Góc nhìn báo chí
Báo chí cứ nói rằng chúng ta có tranh chấp với Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Báo chí cũng nhận định sai lầm về tình hình biển đảo của Việt Nam, chứ đừng nói đến người dân. Rất nhiều người lầm tưởng rằng chúng ta có tranh chấp hải đảo hay các vùng nước thuộc quyền tài phán của Việt Nam.
Tôi không đồng ý với cách báo chí và các phát ngôn của một số người có ảnh hưởng cho rằng “Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp ở một số khu vực”. Điều đó là sai lầm. Vì đơn giản, những vùng lãnh thổ, vùng nước, hải đảo vốn dĩ đã thuộc về Việt Nam theo các công ước của Liên Hợp Quốc thì cái gọi là tranh chấp là một định nghĩa sai. Mà cái đó phải gọi đúng bản chất là: “Trung Quốc đang xâm lược, cướp đất của chúng ta.”
Bởi lẽ, tranh chấp là thuật ngữ chỉ việc hai bên tranh giành một cái gì đó vốn không thuộc về bên nào, hoặc chưa được phân định rõ thuộc về ai. Còn ở đây, biển đảo và thềm lục địa 200 hải lý đã là của Việt Nam, được Liên Hợp Quốc công nhận, thì hoàn toàn không thể gọi là tranh chấp. Vì thực tế, đó là quyền, là chủ quyền của Việt Nam đã được bảo hộ trên nguyên tắc luật pháp quốc tế. Trung Quốc không có bất kỳ quyền gì trong khu vực 200 hải lý của Việt Nam để mà gọi là “tranh chấp” cả.
Vì vậy, báo chí nói rằng Trung Quốc tranh chấp với chúng ta ở khu vực 200 hải lý là một nhận định sai. Nó đặt ra sự nghi ngờ về tính chính danh của quyền chủ quyền, quyền tài phán và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam chiếu theo luật pháp quốc tế.
Đây là một quan điểm có tính nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn vẹn chủ quyền, đến công cuộc bảo vệ chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông. Chiếu theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ quyền lợi hợp pháp để làm chủ và khai thác, trong khi một yêu sách chủ quyền bằng bản đồ “đường chín đoạn” của một bên được gọi là “tranh chấp” – vốn đòi chiếm gần như toàn bộ Biển Đông – đã bị một tòa án trọng tài quốc tế (PCA) thẳng thừng bác bỏ.
Việt Nam cần hết sức cảnh giác trước “một cái bẫy” hay quan điểm như cách Trung Quốc gợi ý với các nước về việc “khai thác chung” ở những vùng mà Trung Quốc gọi là có “tranh chấp” chủ quyền biển đảo, nhất là trong tình hình Biển Đông hiện nay, nơi mà trên thực tế Trung Quốc thường xuyên tự ý thay đổi nguyên trạng và cố tình tạo ra “tranh chấp”. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc kiên quyết từ chối những đề nghị dạng này của Trung Quốc qua kinh nghiệm bảo vệ chủ quyền tại quần đảo Senkaku.
Theo lời của Đặng Tiểu Bình khi mở đầu xử lý với Nhật Bản vấn đề Biển Hoa Đông, và cũng là quan điểm nhất quán của Trung Quốc, thì không phải là “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”, mà là “chủ quyền thuộc vùng tranh chấp”, tức là: “cái này là của tôi, nhưng bây giờ tôi tạm gác lại để cùng anh khai thác.” Đây là một luận điệu cực kỳ nguy hiểm, đánh tráo khái niệm quyền chủ quyền của nước sở tại.
Chính vì vậy, đặt câu hỏi: tại sao Trung Quốc không đầu tư vào đất nước của chúng tôi bằng luật đầu tư nước ngoài, bằng các quy định của nhà nước sở tại để khai thác, tạo ra một môi trường hòa bình, ổn định, cùng nhau phát triển, mà lại cứ khăng khăng rằng đó là chủ quyền của anh? Trong khi chúng ta đều biết Trung Quốc chưa bao giờ rút lui yêu sách “đường lưỡi bò”, cũng như các tuyên bố “chủ quyền” đối với cái gọi là “Tam Sa”, “Tứ Sa”, và những quan điểm này được Trung Quốc xem là “bất di bất dịch”, thậm chí gọi là “bất khả kiến nghị”.
Vì vậy, việc truyền thông sử dụng cụm từ “tranh chấp” đối với những khu vực trên Biển Đông – những nơi mà Trung Quốc vốn chưa bao giờ có chủ quyền – là một sự nhầm lẫn không phù hợp, thậm chí là sai trái.
Không có lý do gì khu vực Hoàng Sa, Trường Sa, hay các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam – nơi Trung Quốc là bên đi xâm lược – lại bị gọi là “tranh chấp”. Tôi không dùng chữ đó. Một số tờ báo trong và ngoài nước thường nhầm lẫn khái niệm này, cứ nói đây là vùng “tranh chấp”, Việt Nam có “tranh chấp”. Cách nói đó hoàn toàn sai.
Trung Quốc là kẻ đi xâm lược, và tham vọng của họ bắt đầu từ năm 1909, khi họ tiến hành thám sát quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và bắt đầu tuyên bố “chủ quyền”. Đến thập niên 1930, họ tiếp tục lấn xuống Trường Sa, như tình hình ngày nay chúng ta đều thấy rất rõ. Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực được thành lập theo Phụ lục UNCLOS 1982 trong vụ kiện của Philippines đã khẳng định rằng yêu sách “đường lưỡi bò” không được công nhận bởi công pháp quốc tế, và Trung Quốc không có chủ quyền ở Biển Đông.
Xin nhắc lại: Trung Quốc không có bất kỳ chủ quyền nào ở khu vực Biển Đông. Trong toàn bộ các bộ chính sử của Trung Quốc – 24 bộ chính sử – cũng như trong thư tịch và bản đồ cổ của họ, biên giới Trung Quốc chỉ kéo đến đảo Hải Nam.
Chính vì vậy, nếu chúng ta quên đi cội nguồn lịch sử của ý chí xâm lược, quên đi tham vọng tiến về phương Nam của Trung Quốc để mở rộng bờ cõi, mở rộng vành đai an ninh, tiến ra Ấn Độ Dương và xa hơn nữa, thì chúng ta sẽ rơi đúng vào thế trận mà Trung Quốc bày ra.
Bao giờ Trung Quốc rút lui yêu sách “đường lưỡi bò”, rút lui các yêu sách “Tam Sa”, “Tứ Sa”, thì mới có thể nói đến chuyện cùng khai thác. Nhưng không phải là khai thác chung trong khu vực thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, mà chỉ có thể là ở những khu vực biển cả ngoài phạm vi đó. Còn bất kỳ ai muốn vào Việt Nam khai thác đều phải chấp nhận luật pháp Việt Nam, theo luật đầu tư của Việt Nam và các quy định của Việt Nam về kinh tế biển.
Khi được hỏi về các “đề nghị” từ phía Trung Quốc liên quan đến việc “khai thác chung” ở khu vực Biển Hoa Đông – mà phía Nhật Bản gọi là quần đảo Senkaku, còn Trung Quốc gọi là Điếu Ngư – thì chính phủ Nhật Bản đã phản ứng rất kiên quyết. Nhật Bản bác bỏ hoàn toàn, không chấp nhận công thức “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”, bởi vế đầu tiên mà Đặng Tiểu Bình đưa ra đã là “chủ quyền thuộc vùng tranh chấp”.
Cho đến nay, chưa từng có bất kỳ kế hoạch hay hợp tác khai thác nào giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại khu vực này. Thái độ kiên quyết của Nhật Bản là một bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nhật Bản hiểu rằng nếu nhân nhượng một phần chủ quyền, Trung Quốc sẽ lấn tới. Vì vậy, vấn đề Senkaku là vấn đề sống còn của họ. Cuộc đấu tranh giữa Nhật Bản và Trung Quốc quanh Senkaku vẫn tiếp diễn, nóng hay lạnh tùy thuộc vào quan hệ Nhật – Trung, nhưng nguyên tắc chủ quyền thì không bao giờ thay đổi.
Sự nguy hiểm của Trung Quốc thể hiện rõ ở mức độ xâm lấn ngày càng lớn trên Biển Đông. Từ chỗ không có gì trước năm 1909, đến nay, nếu Việt Nam hay một số nước Đông Nam Á chấp nhận công thức “gác tranh chấp, cùng khai thác”, thì Trung Quốc không mất gì cả, mà chỉ được thêm. Lịch sử hàng ngàn năm cho thấy Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ tham vọng bành trướng, đặc biệt là hướng Nam.
Nếu Việt Nam và một số nước ASEAN sập bẫy công thức của Đặng Tiểu Bình, thì đó là con đường dẫn tới việc Trung Quốc từng bước thôn tính toàn bộ Biển Đông.
Việt Nam không bao giờ được chấp nhận phương án đó, cho dù bất kỳ ai hay bất kỳ thế lực nào tác động. Bởi nếu chấp nhận, Việt Nam sẽ mất tất cả: đã mất Hoàng Sa, rồi sẽ mất Trường Sa, và cuối cùng là mất biển – mất không gian sinh tồn, mất tương lai.
Chính sách tuyên truyền và lập trường gần đây của Trung Quốc trong đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) với ASEAN, với ba điều kiện cứng rắn gồm:
– Các bên phải chấp nhận “chủ quyền” của Trung Quốc ở Biển Đông.
– Không được khai thác với các nước ngoài khu vực nếu không có sự đồng ý của Trung Quốc.
– Không được tập trận, không được liên minh với các nước ngoài Đông Nam Á.
Đó là một quan điểm ngang ngược, bá đạo, coi thường luật pháp quốc tế, đi kèm với chính sách “chia để trị”, chia rẽ ASEAN để thao túng bằng kinh tế, đồng thời đẩy Mỹ ra khỏi khu vực.
Không còn là Việt Nam của 100 năm trước. Dù vẫn là một nước nhỏ, một nước nghèo, nhưng Việt Nam hôm nay có đủ trí tuệ, đủ chất xám, đủ năng lực để bảo vệ lập luận chính đáng của mình trước mọi luận điệu xâm phạm chủ quyền. Và tôi tin rằng, bất kỳ ai mang dòng máu Việt Nam cũng đều có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi chính đáng của đất nước trước tham vọng thôn tính của nhà cầm quyền Trung Quốc.
Hoàng Sa - Trường Sa thuộc về Việt Nam.
100 năm trước như vậy, bây giờ như vậy, và mãi mãi vẫn là của Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét