Chuyển đến nội dung chính

Lê Nguyễn: MINH XÁC MỘT LẦN CUỐI VỀ TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH ĐỊA PHƯƠNG CỦA MIỀN NAM TRƯỚC THÁNG 4.1975

MINH XÁC MỘT LẦN CUỐI VỀ TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH ĐỊA PHƯƠNG CỦA MIỀN NAM TRƯỚC THÁNG 4.1975

      Trong những ngày qua, trên diễn đàn của mình, khi bàn về danh xưng, tổ chức của chính quyền địa phương miền Nam trước và sau tháng 4.1975, nhiều bạn chưa ra đời hay chưa trưởng thành sau 4.1975 đã có nhiều hiểu nhầm và lẫn lộn giữa các danh xưng, khái niệm đan xen nhau, chủ yếu vì họ đã “in trí” về tổ chức hành chánh hiện nay trên cả nước. 

     Vì thế, về mặt kiến thức và học thuật, mình nghĩ là sẽ không vô ích khi xác định một lần cho rõ ràng và dứt khoát những điểm sau đây:

1) *Trong tổ chức hành chánh hiện nay, “Thành phố” là một tổ chức hành chánh chính thức, có tên gọi, có bộ máy hoạt động, có ngân sách riêng. Song, lại có nhiều dạng thành phố khác nhau: thành phố trực thuộc trung ương (như TPHCM, Hà Nội, Huế ...), thành phố trực thuộc tỉnh, thậm chí có “thành phố thuộc thành phố” như thành phố Thủ Đức thuộc TPHCM. 

* Tại miền Nam trước 4.1975, thành phố chỉ là cách nói cửa miệng của mọi người, ví dụ như “tôi đi thành phố Sài Gòn”, “tôi tới thành phố Biên Hòa”, “tôi về thành phố Mỹ Tho”... Trong các văn bàn chính thức thời đó như công văn, sắc lệnh, nghị định, quyết định, thông tư ..., không hề có tổ chức hành chánh nào gọi là “Thành phố”, mà cả miền Nam chỉ một “Đô thành” ở Sài Gòn và các “Tỉnh”, “Thị xã” ở các địa phương. Bộ máy cao nhất ở Sài Gòn là Tòa Đô chánh (nay là UBND/TPHCM), ở các tỉnh là Tòa Hành chánh tỉnh (nay là UBND tỉnh), ở cấp Thị xã là “Tòa Thị chánh”. Người đứng đầu Tòa Đô chánh là Đô trưởng, đứng đầu Tỉnh là Tỉnh trưởng. Đô trưởng Sài Gòn được nhiều người biết, thời Đệ nhất CH là Đốc phủ sứ Nguyễn Phú Hải, thời Đệ nhị CH là Đại tá Y sĩ Văn Văn Của.

2) * Sau tháng 4.1975, ở TPHCM, các địa phương vây quanh trung tâm thành phố gọi là “Quận”, bên ngoài khu vực này gọi là “Huyện”, ở các tỉnh cũng là "Huyện"  (nay tổ chức Quận Huyện không còn nữa).

* Ở miền Nam trước 4.1975, không có danh xưng “Huyện”, chỉ có “Quận” thuộc Đô thành Sài Gòn hay các Tỉnh, Thị xã

3) * Ở miền Nam trước 1975, từ “Thị xã” có hai cách sử dụng và hai cách hiểu khác nhau:

a) Cách nói phổ biến trong sách báo hay từ cửa miệng của người dân, để chỉ chung những khu vực đông dân cư, kinh tế tương đối phát triển.

b) Thị xã là một tổ chức hành chánh ngang với Tỉnh, do Tổng thống ban hành sắc lệnh thành lập, có bộ máy nhân sự riêng, ngân sách riêng.

Trong thời gian này, toàn miền Nam có các Tỉnh/Thị xã (theo cách hiểu thứ 2) hoạt động song hành nhau sau đây:

- Tỉnh Kiên Giang/Thị xã Rạch Giá - Tỉnh Phong Dinh/Thị xã Cần Thơ - Tỉnh Định Tường/Thị xã Mỹ Tho -Tỉnh Phước Tuy/Thị xã Vũng Tàu -Tỉnh Khánh Hòa/Thị xã Nha Trang – Tỉnh Tuyên Đức/Thị xã Đà Lạt – Tỉnh Bình Định/Thị xã Qui Nhơn - Tỉnh Quảng Nam/Thị xã Đà Nẵng - Tỉnh Thừa Thiên/Thị xã Huế.

Nhiều tỉnh lớn như Biên Hòa, Long An ... vẫn không có Thị xã

4) Thời Đệ nhị CH, trụ sở hành chánh của Thị xã gọi là Tòa Thị chánh. Hai tổ chức Tỉnh và Thị xã hoạt động song hành, độc lập nhau, cùng có bộ máy nhân sự riêng, ngân sách riêng, cùng trực thuộc trung ương. Về nhân sự, chỉ có Tỉnh trưởng kiêm Thị trưởng, tỉnh có Phó Tỉnh trưởng và các Trưởng Ty Sở riêng, Thị xã có Phó Thị trưởng và các Trưởng Ty Sở riêng.

Thời đó, nhiều sách báo gọi bừa những nơi thị tứ, tương đối đông dân là “thị xã” song không phải là thị xã theo đúng nghĩa chính thức của chúng.

Ranh giới hành chánh giữa Tỉnh và Thị xã được xác định rõ ràng trong sắc lệnh thành lập Thị xã, nhìn vào bản đồ, sẽ thấy Thị xã là một khu vực nằm lọt thỏm ở trung tâm tỉnh, bao quanh bởi các quận của tỉnh. Cũng tương tự như thế, Đô thành Sài Gòn, nằm lọt trong lòng của tỉnh Gia Định 

5) cũng như Tỉnh có các đơn vị trực thuộc là “Quận”, Thị xã cũng có các quận trực thuộc, chỉ trừ một ngoại lệ duy nhất: Thị xã Đà Lạt không có “Quận” mà chỉ có cấp "Phường"

6) Tỉnh lỵ là danh từ chung chỉ bất cứ nơi nào có Tòa Hành chánh tỉnh và các Ty Sở bao quanh, ví dụ: tỉnh lỵ Gia Định, tỉnh lỵ Biên Hòa, tỉnh lỵ Định Tường .... Tỉnh lỵ không có tên riêng và không bao giờ ở xa Tòa Hành chánh tỉnh đến 5 km. Vì vậy trước 1975, tỉnh lỵ Quảng Nam đặt ở Tam Kỳ, không có chuyện ở Hội An.

7) Thời Đệ nhất CH, hầu hết các quận nằm tại tỉnh lỵ cùng có tên là “Quận Châu Thành”. Sang thời Đệ nhị CH, chính quyền trung ương cho dời tất cả các quận châu thành ra xa tỉnh lỵ 5 km, biến chúng thành một “tiền đồn” để bảo vệ an ninh gần cho tỉnh lỵ. 

VIII) Những minh xác trên xuất phát từ trí nhớ còn minh mẫn của một người từng có 10 năm làm công tác hành chánh ở các địa phương trước 4.1975, mọi thắc mắc sẽ xin tiếp tục trả lời, mọi phản bác, xin trưng dẫn tài liệu chính thức, không nên nói suông.

Lê Nguyễn

23.11.2025

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...