Chuyển đến nội dung chính

Thái Hạo: Lê Chiêu Thống, một cơn gió bụi…

Lê Chiêu Thống, một cơn gió bụi…

1.

Chiêu Thống là vị vua cuối cùng của triều Lê, người đã bị đóng đinh vào lịch sử với cái tội nhục nhã muôn đời: “rước voi giày mả tổ”. Nhưng đọc nhiều nguồn tư liệu lịch sử thì thấy cần bàn thêm. 

Năm 1787, khi Tây Sơn kéo ra Thăng Long, mẹ, con và quyến thuộc của Lê Chiêu Thống tất cả 62 người chạy lên biên giới kêu cứu và được quan địa phương nhà Thanh cho vào quan ải, vừa khi quân Tây Sơn đuổi đến, may được toàn mạng. Trong đoàn ấy không có Lê Chiêu Thống, ông đã chạy lên các mạn Lạng Giang rồi Chí Linh, Vị Hoàng (Nam Định)…, tụ tập quân binh để chống lại.

Khi Tôn Sĩ Nghị mang quân sang, lúc này Lê Chiêu Thống mới từ “chiến khu” trở về kinh đô Thăng Long, lên ngôi trở lại.

Tết năm 1789, khi Quân của Nghị bị Tây Sơn đánh tan, lần này Lê Chiêu Thống mới theo quân Thanh sang Trung Quốc, và sống lưu vong đến lúc chết ở xứ người. 

Trong khi đó, sau khi Nguyễn Huệ nhiều lần cho người đến nhà Thanh xin hàng và xin cầu phong, cuối cùng được Càn Long đồng ý, phong cho làm An Nam quốc vương (thay Lê Chiêu Thống), đồng thời nhà Thanh cũng quyết định cho an sáp Lê Chiêu Thống tại thành Quế Lâm, làm một người dân thường. Lúc này, ở trong nước, em của Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi vẫn tập hợp quan binh và chống lại nhà Tây Sơn.

Nhưng, sau khi sang Trung Quốc, Chiêu Thống chỉ an phận được mấy tháng, sau đó bắt đầu “sinh sự”. Để yên lòng Quang Trung (lúc này đã được nhà Thanh phong vương), Càn Long ra chỉ dụ nói cho Quang Trung biết rằng sẽ đưa Chiêu Thống từ Quế Lâm lên Kinh đô, xa hẳn đất An Nam (Dụ ngày 10 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [26/12/1789]).

Vì Lê Chiêu Thống vào đất Thanh không mang theo được vợ nên Càn Long ra lệnh “hãy chọn một, hai người con gái của những kẻ tùy tòng, cho làm hầu thiếp. Nhưng y cho rằng những người thuộc hạ đi theo, vợ con đều thất tán; y không nỡ riêng mình có gia thất; lại xưng rằng, em ruột Lê Duy Chi, 3 người em gái, cùng thê thiếp gia quyến cách biệt đã hai năm trời, sống chết không hay, sáng chiều trông mong, mộng hồn không yên, trong hoàn cảnh đó không thể lập hầu thiếp”. Và Càn Long nhận xét: “Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) tuy là người u mê nhưng qua việc này thấy không vì an lạc mà quên hoạn nạn, tấm lòng đáng khen, tình cảnh kẻ phiên thuộc cũng đáng thương”. (Trích chỉ dụ ngày 6 tháng 9 năm 1790).

Năm sau, 1791, Lê Chiêu Thống bỗng xin về nước. Càn Long nổi giận, cho là “thuộc loại sinh sự”, đồng thời lệnh đem những kẻ được cho là đã xúi giục Chiêu Thống mang ra trừng trị. Còn với Chiêu Thống thì ra lệnh rằng: “nếu lại còn manh tâm nghĩ điều quấy, không biết yên tĩnh giữ pháp luật, thì đáng trị tội nặng, không còn được thương xót tha thứ nữa” (chỉ dụ ngày 28 tháng 8 năm 1791).

Ngày 16 tháng 10 năm 1793, Lê Chiêu Thống qua đời trên đất nhà Thanh.

2.

Lại nói, trong hàng bề tôi của Lê Chiêu Thống có một người tên là Lê Quýnh, rất đặc biệt. Đây chính là kẻ đã đưa quyến thuộc gồm 62 người của vị vua này đến biên ải để kêu cứu dạo trước. Sau khi họ được tiếp nhận, Lê Quýnh quay lại tìm chủ, tiếp tục chiến đấu chống Tây Sơn. 

Khi Quân Tây Sơn ra Bắc tết năm 1789, đánh tan quân Thanh, lật đổ nhà Lê và chính thức làm chủ nước Nam, Lê Quýnh lần thứ hai chạy sang Trung Quốc, lần này là cùng với chủ của mình. Nhưng sang rồi, Lê Quýnh khi nghe tin Lê Duy Chi (em Chiêu Thống) đang kháng Tây Sơn ở trong nước thì lại xin về, nhưng không được chấp nhận.

Nhà Thanh bắt tất cả những kẻ lưu vong phải cắt tóc theo phong tục của thiên triều, nhưng Quýnh cự tuyệt, nói “có thể cắt đầu chứ không thể cắt tóc”. Nhiều lần dụ và dọa, bị hình phạt, bị giam vào ngục nhưng Quýnh không khuất phục.

Càn Long, lúc đầu khi mới biết đến Quýnh đã hết lòng tôn trọng. Ông ta viết dụ: “Trẫm muốn gặp con người này, tương lai khi vào quan ải Phúc Khang An nên cho người đưa Lê Quýnh đến kinh đô để Trẫm lượng gia ân; và nhớ hiểu dụ Lê Quýnh hãy an tâm đến kinh đô, đừng nghi ngờ sợ sệt”. Nhưng sau này, khi Quýnh chống lệnh cắt tóc, một lòng muốn về cố quốc dù có bị [Tây Sơn] bắt giết cũng cam lòng, thì Càn Long giận dữ tống giam, rồi quản thúc.

Con Lê Quýnh là Lê Doãn Thuyên cũng sang Trung Quốc, nhưng vì người cha “cứng đầu” nên bị trừng phạt, 10 năm ròng hai cha con không được gặp mặt nhau. Lê Quýnh và chủ là Lê Chiêu Thống cũng không được gặp nhau. 

Những người bỏ chạy năm ấy, hầu hết đều chia lìa quyến thuộc, kẻ Bắc người Nam, thương nhớ mòn mỏi, tình cảnh hết sức bi thương. Chính vì lẽ này, Càn Long đã ra chỉ dụ cho Quang Trung là hãy tìm những người thân thích của họ đang ở An Nam và đưa sang cho đoàn tụ, hoặc nếu những người đang ở Trung Quốc mà muốn về thì hãy thu nhận, không được giết hại hay gây khó dễ. Quang Trung đã tấu trình tuân theo, tuy nhiên, khi việc chưa kịp thực hiện thì vì Chiêu Thống, Lê Quýnh và những bề tôi khác đã “sinh sự” nên Càn Long dẹp bỏ kế hoạch này.

Khi Nguyễn Ánh đã dẹp được Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế năm 1802, lúc này Lê Quýnh đã ở đất Thanh 13 năm, tóc không cắt, y phục chẳng đổi. Ông tiếp tục xin về. Vì An Nam đã thay chủ, thời thế đã đổi khác, Gia Khánh (nối ngôi Càn Long) đồng ý cho về. 

“Tháng 8 năm 1804, Quýnh cùng tất cả tòng vong còn sống sót về đến Bắc thành (Thăng Long cũ) đem về quan tài Lê Chiêu Thống, mẹ và con trai cùng với tàn cốt của những tòng vong đã mất. Bấy giờ tất cả cựu thần triều Lê còn sống sót đều đến đón”. Việc “Lê Thị Kim vợ Lê Chiêu Thống tự tử sau khi nhận và tế xác chồng con đã gây một tiếng dội phi thường xứng đáng với khi tiết của nhóm Quýnh, tiêu biểu cho luân lý Đông phương cổ điển” (Hoàng Xuân Hãn, Lời giới thiệu Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh).

*** 

Đọc sử nhà Thanh thì thấy Lê Chiêu Thống chưa một lần đích thân sang nhà Thanh để cầu viện. Từ khi sang sống lưu vong (1789), cũng chỉ xin được về chứ không thấy xin mang quân sang. 

Phải đặt các sự kiện vào bối cảnh lịch sử đương thời may ra mới hiểu đúng được. Việc quân Tôn Sĩ Nghị sang đánh Tây Sơn là cái lệ của “thiên triều”: mỗi khi phiên bang hữu sự, trách nhiệm của “thiên tử” đối với “bề tôi” (tức vua các nước nhỏ được họ phong cho) là hành động để “nối lại dòng giống bị đứt”, nhằm “tỏ rõ ân uy”. Chính vì thế, khi vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản, con Nguyễn Huệ) bị Nguyễn Ánh đánh cũng sang cầu viện, nhưng nhà Thanh từ chối, vì Tây Sơn đã thu nạp và dung dưỡng cho hải tặc để hoành hành cướp bóc trên biển. Nhưng theo chỉ dụ của Gia Khánh, nếu Quang Toản có chạy sang lưu vong thì cũng cho vào (giống Lê Chiêu Thống). Rất tiếc là Quang Toản lại bị dân chúng bắt và [đóng cũi] mang giao nộp cho Nguyễn Ánh…

Vẫn biết, lịch sử “tam sao thất bản”, thật giả lẫn lộn, khó mà xác quyết đúng sai. Nhưng qua những tư liệu có tính khả tín cao, đọc mà không khỏi cảm thán về một phen gió thảm mưa sầu, thương những người chân trời góc bể, cốt nhục chia lìa, sống chết điêu linh… 

Gắng đi tìm để tôn trọng sự thật, tôn trọng tiền nhân và biết đối xử công bằng với quá khứ, đó là cái đạo ở đời mà hậu thế thời nào cũng nên theo…

- Thái Hạo -

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...