử viên đầy tai tiếng cùng hình tượng không mấy tốt đẹp trong mắt dân chúng, lại vươn lên ngôi vị Tổng thống. Điều này đã khiến không ít chính khách, chuyên gia, giới truyền thông bất ngờ. Chuyện gì đã xảy ra?
Theo lời của không ít các kênh truyền thông trong và ngoài nước, trên con đường đắc cử của ông Trump đã xuất hiện không ít tình huống hiếm có. Ví như chi phí dùng cho việc tranh cử ít hơn bà Clinton rất nhiều; đã nói rất nhiều lời không nên theo nguyên tắc chính trị; không nhận được sự hoan nghênh của giai tầng cao cấp và giới truyền thông chủ lưu nước Mỹ, không được đảng phái hiện nay chào đón, thậm chí rất ít “nguyên lão” đảng phái hiện nay đứng ra ủng hộ. Từ khi bắt đầu tham gia tranh cử cho đến trước ngày tổng tuyển cử đều nhận được phản ứng không mấy tốt đẹp của đại đa số dân ý…
Tuy nhiên, ông Donald Trump trong tình huống như vậy, cuối cùng lại có thể trở thành Tổng thống Mỹ, dường như trong cõi huyền diệu đã có một bàn tay lớn đang kiểm soát tất cả. Và điều này đối với ông Donald Trump mà nói, nếu không phải là kỳ tích thì quả thực không biết phải giải thích thế nào!
Ông Donald Trump tiến vào Nhà Trắng, có thể nói đây không phải chỉ là dân ý, mà là hiển lộ rõ ràng của Thiên ý
Cuộc điều tra dân ý cho thấy, những người ủng hộ ông Trump đại đa số đều là những người da trắng thuộc giai tầng lao công tầng thấp trong đảng Cộng Hòa, những người này mạnh mẽ phản đối các loại hiệp định tự do kinh tế thương mại và gia tăng luật dự thảo di dân, đặc biệt là phản đối để cho những gia đình di dân phi pháp có được quyền cư trú. Nhiều người Mỹ đang phải đứng trước rất nhiều vấn đề xã hội ở Mỹ, cũng là lòng người đã đổi khác, họ bỏ phiếu cho ông Trump đi đến cục diện thắng lợi là điều cực kỳ quan trọng.
Tuy nhiên nếu như chỉ có dân ý ủng hộ ông Trump, thì vẫn không đủ để có được kết quả như vậy. Thử hỏi, nếu như không có sự sắp đặt của ông trời, thì ông Donald Trump làm sao có thể ngay trong tình huống nhiều tai tiếng bất lợi như vậy, trên chặng đường đã đánh bại 16 ứng cử vên của đảng Cộng Hòa giành được chính đảng, sau đó chiến thắng bà Hillary trước sự bất ngờ của mọi người?
Một vài điềm báo trước khi bỏ phiếu dường như đã nói rõ kết cục của cuộc bầu cử. Ở bang Florida, bà Hillary phát biểu chỉ được 7 phút đã bị cơn mưa lớn làm cho gián đoạn. Mấy phút sau, bà Hillary chỉ có thể tiến hành vận động qua điện thoại, hy vọng cử tri trẻ tuổi ủng hộ bà.
Ngoài ra, bà Janet Reno, nữ bộ trưởng tư pháp đầu tiên trong thời của Tổng thống Bill Clinton đã từng nói: “Trump sẽ mãi mãi sẽ không làm được Tổng thống trong những năm còn sống của tôi”. Kết quả, ngày 7/11, bà Reno đã qua đời vì bệnh tật, hưởng thọ 78 tuổi.
Chú khỉ Geda ở Trung Quốc, gấu bắc cực của Nga, một con cá ở Ấn Độ đều dự đoán Trump thắng cử, giống như con bạch tuộc của Đức đã dự đoán thắng lợi World Cup ngày trước, đây không chỉ vỏn vẹn là cung cấp đề tài nói chuyện sau bữa cơm trà cho mọi người thôi đâu, cần phải biết rằng, sự câu thông với giới tự nhiên của các loài động vật còn vượt xa hơn cả con người rất nhiều.
Như vậy, điều gì đã khiến cho ông Donald Trump có được sự ưu ái của Thiên thượng? Rất nhiều người tin vào Thần Phật đều cảm thấy buồn bực: Một Donald Trump bỡn cợt với đời, ăn nói thô tục, cách làm cực đoan, nhiều lần phá sản và ly hôn, còn liên quan đến lừa đảo và trốn thuế, hoàn toàn không phù hợp để Thượng đế tuyển chọn.
Có lẽ, điều chúng ta nhìn thấy chỉ là một vài điều vốn không hoàn mỹ của ông Trump, ông ấy có lẽ còn một mặt khác mà chúng ta không biết được, ví như ông coi trọng tình thân, giàu lòng yêu thương và trắc ẩn, vui vẻ giúp đỡ những người đang trong hoàn cảnh khó khăn, những phẩm chất đặc biệt như vậy có lẽ đã giúp ông hoàn thành sứ mệnh mà Thiên thượng giao phó cho mình.
Điểm khác biệt giữa ông Donald Trump và bà Hillary Clinton đối với vấn đề nhiều người quan tâm đó là Trung Quốc và việc bảo vệ đức tin rất khác nhau
Đài truyền hình Tân Đường Nhân tiếng Trung trước đó đã có buổi phỏng vấn đối với ông Shawn Steel, cựu chủ tịch đảng Cộng hoà bang California, và là Ủy viên Ủy ban Toàn quốc đảng Cộng hòa thuộc phe cánh ông Donald Trump và ông Gary Locke, cựu đại sứ Trung Quốc ở Hoa Kỳ, người ủng hộ bà Clinton, cũng đã cho thấy câu trả lời.
Trong buổi phỏng vấn, cả hai bên đều đã chỉ rõ ràng về vấn đề Pháp Luân Công vốn được xem là vấn đề nhạy cảm nhất trong mối quan hệ Trung – Mỹ, trong đó bao gồm cả vấn đề mổ cướp nội tạng các học viên Pháp Luân Công. Trong đó có hỏi nếu như bà Hillary hoặc ông Trump đắc cử, bà ấy hoặc ông ấy sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?
Ông Gary Locke trả lời: “Hillary sẽ tiếp tục khởi xướng và thúc đẩy nhân quyền, bao gồm tự do và khoan dung tôn giáo lớn hơn ở bên trong Trung Quốc”. Đảng Dân Chủ đã nắm quyền 8 năm rồi, lẽ nào đối diện với tội ác diệt chủng xưa nay chưa từng có trong lịch sử như vậy, sao không phải là lập tức ngăn chặn, mà vẫn là “tiếp tục khởi xướng và thúc đẩy”? nó không khác gì so với biểu hiện trước đó,
Trong lúc được hỏi về “Những văn kiện mà Vương Lập Quân mang theo phải chăng có liên quan với tội ác mổ cướp nội tạng?”, ông Gary Locke nói rằng: “Có lẽ tôi không thể nói, tôi sẽ không xác nhận văn kiện này có hay không”.
Bà Hillarry nếu như đắc cử, thì làm sao có thể giương cao giá trị phổ quát mà các đời Tổng thống Mỹ trước đó đã khởi xướng?
Còn ông Shawn Steel lại trả lời: “Tôi không thể nói với mọi người rằng Trump nhất định sẽ làm những gì, nhưng tôi có thể chắc chắn với mọi người rằng, trong nhóm của ông ấy có những người hiểu rất rõ những thông tin này.
Chúng tôi biết chuyện ĐCS Trung Quốc mổ cướp nội tạng đã diễn ra mấy chục năm nay rồi, đây chẳng qua chỉ là thủ đoạn cũ rích của ĐCSTQ, rất tàn ác. Đối với một đoàn thể tín ngưỡng ôn hòa, lại mượn cớ này kia để gia tăng bức hại, đây là tội ác chưa từng xuất hiện trong xã hội nhân loại. Tôi mong rằng, đây là việc đầu tiên mà ông Donald Trump sẽ phải làm khi tiếp kiến người lãnh đạo Trung Quốc, nếu như ông (lãnh đạo Trung Quốc) phản đối tự do tôn giáo, chúng tôi sẽ không hợp tác với ông nữa.
Tôi không thể đoán trước, nhưng đây là điều cần phải làm. Một chính phủ tham gia tội ác mổ cướp nội tạng và giết hại người vô tội, đây đúng là chuyện đáng ghê tởm và bất bình. Những người ủng hộ ông Obama và bà Clinton vốn không quan tâm, nhưng làm sao có thể không quan tâm được? Không phải bạn cũng là con người hay sao. Một khi chúng tôi nắm quyền, chúng tôi nhất định phải đề cập đến đề tài thảo luận này, và để cho càng nhiều người hơn nữa biết được điều này tệ hại như thế nào”.
Hai câu trả lời như vậy, những người có đức tin vào Thần Phật sẽ chọn ai đây? Trong lòng quả thật đã quá rõ ràng, và hẳn đây chính là nguyên nhân mà Thượng đế đã giúp đỡ ông Donald Trump. Sau khi ông Trump lên nắm quyền, liệu có cô phụ sứ mệnh mà Thiên thượng đã giao phó cho ông hay không, chúng ta hãy cùng chờ đợi xem.
Tác giả: Dương Ninh

Theo epochtimes.com, tinhhoa.net

Chủ Nhật, ngày 13 tháng 11 năm 2016

Donald Trump vừa làm “Cách mạng”!

Link : https://www.tindachieu.com/news/2016/11/donald-trump-vua-lam-cach-mang.html

Nước Mỹ sẽ tiếp tục là cường quốc hàng đầu? Những thay đổi hệ thống chính trị của ông Trump ảnh hưởng thế nào đến thế giới là câu hỏi còn mở vì tùy thuộc rất nhiều vào kết quả của những thay đổi tại Hoa Kỳ.
Trong thời gian tranh cử nhiều lần ông Trump tuyên bố ông không phải là một chính trị gia, cho đến khi ra tranh cử, chưa bao giờ ông tham gia vào hệ thống chính trị Hoa Kỳ.
Ông Trump là một tư bản địa ốc, khi thấy mảnh đất vàng Hoa Kỳ xây trên một hệ thống chính trị sụp đổ, thì việc của ông phải làm là phá hệ thống chính trị này để xây lên một hệ thống chính trị khác. Hành động của ông là hành động của một nhà cách mạng.
Ngày 8 tháng 11 vừa qua ông đã thực hiện được điều này khi nắm được đa số phiếu của cử tri đoàn trở thành tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ.
Quyền lực Tổng Thống vững chắc hơn khi đảng Cộng Hòa chiếm được lưỡng viện Quốc Hội và ông Trump được quyền bổ nhiệm một Thẩm Phán Tối cao Pháp viện mới thay cho ông Antonin Scalia vừa qua đời.
Rõ ràng đa số người Mỹ muốn có một sự thay đổi mạnh mẽ, họ tin vào con người của ông Trump và muốn giao cho ông trách nhiệm cách mạng này.
Thay đổi từ trong đảng Cộng hòa
Ông Trump được mọi người chú ý và thắng trong cuộc tranh cử nội bộ của Đảng Cộng Hòa nhờ phương cách đập phá hệ thống chính trị của Đảng Cộng Hòa.
Ông cho biết ông cũng từng thờ ơ với việc tham gia chính trị chỉ biết đóng tiền cho các chính trị gia nhưng họ chẳng làm nên trò trống gì nên bây giờ ông mới phải tham gia chính trị.
Ông không cần Uỷ ban Quốc gia đảng Cộng hoà vận động gây quỹ và điều hành các chiến dịch tranh cử. Ông có tiền và có cách vận động riêng của ông.
Ông không cần truyền thông báo chí quảng cáo. Bằng cách riêng ông thể hiện rõ một người trực tính ăn ngay nói thẳng không như cách đóng kịch quảng cáo lừa dối của những chính trị gia chuyên nghiệp.
Trong khi ông thẳng tay công kích các chính trị gia thì ngược lại ông tỏ rõ thái độ lắng nghe và hiểu rõ ý nguyện những người dân lao động, đặc biệt là những người lao động gốc da trắng. Ông sẵn sàng vì họ hành động, nói và làm theo ý nguyện của họ. Nhờ đó ông loại được 16 ứng viên đảng Cộng hòa, đều là những chính trị gia chuyên nghiệp như các Thượng Nghị sĩ Marco Rubio, Ted Cruz, các Thống đốc Jeb Bush, Chris Christie, Rick Perry…
Đương nhiên cách chơi “phi chính thống” của ông gây lo sợ cho hầu hết các chính trị gia đảng Cộng hòa và nhiều người đã công khai phản đối ông. Chiến thắng vừa qua đã xóa đi phần nào những bất đồng nội bộ đảng Cộng hòa do ông gây ra.
Đối đầu cùng bà Hillary Clinton và đảng Dân Chủ
Ông Trump lại tiếp tục đối đầu với bà Hillary Clinton một chính trị gia lão luyện, một người từ lâu đã vận động để trở thành nữ Tổng Thống Hoa Kỳ đầu tiên.
Bà Hillary Clinton từng là đệ nhất phu nhân tiểu bang Arkansas khi ông Bill Clinton làm thống đốc từ 1979-92, đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ khi ông Bill Clinton làm Tổng thống 1993-2001, là Nghị sỹ đại diện cho tiểu bang New York 2001-09, là Ngoại Trưởng 2009-13 có quyền lực chỉ sau tổng thống Hoa Kỳ Obama.
Nhìn chung Bà Hillary Clinton là một chính trị thuộc loại kình ngư ông Trump không có gì để so sánh. Nhưng ông lại là một nhà cách mạng đang tiến hành đập phá hệ thống chính trị mà bà Clinton là người có không ít kẽ hở để ông tấn công.
Bà Clinton nắm khá rõ chiến lược và chiến thuật tranh cử của ông Trump, nên sử dụng sở trường ngoại giao nhằm chinh phục cử tri, nhưng vẫn không thể thoát khỏi gọng kìm công kích của ông Trump.
Có lúc bà phải tuyên bố ngừng đối đầu với ông, dành thời giờ đưa ra những chính sách mà bà muốn quảng bá đến dân chúng.
Lên đến 70 phần trăm thời gian tranh cãi ông Trump đã chủ động sử dụng chiến thuật đập phá. Đương nhiên ông cũng chịu đánh trả để phơi bày cho công chúng con người rất thật của ông.
Việc Tổng Thống Obama công khai đỡ đầu cho bà Clinton dường như không mang lại một kết quả như ý muốn. Di sản ông Obama để lại từ việc nội trị cho đến việc ngoại giao được ông Trump tận tình khai thác.
Bà Clinton vừa mang hình ảnh tiếp nối di sản của Obama, vừa không có thời gian để đưa ra những chính sách riêng của mình, vừa theo lề lối chính trị kiểu cũ thường chỉ thuyết phục được thành phần có học, và thất bại trong việc quảng bá cho chính sách riêng của bà.
Ngược lại tại thành phố Gettysburg tiểu bang Pennsylvania ngày 22/10/2016, ông Trump thông báo kế hoạch phải làm trong 100 ngày đầu nếu ông đắc cử tổng thống.
Bản thông báo ngắn gọn dễ hiểu khả thi và bao trùm mọi vấn đề từ việc làm sạch tham nhũng và lũng đoạn của nhóm đặc quyền ở thủ đô Washington DC, việc bảo vệ người lao động ở Mỹ, đến việc khôi phục an ninh và nền pháp trị theo Hiến Pháp.
Chiến thắng của ông Trump cho thấy ông hoàn toàn chủ động cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc. Ông đã cầm quyền và người dân đã giao cho ông các quyền mà mọi Tổng Thống Hoa Kỳ đều mơ ước là nắm được Lưỡng Viện Quốc Hội. Còn việc xây dựng lại một hệ thống chính trị đã tồn tại trên 200 năm là một điều không phải dễ và sẽ là công việc của ông trong 4 hay 8 năm tới.
Đối với thế giới
Trong bài diễn văn mừng chiến thắng ông Trump nhấn mạnh:
“Tôi muốn nói với cộng đồng thế giới rằng trong khi chúng ta sẽ luôn đặt lợi ích của nước Mỹ trước tiên, chúng ta sẽ đối xử công bằng với tất cả mọi người, với tất cả mọi người, tất cả mọi người ở tất cả các quốc gia. Chúng ta sẽ tìm một tiếng nói chung, chứ không phải lòng hận thù, sự hợp tác chứ không phải xung đột.”
Lâu nay nhiều nước vẫn xem Mỹ như một cường quốc có bổn phận phải trợ giúp các quốc gia nhỏ hơn. Để giữ vai trò nước lớn các chính phủ Mỹ trước đây đã thực sự hy sinh quyền lợi người Mỹ.
Ông Trump nhấn mạnh cần đối xử công bằng cho người Mỹ cũng như mọi người ở tất cả các quốc gia, đây sẽ là chìa khóa cho chính sách đối ngoại của chính phủ Trump trong những ngày sắp tới.
Nước Mỹ sẽ tiếp tục là cường quốc hàng đầu? cuộc cách mạng hệ thống chính trị của ông Trump ảnh hưởng thế nào đến thế giới là câu hỏi còn mở vì tùy thuộc rất nhiều vào kết quả của những thay đổi tại Hoa Kỳ.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi, 10/11/2016

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 10 năm 2016

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.
Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó - vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long).
Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.
Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài" (Thực lục I, tr.531).
Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” và kết thúc bằng câu “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân” (Thực lục I, tr.532,533).
Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyễn Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem “giã nát rồi vất đi”.
Phẩm bình của lịch sử
Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết: “Vậy mà Nã Phá Luân [Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm; còn Quang Trung: mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’”.
Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc: “Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc” (tr.240).
Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao:
Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.
Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.
Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã. Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, vùng An Khê.
Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.
Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.
Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc. Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?
Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam. Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.
Trăm năm bia đá thời mòn/ Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết. Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65)
Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra.
Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại).
Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hồ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong.
Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.
Câu hỏi đặt ra
Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.
Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4)[1] .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời” (Thực lục I, tr.508).
Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).
Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…).
Khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh:
“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về" (Thực lục I,tr.445).
Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẽ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544).
Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt, chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?
Sự thật là đây
Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445).
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.
Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” * (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ: thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẽ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.
* “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời” (Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532).
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng.
Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn? Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):
“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.
Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy.
Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên.
Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho” (Thực lục I, tr.466).
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:
- Thứ nhất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông. Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.
Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);
4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);
Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tính sổ.
Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!
- Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:
“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người)" (tr.193).
Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.
Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay).
Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.
Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác. Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.
Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.
Một vài cảm nghĩ
Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.
1/ Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen.
Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.
2/ Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?
Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam, biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời.
Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.
“Chiêu hồn nạp táng" là gì?
“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”. Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.
Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành.
Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân. Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.
3/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời”.
Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên.
Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sử dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.
Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bỉ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).
Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao: Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau.
Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!
Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?
Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.
Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).
Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.
Chú thích:
(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính Dần) vua mới chính thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.
(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 trong http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up
(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo “Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” được phóng viên ghi nhận là “một hội thảo lịch sử”, có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận:
“Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.
“Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa”
(http://www.thethaovanhoa.vn/133N20081020034945468T0/danh-gia-lai-chua-nguyen-va-vuong-trieu-nguyen-mot-hoi-thao-lich-su.htm
(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thoát ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).

Nguồn: Nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An(Khamphahue.com.vn)