Chuyển đến nội dung chính

"Qua" và "Bậu"

- Sưu tầm từ "Góc nhìn An Nam" -

"Qua" và "Bậu" đều là đại từ nhân xưng đặc trưng của miền Trung và miền Nam ngày xưa. Nhưng nó được dùng nhiều nhất là ở vùng đất phương Nam.

"Qua" là ngôi thứ nhất, nếu dùng riêng lẻ là từ xưng hô của người lớn tuổi với người nhỏ tuổi, nghĩa là tôi (là cô, chú, bác, anh, chị), nhưng khi dùng chung với "Bậu" thì nghĩa là anh, là cách xưng hô của chồng với vợ hoặc của người con trai với người yêu hoặc với người mà họ có ngỏ ý thương mến.

"Bậu" là ngôi thứ hai, là từ thân thương mà người con trai dùng để gọi vợ hay người yêu hay người con gái mà họ đem lòng thương mến.

"Bướm xa hoa, bướm dật, bướm dờ

Qua đây xa Bậu đêm ngày chờ trông."

Theo GS Lê Ngọc Trụ (1909-1979) gốc của từ "Qua" do chữ wá, hay đọc đúng hơn là u_á đọc theo giọng Triều Châu của chữ "ngã" tức là "tôi". Cũng có giả thiết khác rằng sự liên hệ từ "Qua" với tiếng Mường và tiếng Nhật nhưng có lẽ lối giải thích của GS Lê Ngọc Trụ dễ chấp nhận hơn bởi sự giản dị.

“Hôm qua Qua nói Qua qua mà Qua hổng qua

Hôm nay Qua nói Qua hổng qua mà Qua qua.”

Từ "Qua" được dùng rất nhiều trong các tác phẩm của Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884-1958) như: Thầy Chung trúng số, Tơ hồng vương vấn, Sống thác với tình, Ai làm được... và nhiều tác phẩm khác nữa.

Nếu "Qua" đã là từ Triều Châu thì "Bậu" cũng rất có thể do âm Triều Châu mà ra. Nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914-1987) có đưa ra gốc từ tiếng Mạ nhưng sau khi bàn luận với người Triều Châu, thì trong tiếng Triều Châu "pa_u" hay "pấu" (giọng đọc khác nhau tùy vùng) là vợ, một danh từ bình thường và khi ghép vào một chữ nữa mới phân rõ ngôi thứ như "cha pấu", "cha pa_u" (vợ tôi) "deo pa_u" (vợ yêu) như ta dùng Hán Việt "tệ phu, tệ nội, hiền phụ, hiền thê...” Người Việt chung sống với người Triều Châu đọc trại là "bậu" và "Bậu" trở thành đại từ ngôi thứ hai.

"Bậu có chồng chưa, Bậu thưa cho thiệt

Kẻo Qua lầm tội nghiệp cho Qua."

Dù với cách lý giải nào thì từ "Qua" và "Bậu" cũng đều là từ ngoại lai. Tuy nhiên, khi được Việt hóa, "Qua" và "Bậu" trở thành những từ ngữ độc đáo của tình cảm thương yêu đôi lứa thật súc tích.

"Bậu qua phà Rạch Miễu, Qua lẽo đẽo theo sau.”

Qua- Bậu tiêu biểu cho ngôn từ Việt hóa của miền đất phương Nam, trong đó bên cạnh tiếng Hoa còn phải kể tiếng Pháp, tiếng Miên... Từ ngữ Việt hóa gốc Hoa phần nhiều được sử dụng giới hạn ở miền đất phương Nam là vì điều kiện chung sống, hội nhập nơi đây. Mặc dù, số từ ngữ Việt hóa rất nhiều nhưng đi vào ca dao, văn chương phương Nam mạnh mẽ nhất có lẽ là hai từ "Qua" và "Bậu" (chiếm hơn phân nửa).

"Trách mẹ với cha chớ Qua không trách Bậu

Cha mẹ ham giàu gả Bậu đi xa.”

"Bậu có chồng như cá vô lờ,

Tương tư nhớ Bậu, dật dờ năm canh."

"Bậu về kẻo mẹ Bậu trông,

Kẻo con Bậu khóc, kẻo chồng Bậu ghen."

"Ví dầu tình Bậu muốn thôi

Bậu gieo tiếng dữ cho rời Bậu ra

Bậu ra Bậu lấy ông câu

Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu.”

Nhà thơ Phạm Hải Đăng cũng sáng tác rất nhiều bài thơ có "Qua" và "Bậu" như:

BẼ BÀNG TÌNH QUA

Nói hoài Bậu hổng thèm nghe

Để Qua ấm ức đầy ghe đem dìa!

Vô tình trong buổi chiều kia

Bậu theo người khác, tình chia cách tình

Mình ên Qua đứng lặng thinh

Nhìn theo con nước lục bình trôi theo

Trách ên Qua kiếp bọt bèo

Sóng xô sóng đập, sóng leo mạn thuyền

Mé sông bến đợi mình ên

Bông Bần bông Mắm rơi lền trắng sông

Đường tình bạc bẽo long đong

Tình duyên dang dở đắng lòng Qua đau

Bậu ơi! còn có thương nhau

Cửa Vàm Qua đợi, trái sầu Qua mang

Sông năm bảy ngã đò ngang

Bậu không dìa nữa bẽ bàng tình Qua.

***

BẬU THÔI ĐƯA ĐÒ

Mưa chiều, Qua dõi mắt theo

Bến xưa tình cũ ai gieo câu thề

Bậu còn nhớ đến tình quê

Để Qua trông ngóng, khi về cô đơn

Bậu đi mưa gió dỗi hờn

Lòng Qua trĩu nặng như con đò chiều

Ngày nào tíu tít lời yêu

Tay Qua Bậu nắm nói điều mộng mơ

Sông Cửa Vàm thuở tình thơ

Qua thương Bậu nói: “mình chờ nhé Qua!"

Nào dè đâu, Bậu đã xa

Trầu cau chưa thắm, người ta lấy chồng

Đứng nhìn chim sáo sang sông

Để Qua lẻ bạn đau lòng Bậu ơi

Giờ đây, cách biệt phương trời

Quê nghèo miệt thứ, Bậu thôi đưa đò.

Ngày nay, "Qua" và "Bậu" đã trở thành dĩ vãng nhưng đối với những người con vùng đất phương Nam xưa, hai từ Qua - Bậu bình dị, chân quê này luôn gợi nhớ về một thời sơ khai với những tình cảm êm đềm, mộc mạc nhưng thấm đượm chân tình của những năm tháng cũ thân thương.

 Chuyện của Sơn

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...