Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

FB. Rùa Tiên Sinh (Bùi Anh Chiến): "Chốt chặn siêu cường" - Chương 2 phần 3 : Trung Đông - ảo vọng dân chủ.

 "Chốt chặn siêu cường" - Chương 2 phần 3 : Trung Đông - ảo vọng dân chủ.

Trong cuốn sách của em, Trung Đông hiện lên là 1 vùng đất cũ. 2000 năm chiến tranh và can thiệp từ bên ngoài, Trung Đông không thể có được dân chủ vì nhiều lý do nội tại của nó.

Bế tắc ở Trung Đông không phải là trạng thái tạm thời của một khu vực chưa phát triển xong  mà là hình thái ổn định nhất của một cấu trúc quyền lực không thể kết tinh. Trong suốt hơn một thế kỷ hiện đại hóa cưỡng bức, từ thời các đế quốc châu Âu cho tới kỷ nguyên can thiệp của siêu cường, Trung Đông chưa từng đi qua một khoảnh khắc hình thành trật tự mang tính chấp nhận chung. Không phải vì khu vực này thiếu chiến tranh, mà vì có quá nhiều chiến tranh nhưng không có cuộc chiến nào đủ khả năng tạo ra điểm kết thúc. Trung Đông không thiếu bạo lực, nhưng thiếu khoảnh khắc mà bạo lực chuyển hóa thành trật tự. Chính sự thiếu vắng đó khiến khu vực này vận hành trong trạng thái lửng lơ vĩnh viễn giữa sụp đổ và ổn định, nơi chiến tranh trở thành nhịp điệu điều chỉnh chứ không phải biến cố ngoại lệ.

Khác với châu Âu, nơi chiến tranh hiện đại kết thúc bằng những hiệp ước định hình trật tự mới, và khác với Đông Á, nơi các quốc gia buộc phải chấp nhận cấu trúc quyền lực do các cường quốc áp đặt sau những cú sốc lịch sử lớn, Trung Đông chưa bao giờ trải qua một khoảnh khắc kết tinh. Không tồn tại một Westphalia của Trung Đông, không có một San Francisco, không có một Yalta, cũng không có một thời kỳ chiếm đóng đủ dài để tái cấu trúc xã hội từ nền tảng. Mọi trật tự từng được áp đặt đều hoặc quá mỏng để tồn tại, hoặc quá cưỡng bức để được chấp nhận. Vì vậy, chiến tranh ở Trung Đông không dẫn đến hòa bình, mà chỉ mở đường cho vòng xung đột tiếp theo với hình thức khác, chủ thể khác, và lý do chính danh khác.

Cốt lõi của bế tắc Trung Đông nằm ở sự tách rời giữa quyền lực và tính chính danh. Phần lớn các nhà nước trong khu vực được sinh ra không phải từ quá trình hội tụ lâu dài giữa lãnh thổ, dân tộc và quyền lực chính trị, mà từ những đường biên mang tính hành chính của các đế chế bên ngoài. Điều này tạo ra những nhà nước tồn tại trên bản đồ và trong hệ thống quốc tế, nhưng không bám rễ sâu vào ý thức chính trị của xã hội. Nhà nước có thể sở hữu quân đội, cảnh sát và bộ máy hành chính, nhưng thiếu nền tảng đồng thuận xã hội đủ mạnh để biến quyền lực cưỡng chế thành quyền lực được chấp nhận. Khi quyền lực không được xã hội thừa nhận, nó buộc phải duy trì bằng bạo lực hoặc đe dọa bạo lực. Và khi bạo lực trở thành nền tảng cai trị, hòa bình không còn là trạng thái tự nhiên, mà chỉ là khoảng lặng giữa hai chu kỳ đàn áp.

Hoa Kỳ không bước vào Trung Đông với tâm thế của một kẻ phá hoại, cũng không với tư cách một đế quốc cổ điển. Washington bước vào khu vực này với một niềm tin rất Mỹ: nếu đủ mạnh, đủ giàu, đủ quyết tâm và đủ “đúng”, thì mọi không gian đều có thể được sửa chữa. Niềm tin đó từng đúng ở châu Âu sau Thế chiến II, từng đúng ở Đông Á sau 1945, và chính vì thế nó trở thành khuôn mẫu tư duy chiến lược mặc định của Hoa Kỳ. Vấn đề là Trung Đông không phải châu Âu, cũng không phải Đông Á, và càng không phải một xã hội từng bị phá hủy hoàn toàn để sẵn sàng cho một trật tự mới.

Sai lầm đầu tiên và cũng là sai lầm gốc rễ nhất của Hoa Kỳ tại Trung Đông là đánh giá nhầm bản chất của xung đột. Washington nhìn Trung Đông như một khu vực “chưa hoàn thiện”, nơi thiếu nhà nước hiệu quả, thiếu dân chủ, thiếu hội nhập, và vì thế sinh ra bạo lực. Nhưng thực tế ngược lại: Trung Đông không thiếu quyền lực, mà thừa quyền lực phân mảnh, không thiếu chính trị, mà thừa chính trị sinh tồn, không thiếu nhà nước, mà nhà nước không phải trung tâm duy nhất của quyền lực. Trong một không gian như vậy, ổn định không phải là trạng thái tự nhiên cần được khôi phục, mà là trạng thái nguy hiểm có thể phá vỡ cân bằng sinh tồn của rất nhiều chủ thể.

Từ Iraq tới Afghanistan, từ Gaza tới Libya, mô hình lặp đi lặp lại một cách hoàn toàn đoán định được: Hoa Kỳ đủ sức lật đổ bất kỳ quốc gia nào ở đây trong vài tuần, nhưng không đủ khả năng kiểm soát chuỗi phản ứng xã hội kéo dài hàng thập kỷ sau đó. Vấn đề không nằm ở năng lực quân sự, mà ở giới hạn kiểm soát hệ quả. Trung Đông là không gian nơi mỗi hành động quân sự đều tạo ra hiệu ứng dây chuyền vượt xa ý định ban đầu, bởi nó tác động đồng thời lên nhà nước, xã hội, bản sắc, ký ức lịch sử và mạng lưới quyền lực phi chính thức.

Chính tại đây, vai trò kiến trúc sư trật tự của Hoa Kỳ bắt đầu không còn hiệu quả. Trung Đông không có khế ước xã hội nội sinh đủ mạnh, không có đồng thuận rằng trật tự cũ đã chết, và không có chủ thể bản địa nào đủ uy tín để gánh trách nhiệm hậu xung đột. Trong điều kiện đó, mọi kiến trúc đều là tạm bợ, và mọi chiến thắng đều mang mầm bại.

Ngoại lực đóng vai trò then chốt trong việc duy trì trạng thái bế tắc này. Trung Đông là khu vực bị can thiệp nhiều nhất trong thế giới hiện đại, nhưng cũng là nơi ít được tái thiết một cách nhất quán nhất. Các cường quốc đến đây để ngăn đối thủ, bảo vệ lợi ích, kiểm soát tuyến năng lượng và duy trì cân bằng, chứ không phải để xây dựng một trật tự tự vận hành. Mọi can thiệp đều mang tính chiến thuật, ngắn hạn hoặc có điều kiện. Khi chi phí vượt quá lợi ích, ngoại lực rút lui, để lại khoảng trống quyền lực mà không một chủ thể nội tại nào đủ khả năng lấp đầy. Chính sự can thiệp nửa vời đó phá vỡ các cấu trúc cũ mà không tạo ra cấu trúc mới, khiến khu vực rơi vào trạng thái hỗn loạn được duy trì lâu dài.

Trong môi trường như vậy, chiến tranh không còn là sự thất bại của chính trị, mà trở thành một phần của chính trị. Nó được sử dụng để điều chỉnh tương quan lực lượng, để gửi tín hiệu răn đe, để tái phân phối quyền lực nội bộ và để duy trì tính chính danh trong bối cảnh thiếu vắng đồng thuận xã hội. Nhiều tác nhân trong khu vực không tìm kiếm chiến thắng quyết định, bởi chiến thắng sẽ kéo theo trách nhiệm cai trị, tái thiết và hòa giải - những điều mà họ không có khả năng hoặc không muốn gánh vác. Thay vào đó, họ tìm kiếm sự tồn tại kéo dài trong trạng thái không thua, bởi không thua đồng nghĩa với việc vẫn còn chỗ đứng trên bàn cờ.

Nền kinh tế chiến tranh củng cố logic đó. Ở nhiều quốc gia Trung Đông, xung đột không chỉ gây thiệt hại, mà còn tạo ra lợi ích cụ thể cho những nhóm quyền lực nhất định. Buôn lậu, kiểm soát viện trợ, tái thiết mang tính hình thức, thao túng tài nguyên và duy trì các vùng ảnh hưởng vũ trang hình thành nên một hệ sinh thái nơi chiến tranh trở thành nguồn thu và công cụ duy trì vị thế. Khi hòa bình đe dọa phá vỡ những dòng lợi ích đó, nó trở thành mối nguy đối với chính những lực lượng có khả năng chấm dứt chiến tranh nhất.

🐢🐢🐢🐢🐢🐢

Rùa em quay lại chủ đề Iran. Tôi nói người dân Iran quá khổ, nhưng làm thế nào để họ bớt khổ và thoát khỏi tình trạng hiện tại ? Không có ai nói được diều gì cho tương lai của họ, dân chủ ư ? Không thể làm được, thoái khỏi chế độ chết tiệt họ đang tin vào ư ? Vậy tiếp theo sẽ là gì ? 

Iran nói riêng và toàn bộ Trung Đông nói chung không thiếu nổi dậy. Nó thiếu “lực lượng kế thừa quyền lực”, đây mới là căn cốt của ggốc rễ vấn đề mà không ai tìm được lối đi. Và thiếu cái đó thì mọi cuộc nổi dậy đều hoặc bị đè chết, hoặc tự biến thành thảm họa.

Nổi dậy thì dễ. Đám đông, phẫn nộ, bất công, mạng xã hội, khẩu hiệu… iran có thừa. Nhưng sau khi lật được cái cũ thì ai cầm quyền? cầm bằng gì? quản bằng công cụ nào?  câu hỏi đó hầu như không ai trả lời được.

Quyền lực không phải cái ghế trống để ai ngồi cũng được. Nó là một hệ thống vận hành: quân đội nghe ai, công an trung thành với ai, ngân sách chảy về đâu, giáo sĩ đứng về phía nào, bộ máy hành chính có còn làm việc hay không. Nổi dậy chỉ phá được phần ngọn, còn phần rễ thì không có người thay thế.

🐢🐢🐢🐢🐢🐢

Quân đội ở Trung Đông nói riêng và Iran nói chung dù dưới hình thức tổ chức nào đi nữa thì nó cũng không phải quân đội quốc gia, mà là quân đội chế độ. Nó không trung lập. Nó không “đứng về phía nhân dân”. Nó đứng về phía ai trả lương, cho quyền, cho đặc quyền. Khi chế độ sập mà quân đội không đổi phe, thì nổi dậy chỉ có hai kết cục: bị nghiền nát hoặc kéo đất nước vào nội chiến.

Ở Iran vì sao tôi nói họ sẽ không đạt được mục đích cuối cùng của mình? ở Iran, kẻ duy nhất sẵn sàng và có khả năng kế thừa quyền lực… chính là những thứ mà người biểu tình ghét nhất: quân đội, giáo sĩ cứng, hoặc các nhóm vũ trang.

Cho nên đừng hỏi vì sao Iran nổi dậy hoài mà không thắng trong 40 năm qua .

Hãy hỏi: ai đủ can đảm, đủ tàn nhẫn, đủ tổ chức, đủ tiền, đủ súng để cầm quyền sau khi thắng?

Không trả lời được câu đó, thì mọi cuộc nổi dậy chỉ là màn dạo đầu cho một vòng bạo lực mới. Và trung đông cả ngàn năm nay đều vận hành đúng một kiểu như vậy.

Lật đổ chế độ cũ ư? Nhìn sang Syria đi, chế độ độc tài đã bị lật đổ và có ai nói đến Syria đang xây dựng nhà nước dân chủ không? Không, nó vẫn đang cai trị xã hội bằng luật hồi giáo hà khắc như cũ. Có gì thay đổi đâu?

Iraq trong 30 năm nay khi Mỹ lạt đổ chế độ độc tài, bây giờ họ đã dân chủ chưa? Tôi dám chắc: không một chính trị già nào ở Mỹ dám nói Iraq dưới sự hỗ trợ của Mỹ đã thành công trở thành nhà nước dân chủ, và khi Mỹ rút khỏi đây, tôi chắc chắn rằng Iraq lại rơi vào vòng xoáy của tranh dành quyền lực mới, và nó vẫn sẽ lại trở thành một nhà nước độc tài tinh vi hơn.

Ở Libya Mỹ lật đổ chính quyền độc tài Gaddafi, hiện tại ở bắc phi không có nước nào loạn hơn Libya và nó đã trở thành nhà nước dân chủ chưa?

Lật đổ thì không phải quá khó, nhưng người kế nhiệm thời kỳ hậu lật đổ thì không có ai đủ tầm để gánh vác đây mới là thứ cốt lõi vấn đề.

Dân chủ ở Trung Đông ư? 🌍🌍🌍🌍

Hãy nhìn Saudi, UAE, Qatar, Kuwait, brahmin... Họ có phải nhà nước dân chủ không? Tất nhiên là không.

Nhưng nếu nói với người dân ở đây họ có cần và muốn dân chủ không? Tôi chắc chắn rằng họ không muốn.

Cơn bão mùa xuân Ả Rập càn quét khắp trung đông, nhưng những nhà nước này vẫn bình yên vì sao ? Người dân họ không muốn dân chủ theo kiểu phương Tây.

Những quốc gia giàu có ở Trung Đông có cách quản lý xã hội rất tinh vi, họ triệt tiêu động lực phản kháng của xã hội dân sự bằng tiền.

Các mô hình nhà nước ở quốc gia kể trên được thiết kế là “nhà nước phân phối địa tô”, chia 1 phần rất nhỏ trong tài sản khổng lồ của quốc gia cho dân chúng, từ đó triệt tiêu khả năng đòi hỏi những điều kiện khác của người dân.

Vấn đề không nằm ở nhà nước thần quyền hay quân chủ, hay độc tài. Ở các nước như Saudi Arabia, United Arab Emirates, Qatar, Kuwait... người dân không được quyền lợi chính trị đầy đủ, nhưng đổi lại họ được sống rất sướng. Và khi đời sống đủ tốt, người ta không nổi dậy vì lý tưởng trừu tượng khó nhìn thấy.

Không ai xuống đường biểu tình đòi hỏi sự cải cách mà trong đó mình không biết cải cách để làm gì khi người dân vẫn có tiền thoải mái mặc dù không bao giờ biết đến bầu cử là gì, cũng không cần biết chính phủ đang làm cái quái gì, họ chỉ biết từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, họ được nhà nước bao cấp toàn bộ, thế là đủ, dân chủ hay không, không quân tâm và cũng không quan trọng.

Hãy mang dân chủ đến với UAE , Qatar, Saudi  Kuwait... Thử xem, người dân ở đây nó cười vào mặt phương tây ngay lập tức, mặc dù sống dưới chế độ rất hà khắc, nhưng xã hội chấp nhận nó như một sự đánh đổi lợi ích nhìn thấy được, sờ được, tận hưởng được mà bản thân mỗi người đều muốn có. 

Dân chủ tốt thôi, nhưng không phải ở đâu và ở hoàn cảnh nào cũng cần phải có, người dân ở những nước này nhìn phương tây với vẻ mặt thờ ơ, chúng tao không mạnh nhưng chúng tao có tiền , chúng tao không làm vẫn có ăn, vậy thôi nó đơn giản và dễ hiểu về mặt cảm xúc.

So sánh rất nhanh cho thấy sự khác biệt: Libya, Syria, Yemen: đàn áp + nghèo + bất công phân phối: loạn nước 

Saudi, UAE, Qatar: đàn áp + giàu + chia tiền cho công dân: bình yên

Trong chính trị quản trị quốc gia ở Trung Đông: Tiền chính là liều thuốc an thần mạnh nhất từng được phát minh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét