Chuyển đến nội dung chính

Nguyễn Hưng Quốc - Vấn đề ngôn ngữ trong văn học lưu vong

Link : http://m.voatiengviet.com/a/van-de-ngon-ngu-trong-van-hoc-luu-vong/2777593.html
Nguyễn Hưng Quốc
Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Trong bài “Thơ như một phương tiện để giải hoặc và thanh tẩy”, viết năm 2004, nhà thơ Nguyễn Hoàng Tranh (qua Úc từ năm 14 tuổi) tâm sự:
“Cho đến bây giờ, tất cả những bài thơ của tôi đều được viết bằng tiếng Việt. Rất nhiều bạn bè tôi hỏi tại sao tôi không làm thơ bằng tiếng Anh. Câu trả lời của tôi là: ‘Vâng, một ngày nào đó trong tương lai tôi sẽ viết bằng tiếng Anh. Nhưng ở thời điểm hiện tại này, tôi cần phải giải quyết rất nhiều chuyện thuộc về quá khứ Việt Nam của tôi, và điều này cần ngôn ngữ Việt’.” (1)
Lời tâm sự ấy nêu lên hai ám ảnh chính không những đối với anh mà còn đối với mọi người cầm bút lưu vong nói chung: ngôn ngữ và quá khứ.
Có thể nói, với các cây bút lưu vong, không những chỉ có quê hương hay quá khứ giằng kéo mà cả ngôn ngữ cũng có sức giằng kéo mãnh liệt. Czeslaw Milosz xem ngôn ngữ như là quê hương, thậm chí, quê hương duy nhất của người lưu vong (2). Cho đến nay, hầu hết các cây bút người Việt thuộc thế hệ thứ nhất và một phần các cây bút thuộc thế hệ 1.5 ở hải ngoại đều trung thành với tiếng Việt.
Cũng dễ hiểu. Trong cuốn Alien Tongues: Bilingual Russian Writers of the “First” Emigration, từ kinh nghiệm của các nhà văn Nga lưu vong sang Âu châu vào đầu thế kỷ 20, Elizabeth Klosty Beaujour nhận thấy: Thứ nhất, tuyệt đại đa số vẫn viết bằng tiếng Nga; thứ hai, trong số những người viết song ngữ, chỉ có vài ba người thực sự thành công ở tầm quốc tế (Elsa Triolet và Vladimir Nabokov); thứ ba, với hầu hết những người viết song ngữ, việc lựa chọn ngôn ngữ lúc sáng tác là một lựa chọn đầy dằn vặt và đau đớn, thậm chí, với Elsa Triolet, là một cơn bệnh hoặc một sự phản bội (3).
Không có gì đáng ngạc nhiên khi Czeslaw Milosz, giải Nobel văn chương năm 1980, dù rất giỏi tiếng Anh, từng là dịch giả nổi tiếng, vẫn chỉ làm thơ bằng tiếng Ba Lan và để người khác dịch chúng sang tiếng Anh (4). Joseph Brodsky, nhà thơ Nga đoạt giải Nobel năm 1987, mặc dù sống ở Mỹ khá lâu, khi viết tiểu luận, chọn tiếng Anh, nhưng khi làm thơ, ông vẫn thường làm thơ bằng tiếng Nga (5). Jaime Manrique, một tác giả Colombia, sống ở New York trên ba mươi năm, cũng vậy: ông viết tiểu thuyết, hồi ký và tiểu luận bằng tiếng Anh nhưng khi làm thơ, vẫn làm thơ bằng tiếng Tây Ban Nha (6). Roman Jakobson (1896-1982), một nhà ngôn ngữ học và lý thuyết gia văn học kiệt xuất người Nga, sống ở Mỹ từ năm 1945, biết cả thảy 16 ngoại ngữ, nhưng bạn bè ông thường nói đùa: Jakokson “nói tiếng Nga bằng 16 ngôn ngữ khác nhau” (7): Chúng ta không chọn ngôn ngữ. Ngôn ngữ chọn chúng ta.
Có điều, tiếng Việt của những người sống giữa hai ngôn ngữ, hai văn hóa và hai quốc gia, dù muốn hay không, cũng dần dần đổi khác. Về phương diện xã hội, người ta thường nhìn những sự đổi khác ấy một cách tiêu cực như một quá trình rơi rụng và mai một. Tuy nhiên, về phương diện văn học, những sự đổi khác ấy thường diễn ra một cách tích cực: Trong môi trường song ngữ hoặc đa ngữ, tiếng Việt ở hải ngoại không ngừng được cọ xát để trở thành chặt chẽ và sắc cạnh hơn, cuối cùng, có thể tiếp máu cho một thân thể quá già nua và yếu ớt ở quê nhà. Già nua và yếu ớt chủ yếu đến từ sự khép kín của xã hội và đặc biệt từ các âm mưu chính trị hoá ngôn ngữ để giữ sự độc quyền về tư tưởng của giới cầm quyền.
Ở đây, có thể xem văn học lưu vong như một nền văn học nhỏ/phụ (minor literature), hiểu theo nghĩa của Gilles Deleuze và Félix Guattari: Đó là một nền văn học thoát thai từ một ngôn ngữ lớn (trong trường hợp của Kafka, một người Séc gốc Do Thái viết bằng tiếng Đức, đó là tiếng Đức; trong trường hợp của chúng ta, đó là tiếng Việt ở Việt Nam) với ba đặc điểm chính: giải lãnh thổ hoá, ám ảnh về chính trị và ý thức tập thể. Nền văn học ấy tự đổi khác bằng chiến lược viết như những kẻ sử dụng đa ngữ, biến cái ngôn ngữ quen thuộc thành xa lạ, và không ngại vượt qua mọi quy ước và quy phạm có sẵn để đi đến tận cùng tham vọng cách tân (8).
Ngoài vấn đề văn học nhỏ / văn học lớn theo cách nhìn của Deleuze và Guattari, những sự đổi khác của ngôn ngữ và văn học Việt Nam lưu vong, còn xuất phát từ một nguyên nhân nữa: sự cọ xát. Trong lãnh vực văn hoá, cọ xát là điều kiện của sáng tạo. Nhờ thường xuyên cọ xát với các nền văn hoá khác, văn hoá Tây phương không ngừng phát triển và đổi mới. Riêng ở Việt Nam, các cuộc cọ xát với văn hoá Trung Hoa, Chiêm Thành và Pháp đều để lại những dấu ấn lớn.

Carrie Noland và Barrett Watten xem những sự cọ xát xuyên ngôn ngữ, xuyên quốc gia, xuyên sắc tộc và xuyên thẩm mỹ ấy là những điều kiện thuận lợi để làm nảy nở tinh thần tiền vệ (avant-garde); trong ý nghĩa ấy, họ cho lưu vong chính là động cơ của tinh thần tiền vệ (9).
Raymond Williams cũng từng có ý kiến tương tự khi cho các phong trào tiền vệ nổi lên trong các xã hội hiện đại từ hiện tượng lưu đày trong tâm hồn (internal exile) và hiện tượng di dân xuyên quốc gia: Ông xem xu hướng quay về với ngôn ngữ (turn to language) vốn là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của văn học và văn hoá Tây phương trong thế kỷ 20 chủ yếu nảy sinh từ các điểm giao thoa hay biên giới giữa các ngôn ngữ (10).
Để minh chứng cho các luận điểm ấy, Noland và Watten nhắc đến một số tên tuổi tiền vệ nổi bật nhất tại Pháp trong nửa đầu thế kỷ 20: Tristan Tzara, một trong những thủ lĩnh của phong trào Dada vào năm 1916, và Isidore Isou, người đề xướng một phong trào tiền vệ khác vào năm 1947, đều là người Romania sống lưu vong ở Pháp (11).
Dĩ nhiên, kinh nghiệm lưu vong chỉ là một trong những điều kiện của tinh thần tiền vệ. Như tôi đã phân tích trong bài “Sống và viết như những người lưu vong” (12), rất nhiều người cầm bút Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất thường đắm chìm trong những hồi tưởng hoài niệm, chỉ sống với ký ức; với họ, viết chỉ như một hành động níu giữ và tái cấu trúc ký ức. May, phần lớn giới cầm bút Việt Nam trẻ thì khác. Dù không thoát hẳn những ám ảnh của quá khứ, một phần trong con người của họ vẫn thuộc về hiện tại để có thể cảm nghiệm được thân phận ở-giữa của mình, từ đó, khao khát đổi mới, hoặc nếu không đổi mới được thì ít nhất cũng viết khác như câu khẩu hiệu của nhà thơ Mỹ Ron Silliman: “Nếu không làm Mới được thì hãy làm cho Khác” (Make it Different, if not New”) (13).
Tìm hiểu những cái khác ấy là một điều thú vị, tuy nhiên, nó quá phức tạp. Một lúc nào đó, có dịp, chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ (14).
***
Chú thích:
1. [1] http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=2015
2.  “Language is the only homeland”, dẫn theo Paule Marshall, “From the poets in the kitchen”, The New York Times: http://www.nytimes.com/1983/01/09/books/from-the-poets-in-the-kitchen.html?pagewanted=all
3. Elizabeth Klosty Beaujour (1989), Alien Tongues: Bilingual Russian Writers of the “First” Emigration, Ithaca: Cornell University Press, tr. 40-1.
4. Trừ mấy năm cuối đời.
5. Chỉ về sau, Brodsky mới dần dần tự dịch thơ mình, và những năm cuối đời, bắt đầu làm thơ thẳng bằng tiếng Anh.
6. Edith Grossman (2010), Why Translation Matters, New Haven: Yale University Press, tr. 100.
7. Elizabeth Klosty Beaujour (1989), sđd., tr. 18.
8. Gilles Deleuze và Félix Guattari (1986), Kafka: Towards a Minor Literature (Dana Polan dịch), Minneapolis: University of Minnesota Press. Tôi có tóm tắt và phân tích quan điểm của Deleuze và Guattari trong cuốn Văn học Việt Nam thời toàn cầu hóa (Văn Mới, California, 2010), tr. 60-65.
9. Carrie Noland & Barrett Watten (biên tập) (2009), Diasporic Avant-gardes: Experimental Poetics and Cultural Displacement, New York: Palgrave Macmillan, tr. 4.
10. Dẫn theo Carrie Noland & Barrett Vatten (2009), sđd., tr. 15.
11. Như trên, tr. 3.
12. In trên Việt số 2 (1998), tr. 5-10; sau, in lại với một số sửa chữa trong cuốn Văn học Việt Nam từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại, nxb Văn Nghệ, California, năm 2000, tr. 227-234.
13. Nerys Williams (2011), Contemporary Poetry, Edinburgh: Edinburgh University Press, tr. 3.
14. Tôi đã phân tích một số cái khác ấy trong cuốn Văn học Việt Nam tại Úc: chính trị và thi pháp của lưu vong do Tiền Vệ xuất bản và được Người Việt tái bản vào năm 2014. Cuốn sách này có thể đặt mua trên Amazon.com.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...