Chuyển đến nội dung chính

Bùi Thanh Hiếu - Đàn em.

Link : http://nguoibuongio1972.blogspot.com/


Thỉnh thoảng những câu chuyện tôi viết lại mang bóng dáng của nhà tù. Một số bạn sẽ phát ngán về điều ấy. Nhưng sòng phẳng mà nói thì tôi viết cho mình, không phải là bắt ép các bạn phải đọc như những điều tôi viết.

 Nếu ai đã trải qua nhà tù, hay những năm tháng khó khăn dài. Bạn sẽ hiểu dù nó đã xa hàng chục năm, đôi khi bạn vẫn bị ám ảnh. Bạn đi trên đường nhìn một góc phố nào đó, tự nhiên bạn sẽ nhớ lại những ngày bạn xếp hàng giữa mùa đông chờ mua thứ gạo hôi rình, đầy sạn ở cửa hàng lương thực nhà nước ở góc phố đó. Bạn nhìn quán kem , nước dừa, chè đỗ đen nào đó, bạn sẽ nhớ lại cô bạn gái thời học trò ngay cả khi tóc bạn đã ngả màu muối tiêu.

Tuổi trẻ thường hay chán ngán khi nghe các cụ già động tí lại bảo ngày xưa thế này, ngày xưa thế kia....

Bây giờ ở tuổi trẻ đã qua, già chưa tới. Đôi khi tôi bần thần nghĩ đến chuyện của ngày xưa và chuyện của ngày nay, mọi thứ đan xen lẫn nhau.

Tôi ở trong trại tù, trong trại tù các phạm nhân thường kết hợp với nhau thành từng nhóm. Nhóm đó góp đồ ăn chung, bảo vệ nhau, giúp đỡ nhau. Nhóm như thế gọi là '' quẫy ''. Mỗi '' quẫy '' đều có một đàn anh cầm đầu, chỉ đạo việc trong '' quẫy''. Các '' quẫy '' va chạm với nhau thường xuyên, đâm chém, đánh lộn...Những lần như thế cán bộ phải dùng biện pháp giải tán '' quẫy ''  hay gọi là '' di cả quẫy ''. Nghĩa là phân tán các thành viên của '' quẫy '' đi các nơi khác nhau. Chuyển đi đội khác, nếu mâu thuẫn quá nặng nề có khi phải chuyển đi trại tù khác để cách biệt hẳn.

 Tôi ở một mình mặc dù nhiều '' quẫy '' rất muốn tôi ở cùng họ. Tôi tự bảo vệ được mình nên không cần đến anh em, nhiều khi có anh em ăn ở cùng nhau, họ gây sự với ai thành đánh lộn. Mình trong '' quẫy '' họ không thể đứng ngoài. Không chỉ chuyện đánh nhau mà còn bao nhiêu chuyện khác ví dụ như tìm kiếm vật chất phục vụ cuộc sống cho cả nhóm. Tìm củi , tìm nhựa làm chất đốt, tìm xoong nồi, tìm rau củ...rồi tìm cách xoay sở sao cho được chỗ nằm tốt, lo lót sao cho có được công việc tốt cho nhóm của mình.

Các tù nhân chỉ làm theo những việc có sẵn, tuỳ theo từng việc lo giá tiền để làm việc đó. Người cắt cỏ cá, người chăn trâu, người nuôi lợn, người phục vụ cán bộ, người làm đội trưởng, nhóm trưởng...tiền ít thì cuốc đất, gánh nước tưới. Các công việc có sẵn và có giá tiền sẵn. Việc '' lẻ '' là những việc tự do, không bị quản thúc chặt, tự giác làm và đóng tiền cao.

Có lẽ điều tôi tự hào nhất trong tù là tôi tự nghĩ ra việc cho mình, và ông quản giáo chấp nhận điều đó. Một ngoại lệ chưa từng có, tôi chả mất đồng nào mà vẫn làm tự giác.

Công việc của tôi là hàng ngày đi khắp đồng ruộng của đội tù, quan sát xem những việc nào cần làm, ví dụ như chỗ đất này mai phải cuốc để trồng gì, chỗ ruộng rau kia cần làm cỏ hay phun thuốc sâu. Bờ nào cần đắp, chỗ nào cần thêm người..cả đội tù có đến 60 con người và chục mẫu ruộng, mấy chục sào rau, bốn cái ao cá, ba con trâu, một đàn vịt hai trăm con, một đàn gà trăm con và tám con lợn. Tha hồ mà phải tính toán hợp lý, trong khi ông quản giáo chỉ thích ngồi đánh chẵn ăn tiền với các đồng nghiệp, còn đội trưởng chỉ lo chích cho phê rồi vừa nhắm mắt vừa phân công việc cho tù.

Tôi cải tạo theo đúng nghĩa tích cực nhất, không chạy chọt tiền nong, không nịnh bợ, không làm chỉ điểm. Ngày tôi ốm thì quản giáo lo sốt vó, còn đội trưởng thì cắt người chăm sóc tôi. Ông quản giáo bỏ đánh chẵn để đi sắp xếp việc, liên tục ông hỏi tôi đỡ chưa, đi làm được chưa. Hài hước là tôi được trại tặng bằng khen là phạm nhân xuất sắc của trại kèm tiền thưởng.

Cái mác phạm nhân xuất sắc khiến tôi đi lại tự do trong trại, thậm chí đi thẳng từ trong buồng giam qua ba lần cửa gác ra bên ngoài nhà dân để mua thứ gì mà không phải cần có cán bộ nào ký giấy bảo lãnh. Nguyên tắc canh gác của trại rất chặt chẽ, tù qua cửa phải có cán bộ ký nhận giấy và đưa ra, lúc về cũng ký trao trả. Tôi qua các cửa gác chỉ cúi chào và nói - thầy cho em ra ngoài. Lính gác nào cũng gật đầu, mặc dù họ là lính vũ trang, lính nghĩa vụ có thời hạn.

Tôi chả cần gì đến đàn em hay đàn anh, trong đội tù của tôi chẳng ai gây sự với tôi. Các đội tù khác cũng thế, họ luôn thân thiện để còn đôi lúc nhờ vả tôi chút gì, như nhắn tin, gửi thư hay mua hộ gì đó.

 Một ngày nọ, đội tù tôi có thêm mấy lính mới, trong đó có hai thằng chỉ mười tám tuổi phạm tội trấn lột. Cả hai thằng cùng vụ, mặt non choẹt. Chúng vào được đội mấy hôm thì gia đình chúng thăm. Mẹ thằng Tuấn Còi xin quản giáo cho gặp tôi, bà nói.

- Chúng tôi xin anh cho em nó ở cùng anh, có gì anh dạy bảo. Thưa với anh tôi là giáo viên, chồng tôi cũng vậy. Chúng tôi không biết nói thế nào, chỉ mong anh giúp bảo ban em nó. 

Tôi lắc đầu từ chối, tôi nói tôi không tốt đẹp gì, nếu tôi dạy chúng được những điều tốt thì tôi đã không phải ở đây. Trong đội này có nhiều nhóm, cô bảo nó thấy hợp nhóm nào thì xin ở cùng để bảo vệ, giúp đỡ nhau. Còn cháu không nhận đàn em bao giờ cả.

Tôi quay đi, thấy ánh mắt bà mẹ nhìn theo đầy vẻ van xin.

Hơn tháng sau, lại có một thằng mới về đội, nó là cháu của một anh bạn. Tôi để nó ở cùng tôi, mẹ Tuấn Còi đến thấy vậy lại gặp và nói tôi cho Tuấn ở cùng. Bà nói.

- Anh ở đây trước có kinh nghiệm, anh bảo ban coi nó như em anh, chúng tôi mang ơn anh nhiều.

Tôi nói.

- Kinh nghiêm ở đây đều trả giá đắt, cháu không tự nhiên mà có, tại sao cô cứ bắt em nó về với cháu, ở đây còn đầy người mà.

Bà mẹ giãi bày, bà thăm con, gặp quản giáo biếu tiền rồi ngỏ lời xin ông dạy bảo con mình. Ông quản giáo bảo tốt nhất để tù dạy tù, chứ ông không ở với tù 24 tiếng mà bảo ban được. Bà lân la hỏi cậu lính vũ trang trẻ, cậu ấy bảo cho ở với thằng Hiếu là tốt nhất.

Cậu lính vũ trang trẻ cũng tên là Tuấn, cậu chẳng hút thuốc lá bao giờ, nhưng gia đình phạm nhân gặp biếu gói thuốc nào là cậu đút túi. Sau đó dúi lại cho tôi. Chưa bao giờ cậu xưng mày tao với tôi mà chỉ gọi tên tôi và xưng tôi. 

Tôi nhận thằng Tuấn, thêm cả thằng Khiêm đồng vụ với nó, với thằng Cường. Tôi bỗng có ba thằng đàn em.

Chúng tôi sống chan hoà với nhau, không rượu, không cờ bạc, xăm trổ, không chích choác, không gây sự với ai, tiết kiệm không hoang phí những đồng tiền gia đình gửi. Cả ba thằng đều tuổi 18, khi chúng quen với nhà tù rồi mới thật khó khăn. Chúng đều muốn chứng tỏ sự ngang tàng, khệnh khạng để làm '' giá cả ''. Bọn tù là thế, lúc đầu thì nơm nớp, sợ hãi mọi thứ. Thời gian sau thấy quen rồi là muốn xưng hùng bá , xưng anh chị. Chỉ có những tay anh chị thật sự như Thành Xăm ở bến Long Biên, Dũng Gỗ ở Giảng Võ...thì họ vào tù thế nào ra thế ấy. Còn lại đa phần là bọn ma cũ bắt nạt ma mới, hay bọn tù tiền, tức là có tiền lo lót cho quản giáo để dương oai.

 Cả quãng dài khó khăn để ngăn cản, rồi dàn xếp với các nhóm khác. Cuối cùng thì chúng cũng lần lượt hết án tù ra về mà không bị kỷ luật, được xét giảm đầy đủ.

Hôm tôi hết án về, Tuấn còi đứng đón ngoài cổng trại.

Cuộc sống ngoài đời cho kẻ nhiều năm trong tù ra thật khó khăn, nhiều lúc thấy bơ vơ mất thăng bằng còn hơn ở trong nhà tù. Ở trong tù có vị trí, có công việc, có sự cần thiết cho nhiều người. Ra tù ai cũng lảng tránh, có lúc thấy mình như con nợ của gia đình, có lúc thấy cuộc đời này không có chỗ cho mình. Tôi lúc đi làm giao hàng, lúc đi làm bảo vệ, lúc làm thợ hàn, thợ xây ngay cả lúc lao động bằng sức lực cũng bị phân biệt đối xử vì là kẻ ở tù ra, những dè bỉu nghiệt ngã, ngờ vực ...

Cuộc sống quá bươn chải, công việc thay đổi liên tục,  không còn dịp gặp lại những anh em trong tù cũ nữa.

 Đến ngày tôi mở công ty quảng cáo, nhận được nhiều hợp đồng, tôi tìm đến những cậu bé đã ở cùng tôi trong tù. Tôi muốn chúng làm cùng tôi.

Cả ba đều trở lại nhà tù, đứa 8 năm, đứa 10 năm, đứa 18 năm.

Giá như tôi có điều kiện sớm ngay lúc ra tù, tôi sẽ khiến cuộc đời chúng khác đi. Vì ý nghĩ như thế nên bao nhiêu năm rồi tôi vẫn tự trách mình. 

Tôi không trách chúng, khi tôi trở về vật lộn lại với cuộc sống đời thường, nhiều lúc phẫn nộ tôi đã có ý tìm lại con đường cũ. 

Nhiều lúc đương đêm tôi tỉnh dậy, nhớ đến chúng tôi khóc. Tôi thương chúng và khóc thương cho cả mình nữa. Vì tôi thấu nỗi cay đắng khi ra tù về lại xã hội. Tôi chỉ may mắn hơn chúng chút ít, còn không được may thế, có lẽ tôi cũng quay về trại giam như chúng mà thôi.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...