Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

FBK. Quang Dang: LOGISTICS VIỆT NAM ĐẮT, KHÔNG PHẢI VÌ DOANH NGHIỆP YẾU

LOGISTICS VIỆT NAM ĐẮT, KHÔNG PHẢI VÌ DOANH NGHIỆP YẾU

(Mà vì chúng ta đang dùng phương thức đắt nhất làm trục chính )

Tôi nói thẳng một điều:

Logistics Việt Nam cao không phải vì doanh nghiệp vận tải kém. Cũng không phải vì thiếu cảng, thiếu xe hay thiếu đường.

Mà vì cấu trúc vận tải đang lệch.

Lệch ngay từ nền tảng.

________________________________________

1️. CHÚNG TA ĐANG DÙNG “GIẢI PHÁP TIỆN NHẤT” THAY VÌ “GIẢI PHÁP TỐI ƯU”

Hàng nặng, khối lượng lớn, giá trị thấp

→ lẽ ra phải đi thủy, đi biển, đi sắt.

Nhưng thực tế?

Phần lớn vẫn đi đường bộ.

Xe tải đang làm vai trò của sà lan.

Cao tốc đang gánh phần việc của tuyến vận tải ven biển.

Đó không phải tối ưu.

Đó là tiện.

Và “tiện” luôn đi kèm “đắt”.

________________________________________

2️. ĐƯỜNG BỘ 65–75% THỊ PHẦN – NGHE CÓ VẺ TỰ HÀO, NHƯNG THỰC RA LÀ CẢNH BÁO

Đường bộ là phương thức vận chuyển :

- Chi phí/tấn-km cao nhất

- Hao mòn hạ tầng nhanh nhất 

- Phát thải cao nhất

Ở các nền kinh tế tối ưu logistics, đường bộ chỉ làm nhiệm vụ kết nối cuối cùng.

Còn ở ta, nó đang làm trục chính.

Trục chính mà lại là phương thức đắt nhất, thì chi phí logistics cao là điều tất yếu.

Không cần đổ lỗi cho ai.

________________________________________

3️. CHÚNG TA ĐANG “ĐỐT TIỀN” TRÊN NHỮNG MẶT HÀNG BIÊN LỢI NHUẬN THẤP

Cát, đá, clinker, than, thép, nông sản, xi măng… Những mặt hàng này lời trên mỗi tấn không cao.

Nhưng lại bị chở bằng phương thức đắt.

Tôi hỏi thật các ông :

Lấy biên lợi nhuận mỏng mà gánh chi phí vận tải cao, thì doanh nghiệp sản xuất cạnh tranh bằng gì?

Cuối cùng ai trả giá?

- Doanh nghiệp

- Người tiêu dùng

- Hay cả nền kinh tế này

________________________________________

4️. VẤN ĐỀ KHÔNG NẰM Ở HẠ TẦNG RIÊNG LẺ

MÀ NẰM Ở TƯ DUY KẾT NỐI

Chúng ta đầu tư cảng.

Đầu tư cao tốc.

Đầu tư logistics center.

Nhưng kết nối đa phương thức còn yếu.

Đường sắt không ăn được vào cảng.

Thủy nội địa chưa được tổ chức bài bản.

Tàu ven biển nội địa chưa phát huy đúng vai trò.

Hệ quả?

Hàng hóa cứ “đổ” ra xe tải.

Vì dễ điều xe.

Vì linh hoạt.

Vì quen tay.

--> Nhưng linh hoạt không có nghĩa là rẻ.

________________________________________

5️. SO THẲNG LUÔN

Chi phí logistics/GDP:

- Mỹ ~8–9%

- Nhật ~8–10%

- EU ~10–12%

- KV Đông Nam Á  bình quân ~13-14%

- Việt Nam ~19–20%

Chênh lệch này không thể giải thích bằng câu chuyện “doanh nghiệp ta nhỏ”.

Nó là vấn đề bài toán về cấu trúc. Một khi cấu trúc sai thì càng tăng trưởng nhanh, càng đốt nhiều tiền.

________________________________________

6️. NÓI THẬT VỚI NHAU

Nếu tiếp tục để đường bộ gánh vai trò chủ đạo, thì :

- Hạ tầng sẽ nhanh xuống cấp

- Chi phí vận tải khó giảm sâu

- Áp lực môi trường ngày càng lớn

- Áp lực kẹt xe và trật tự an toàn giao thông 

- Sức cạnh tranh nền kinh tế rất yếu và có nguy cơ tụt hậu cao.

Giảm vài loại phí vặt vãnh không cứu được bài toán tổng thể.

Phải điều chỉnh lại vai trò từng phương thức.

- Đường thủy nội địa phải là xương sống cho hàng rời.

- Vận tải biển nội địa phải mạnh hơn nữa.

- Đường sắt phải được kéo lại đúng vị trí ( việc này cần tái cấu trúc lại TCT Đường sắt VN )

Đường bộ nên trở về đúng vai trò: kết nối.

________________________________________

7️. QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN

Tôi làm trong nghề đủ lâu để thấy một điều :

Khi cấu trúc vận tải chưa hợp lý, mọi nỗ lực tối ưu ở cấp doanh nghiệp chỉ giải quyết phần ngọn.

Muốn logistics giảm bền vững, phải tái cấu trúc thị phần phương thức.

Đây không phải chuyện một năm. Nhưng phải bắt đầu ngay từ ngày hôm nay.

Càng chậm, chi phí cơ hội càng lớn.

________________________________________

8️. LỜI KẾT

Logistics không chỉ là câu chuyện giao nhận. Nó là năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nếu chúng ta tiếp tục dùng phương thức đắt nhất để chở những mặt hàng rẻ nhất, thì dù sản xuất có tăng, biên lợi nhuận quốc gia vẫn bị bào mòn.

Cấu trúc mới quyết định tương lai. Chứ không phải có thật nhiều số km cao tốc để tự hào.

Anh em làm ngành thấy hữu ích thì follow để cập nhật thường xuyên.

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

FBK. Linh Lê: KGB của đồng chí Putin từng thọc gậy bánh xe ngăn chặn Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam thế nào?

KGB của đồng chí Putin từng thọc gậy bánh xe ngăn chặn Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam thế nào?

Việt Nam chính thức hết bị Mỹ cấm vận thương mại vào ngày 3 tháng 2 năm 1994, khi cựu Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận kéo dài 19 năm. Sau đó, hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào ngày 11 tháng 7 năm 1995. Sự kiện này mở đường cho sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam. 

Đại sứ Việt Nam ở Mỹ là đồng chí Lê Văn Bàng kể: “Chính phủ Bill Clinton đang có những bước đi tích cực với VN, đột nhiên lại có những “tài liệu mới” về tù binh Mỹ mất tích ở VN.

Và giáo sư Stephen Morris bất ngờ công bố tài liệu mật nói rằng thượng tướng Trần Văn Quang đã từng báo cáo với Bộ Chính trị về vấn đề đưa tù binh Mỹ sang Liên Xô”.

Để “củng cố sự thật 100%” tài liệu này, Morris tuyên bố lấy được trong một chuyến công tác ở Matxcơva, Nga. Đặc biệt lại xuất hiện thêm nhân vật Kalugin, sĩ quan KGB lưu vong ở Mexico, phụ họa thêm là “hình như là có tài liệu mật đó”.

Trong dư luận Mỹ còn rộ thông tin cho rằng Liên Xô muốn tiếp cận phi công Mỹ qua nguồn tù binh VN để tìm hiểu máy bay chiến đấu và kỹ thuật tác chiến của không lực đối phương...

Báo Tuổi Trẻ ngày 8/7/2015 có tít "Sóng gió từ “tài liệu mật của KGB”...theo đó, cố Thượng tướng Trần Văn Quang trả lời Tuổi Trẻ ngay sau cuộc gặp tướng John Vessey, đặc phái viên của tổng thống Mỹ:

+ Thượng tướng có ý kiến như thế nào về cái gọi là “tài liệu Nga” đang được tranh luận ầm ĩ trên báo chí Mỹ?

- Tôi xin tuyên bố đó là một tài liệu giả mạo, một sự bịa đặt. Bởi đơn giản là hoàn toàn không có chuyện đó. Đồng thời đó còn là một hành động thiếu đạo đức, gây nhức nhối trong tình cảm ở những gia đình có thân nhân mất tích trong chiến tranh Việt Nam, nhằm mục đích phá hoại tiến trình quan hệ hợp tác và tạo tâm trạng căng thẳng giữa hai nước.

+ Những người tung tài liệu này ra cho rằng ông đã viết nó tại Hà Nội và báo cáo Bộ Chính trị vào tháng 9-1972...

- Ồ, không đúng. Trong suốt thời gian chiến tranh, khi thì tôi ở B2 (các tỉnh Nam bộ cũ), khi thì ở B4 (các tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên - Huế), mãi đến năm 1973 tôi mới ra ngoài này chữa bệnh. Năm 1972 tôi đang là tư lệnh mặt trận B4 và vào thời điểm đó tôi đang công tác trong Nam, chứ không phải ở Hà Nội.

+ Và đó cũng là điều mà thượng tướng trình bày với tướng J. Vessey hồi nãy?

- Vâng. Tôi đã nói với tướng J. Vessey là trong suốt thời gian chiến tranh, tôi chưa hề làm một báo cáo nào về tù binh Mỹ. Đơn giản là tôi không phải là người phụ trách về vấn đề đó và đó không thuộc quyền hạn của tôi. Thứ hai là trong suốt thời gian từ 1961 - 1973, đặc biệt là vào năm 1972, tôi không công tác ở Hà Nội và cũng không phải là phó tổng tham mưu trưởng.

Xin nói thêm là trong suốt cuộc chiến tranh, tôi chưa có cuộc tiếp xúc nào với tù binh Mỹ cả. Tôi phụ trách công tác địch vận thời kỳ chống Pháp và có gặp nhiều tù binh Pháp. Còn sau này đối với tù binh Mỹ thì không.

Về dư luận bịa đặt là tù binh Mỹ còn bị giam giữ ở Việt Nam, tôi cho rằng không có cách bác bỏ nào khác hơn là bằng chính sự thật vậy.

+ Trong cuộc tiếp xúc với thượng tướng, ý kiến của tướng J. Vessey thế nào?

- Trong cuộc gặp vừa rồi, tướng J. Vessey có nói với tôi hai điều. Một là nội dung tài liệu đó không được chính xác. Thứ hai, ông biết rõ vào thời điểm đó tôi không ở Hà Nội.

Trước khi chia tay, tướng J. Vessey có tuyên bố với tôi là “chúng ta đã hiểu nhau hơn và cuộc gặp gỡ đã đạt được kết quả”. Và đó cũng là ý kiến của tôi.

https://share.google/yIZUiNjmeKB349PAv

May mắn thời đó khổ quá, lãnh đạo kiên quyết thoát Nga bình thường hoá với Mỹ..nếu không thì chúng ta còn khổ hơn Cuba vạn lần, vì bị 127 nước cấm vận. Vậy mà cho đến bây giờ vẫn còn nhiều kẻ mù quáng đến vô liêm sỹ tôn thờ thằng khốn KGB - 74 tuổi!

---------------

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

Nguyễn Cảnh Bình: Sự thất bại của sĩ phu Bắc Hà trong phát minh ngôn ngữ riêng và thách thức hôm nay

Sự thất bại của sĩ phu Bắc Hà trong phát minh ngôn ngữ riêng và thách thức hôm nay.

(Suy nghĩ khi đọc sách của Park Chung Hee, phần viết về chữ viết của Triều Tiên, công trình vĩ đại của vua Sejong...) 

Có một nghịch lý cay đắng trong lịch sử chữ nghĩa của người Việt: chúng ta nói tiếng Việt, sống bằng tiếng Việt, thở bằng tiếng Việt — nhưng hàng trăm năm, con đường danh vọng và “tư cách trí thức” lại đi qua một thứ ngôn ngữ khác. Ở Bắc Hà, cái gọi là học vấn thường đồng nghĩa với Hán học: kinh điển, đối sách, văn sách, thơ phú… Tinh hoa tự định nghĩa mình bằng khả năng điêu luyện trong một hệ chữ không sinh ra để phục vụ tiếng Việt.

Thế là, ngay trong chính trung tâm sản xuất tri thức, có một “đường gãy”: tiếng nói của dân và chữ viết của nhà nước không gặp nhau.

1) Khi chữ viết trở thành rào chắn, không phải cây cầu nối tri thức.

Trong một xã hội phong kiến khi mà phần lớn dân chúng mù chữ, chữ viết đáng lẽ là cây cầu kéo tri thức tới đám đông. Nhưng ở Bắc Hà, chữ viết lại giống một cổng thành: ai vượt qua được thì thành “người trong”, ai không vượt qua được thì mãi đứng ngoài.

Sĩ phu Bắc Hà không thiếu tài năng. Vấn đề là họ bị trói bởi một hệ động lực: khoa cử thưởng cho Hán văn; địa vị đi cùng “văn chương chữ thánh hiền”; tính chính danh của nhà nước nằm trong khuôn Nho giáo.

Trong hệ sinh thái ấy, việc tạo ra một chữ viết dễ học cho đại chúng không phải là “vinh quang” mà có thể bị xem là phá chuẩn, thậm chí hạ thấp giá trị của chính họ. Chữ viết, thay vì mở cửa tri thức, lại vô tình bảo vệ độc quyền tri thức.

2) Chữ Nôm: nỗ lực có thật, nhưng không đủ để trở thành “hạ tầng phổ cập”

Người Việt không phải không sáng tạo. Chữ Nôm là một kỳ công văn hóa. Nhưng chữ Nôm giống như xây thêm tầng trên nền nhà chữ Hán: để dùng sâu, thường phải có nền Hán học; hệ thống ký tự nhiều, khó chuẩn hóa, khó phổ cập nhanh.

Chữ Nôm làm được điều quan trọng: viết được tiếng Việt trong văn chương.

Nhưng nó không làm được điều mang tính cách mạng: giảm mạnh “giá thành biết chữ” cho dân thường.

Và đây chính là điểm phân rẽ vận mệnh giữa Việt Nam với hai câu chuyện láng giềng: Nhật Bản và Triều Tiên: chữ viết riêng như một đòn bẩy tri thức dân tộc

3) Nhật Bản: Kana – khi xã hội tự tạo “đường tắt” để viết tiếng mình

Nhật cũng bắt đầu từ chữ Hán. Nhưng họ sớm tìm ra cách “lách”: dùng chữ Hán để lấy âm, rồi rút gọn dần thành kana. Kana là một chiến thắng mang tính xã hội: nó xuất phát từ nhu cầu viết nhanh, ghi chú, thư từ, văn chương.

Khi kana xuất hiện, người Nhật có ngay một công cụ: ghi được ngữ pháp và tiếng nói bản địa; mở rộng văn chương dân tộc; tạo nền cho một truyền thống viết dễ tiếp cận hơn so với thuần Hán văn. Nói cách khác, kana giúp tiếng Nhật có chỗ đứng ổn định trong thế giới chữ nghĩa, không bị giam trong “vỏ Hán”.

4) Triều Tiên: Hangeul – một cuộc cách mạng có chủ đích để “dạy dân”

Nếu kana là đường tắt do xã hội mở ra, thì Hangeul là một “công trình quốc gia” về chữ viết: mục tiêu của nó không phải để giới trí thức viết hay hơn, mà để dân thường đọc được.

Ý nghĩa lịch sử của Hangeul nằm ở chỗ: nó biến chữ viết thành hạ tầng phổ cập. Khi một dân tộc sở hữu một hệ chữ dễ học, tri thức không còn là đặc quyền của thiểu số. Văn bản, hướng dẫn, kiến thức, luật lệ… có thể “chảy” rộng hơn, sâu hơn.

Vì vậy, Hangeul không chỉ là bảng chữ cái. Nó là một công cụ dân chủ hóa tri thức và củng cố bản sắc: tiếng nói dân tộc bước vào trung tâm đời sống chữ nghĩa mà không cần xin phép một hệ chữ ngoại lai.

5) Trở lại Bắc Hà: thất bại nằm ở chỗ không biến tiếng Việt thành “ngôn ngữ của tri thức”

Đặt cạnh Nhật và Triều Tiên, “yếu kém” của sĩ phu Bắc Hà không phải vì họ kém thông minh hay không biết yêu nước. Nó nằm ở một điều tinh vi hơn:

Họ không (hoặc không thể) biến việc viết tiếng Việt dễ dàng thành một ưu tiên thể chế và văn hóa đủ mạnh để thắng.

Nhật có kana: tiếng Nhật được ghi lại dễ hơn, văn chương dân tộc nở rộng. Triều Tiên có Hangeul: tiếng Hàn thành công cụ giáo hóa và phổ cập. Việt Nam có chữ Nôm: tiếng Việt có văn chương, nhưng tri thức phổ thông vẫn bị chặn bởi chi phí học chữ quá cao và thiếu chuẩn hóa dài hơi.

Trong nhiều thế kỷ, tri thức ở Bắc Hà giống như nước ở trên núi: có nguồn, có dòng, nhưng không có hệ thống kênh mương để đưa xuống đồng bằng.

6) Và rồi… may mắn thay

Dù sao cũng may mắn thay, đầu thế kỷ 20, chữ Quốc ngữ được phổ biến rộng và trở thành chữ viết chính thức. Từ đó, “giá thành biết chữ” giảm mạnh: học nhanh, viết nhanh, in nhanh.

Và khi chữ Quốc ngữ gặp:

 • máy in,

 • báo chí,

 • xuất bản,

 • rồi internet,

tri thức dân tộc được nhân lên theo cấp số nhân: ý tưởng lan nhanh hơn, tranh luận rộng hơn, khoa học–kỹ thuật–văn hóa có “đường cao tốc” để lưu thông. Chính sự kết hợp giữa một hệ chữ dễ học và hạ tầng truyền thông hiện đại đã mở ra nền tảng thật sự cho quá trình hiện đại hóa.

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

Edwards Deming

 Edwards Deming

Copy từ Facebook Lê Công Thành

1. Có một nghịch lý mà lịch sử quản trị hiếm khi kể thẳng: người đàn ông làm thay đổi nền công nghiệp Nhật Bản không phải người Nhật, và đất nước sinh ra ông thì bịt tai trước ông suốt bốn mươi năm.

W. Edwards Deming đặt chân đến Tokyo năm 1950 với danh xưng nhà thống kê. Ông rời khỏi đó với vầng hào quang của một vị thánh - ít nhất trong mắt những nhà sản xuất từng đứng giữa đống gạch vụn còn ngổn ngang sau bom đạn. Nước Mỹ thời ấy say men chiến thắng, và kẻ say thì không bao giờ tự hỏi mình đang lảo đảo ở đâu. Nhật Bản, ngược lại, sở hữu thứ mà mọi đế chế đều đánh rơi khi leo tới đỉnh: sự khao khát tuyệt vọng của kẻ tay trắng.

Deming dạy họ một điều tưởng hiển nhiên nhưng đủ sức lật úp mọi giáo điều quản trị đương thời - rằng chất lượng không phải cái đích cắm sẵn ở cuối đường, mà là chính bước chân đang đi. Ngừng cải tiến tức là bắt đầu mục ruỗng. Không có đường thẳng nào nối từ thành công hôm nay đến thành công ngày mai. Giữa hai điểm ấy là một khoảng trống mà chỉ sự khiêm nhường mới lấp nổi.

Câu chuyện ấy, thoạt nghe, thuộc về thế kỷ hai mươi. Nhưng cái bóng của nó dài hơn người ta tưởng. Bởi ở bất kỳ thời đại nào, luôn có một nước Mỹ đang ngủ quên trên chiến thắng cũ, và luôn có một Nhật Bản đang mở mắt giữa đống tro.

2. Thí nghiệm nổi tiếng nhất của Deming không cần phòng lab, không cần thiết bị đắt tiền. Chỉ cần một thùng hạt, một cái khay, và sáu người công nhân sẵn sàng làm theo lệnh.

Thùng hạt trộn lẫn trắng và đỏ. Trắng là sản phẩm đạt, đỏ là phế phẩm. Nhiệm vụ: múc sao cho chỉ được hạt trắng. Họ cố gắng. Họ tập trung. Họ tỉ mỉ đến từng cái nhúng tay. Nhưng lần nào khay cũng lấm tấm đỏ. Không phải vì họ vụng về. Mà vì trong thùng vốn dĩ đã có hạt đỏ - và không ai, dù tận tụy đến mấy, có thể vắt ra kết quả tinh khiết từ một hệ thống đã nhiễm bẩn sẵn.

Thí nghiệm ấy là bản cáo trạng lặng lẽ nhất từng được viết cho toàn bộ triết lý quản trị dựa trên thưởng-phạt cá nhân. Deming không cần lên giọng. Ông chỉ cần để những hạt đỏ tự nói thay mình.

Khi nhân viên mắc sai lầm, phản xạ đầu tiên của người quản lý gần như luôn là: “Tại sao anh làm ẩu?” Deming đề nghị một câu hỏi khác - khó chịu hơn, nhưng trung thực hơn: “Quy trình nào đã cho phép sai sót này lọt lưới?” Câu hỏi thứ nhất truy tìm thủ phạm. Câu hỏi thứ hai truy tìm nguyên nhân gốc. Khoảng cách giữa hai câu hỏi ấy chính là khoảng cách giữa một tổ chức chỉ biết chỉ tay và một tổ chức biết cúi xuống.

Một người giỏi đặt vào hệ thống tồi sẽ thua hệ thống. Mỗi lần. Không ngoại lệ. Muốn thay đổi kết quả, hãy thôi sửa con người - hãy sửa cái thùng chứa hạt đỏ.

3. Deming không phát minh ra chu trình Plan–Do–Check–Act. Ông thừa hưởng nó từ Shewhart, người thầy mà ông nhắc đến với sự kính trọng hiếm thấy ở một trí thức tầm cỡ. Nhưng Deming là người biến nó từ công cụ thống kê thành triết lý sống - một vòng xoáy không có điểm dừng, nơi mỗi chu kỳ khép lại đồng thời mở ra chu kỳ tiếp theo ở tầng cao hơn.

Bản chất của PDCA không nằm ở bốn chữ cái. Nó nằm ở hình tròn - ở cái ý tưởng giản dị mà tàn nhẫn rằng không có trạng thái hoàn thành, chỉ có trạng thái đang-trở-thành. Người Nhật gọi tinh thần ấy là Kaizen: không cần bước nhảy vọt, chỉ cần hôm nay nhỉnh hơn hôm qua một chút. Cái một-chút ấy, tích lũy qua đủ tháng năm, tạo ra khoảng cách mà không cú nhảy đơn lẻ nào bắt kịp.

Đây là phương pháp khoa học khoác áo doanh nhân. Giả thuyết - thí nghiệm - quan sát - điều chỉnh. Không hào nhoáng, không kịch tính, không thiên tài cô đơn bừng tỉnh giữa đêm khuya. Chỉ là kỷ luật của việc thử-và-sai có chủ đích, lặp đi lặp lại, kiên nhẫn đến nhàm chán, cho tới khi sự tầm thường rút lui nhường chỗ cho sự xuất sắc.

Agile, Scrum, “fail fast, learn fast” - những thuật ngữ thời thượng của thung lũng Silicon - đều là cháu chắt của vòng tròn ấy, dù phần lớn người sử dụng chúng không biết ông tổ mình là ai. Và cái mà Deming sợ nhất không phải sai lầm - sai lầm còn sửa được. Ông sợ sự trì trệ - cái trạng thái mà một tổ chức ngừng đặt câu hỏi với chính mình, rồi bắt đầu nhầm tưởng thành công hôm nay là giấy bảo hành cho ngày mai.

4. Trong mười bốn nguyên tắc quản trị của Deming, điểm thứ tám ít mang tính kỹ thuật nhất, nhưng lại khiến những người ngồi trên ghế quyền lực mất ngủ nhiều nhất: Xua đuổi nỗi sợ hãi.

Ba chữ ấy giản dị đến mức dễ bị lướt qua. Nhưng Deming hiểu rằng nỗi sợ là thứ thuốc độc không màu không mùi, ngấm vào mạch máu tổ chức từ bên trong. Nơi nào nhân viên sợ sếp, sợ sai, sợ cái bóng của phong bì sa thải - nơi ấy sai sót không biến mất, chúng chỉ được chôn sâu hơn. Số liệu không phản ánh thực tế mà phản ánh điều cấp trên muốn nghe. Báo cáo trở thành tiểu thuyết. Và cả tổ chức bắt đầu vận hành trên một phiên bản hư cấu của chính mình.

Chất lượng thật - không phải thứ được in trên băng rôn hay đóng khung treo tường - chỉ nảy sinh trong không khí tin cậy. Deming ghê tởm những khẩu hiệu rỗng tuếch kiểu “Không sai sót” treo khắp nhà máy, trong khi công nhân không có đủ công cụ lẫn quyền hạn để biến lời hứa ấy thành hiện thực. Khẩu hiệu không tạo ra chất lượng. Khẩu hiệu tạo ra áp lực. Và áp lực không có lối thoát thì chỉ đẻ ra hai thứ: sự dối trá, hoặc sự cay đắng.

Cụm từ “an toàn tâm lý” mà giới công nghệ hôm nay rao giảng như thể vừa khai quật được châu Mỹ, thực ra đã được Deming đào móng từ nửa thế kỷ trước. Một tổ chức thông minh không phải nơi mọi người luôn đúng - mà là nơi ai đó dám nói rằng có điều gì đang sai, và không phải trả giá cho sự thành thật ấy.

5. Deming qua đời năm 1993, ở tuổi chín mươi ba, bàn tay vẫn còn đang viết. Tại Nhật Bản, giải thưởng quản trị danh giá nhất mang tên ông. Chân dung ông treo trang trọng giữa trụ sở Toyota - một người Mỹ, giữa lòng biểu tượng công nghiệp Nhật Bản, như một minh chứng lặng lẽ rằng tri thức không mang quốc tịch, và lòng biết ơn đôi khi bền bỉ hơn cả thù hận mà chiến tranh để lại.

Di sản ông để lại không phải một bộ công cụ mà ai cũng có thể bê nguyên về áp dụng. Đó là một lối nghĩ - rằng quản trị đích thực không dựa trên kiểm soát, mà dựa trên tri thức và sự tôn trọng con người. Rằng chất lượng không phải chuyện của phòng kiểm định ở cuối dây chuyền. Nó được tạo ra - hoặc bị bóp chết - ngay tại phòng giám đốc.

Nhưng di sản nào cũng mang trong nó một vết nứt chưa ai hàn kín, và di sản Deming cũng vậy. Ông cực lực phản đối hạn ngạch, phản đối việc cai trị bằng con số, phản đối KPI - bởi tin rằng chúng biến người lao động thành kẻ gian lận bất đắc dĩ, hy sinh chất lượng để chạy theo chỉ tiêu. Nhưng thế giới ông rời đi lại là thế giới vận hành gần như hoàn toàn bằng những con số ấy. “Cái gì đo được thì quản được” - câu thần chú đối nghịch đã thắng trên chiến trường thực hành, dù chưa hẳn đã thắng trên mặt trận chân lý.

Có lẽ đó là câu hỏi mà Deming cố tình bỏ lại cho hậu thế: Liệu có thể xây dựng một tổ chức không dựa trên nỗi sợ, không dựa trên hạn ngạch, không dựa trên dây cương kiểm soát - mà vẫn đứng vững giữa thế giới nơi mọi thứ đều bị cân đo đong đếm? Hay chính cái không-thể-trả-lời của câu hỏi ấy mới là thứ giữ cho vòng tròn PDCA không bao giờ ngừng quay?

Đỗ Cao Sang: TÊN NGƯỜI - NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ

TÊN NGƯỜI - NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ

- Đỗ Cao Sang -

Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào chỉ ra cụ thể về lịch sử hình thành tên người. Mỗi chúng ta đều có một cái tên nhưng rất nhiều người không hiểu rõ ràng về ý nghĩa của chính tên mình, đặc biệt là người phương Tây. Môn nghiên cứu tên người đã được hình thành với tên gọi là danh tính học giúp ta phần nào hiểu những điều bí ẩn và ý nghĩa của các tên gọi.

Theo từ nguyên học, các tên dùng trên thế giới hiện nay đều có nghĩa. Điều này chứng tỏ rằng các tên gọi đều có gốc gác là những từ vựng bình thường. 

Mặc dù các nền văn hoá đều có việc đặt tên nhưng phong tục dùng tên của các dân tộc trên thế giới rất khác nhau. Có những nơi, như  ở Indonesia, tên chỉ là dấu hiệu để phân biệt người này với người khác. Trái lại, ở Trung Quốc, tập quán đặt tên và văn hoá tên gọi vô cùng phức tạp. Ngoài tên gọi thông thường, đàn ông Trung Quốc thường có nhiều tên gọi được đặt theo từng giai đoạn tuổi tác khác nhau. Đặt tên cho con cái ở TQ nói riêng và các nước ảnh hưởng văn hoá TQ ở Châu á nói chung đã trở thành vấn đề trọng đại trong mỗi gia đình.

Mục đích đầu tiên của tên là phân biệt các cá nhân với nhau.

Hãy tưởng tượng thế giới này sẽ ra sao khi người ta không có tên gọi riêng. Thay vì nói : “David là bác sỹ”, người ta phải làm cả một câu: “Người đàn ông cao, đẹp trai sống ở đường Regent là bác sỹ”.

Ngoài ra, với từng dân tộc khác nhau, tên người còn có những ý nghĩa khác. ở Trung quốc, tên người phản ánh cả dòng họ, chi phái trong một tổ tông. Với một số dân tộc Châu Phi, tên người còn cho phép phân biệt thứ tự ai ra đời trước trong một gia đình chung cha mẹ.

Hãy xem cấu trúc tên của người Châu Âu.

Mỗi người sau khi sinh ra sẽ được đặt cho một cái tên, gọi là given name. Trái với family name, given name không kế thừa qua các đời. Tại Châu Âu và Bắc Mỹ, given name được đặt trước family name (hay còn gọi là surname hay last name). Người ta gọi tên đó là first name hay fore-name. Đôi khi họ còn gọi là Christian name.

Với những nước nói tiếng Anh, tên lót, hay tên giữa (middle name) được coi là một given name thứ hai. Hầu như ai cũng có ít nhất một middle name. Khi phải diễn tả tên đầy đủ, người ta đặt nó vào giữa first name và family name (hay last name/surname). Một số người viết middle name của họ ở dang viế tắt trước first name như George W. Bush. Đôi khi người ta còn thích dùng middle name hơn cả first name. cho nên khi giao tiếp, chúng ta cần chú ý đến sở thích dùng tên của người đối thoại với mình để có cách gọi phù hợp. Hãy hỏi rõ, bạn muốn tôi gọi bạn là gì nhỉ, trước mỗi cuộc gặp gỡ. 

Vậy family name (còn gọi là surname) là gì?

Là tên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không nên nhầm lẫn mà so sánh nó với cái gọi là họ ở văn hoá gọi tên Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam. Vì người con gái Phương Tây có thể thay đổi familyname của mình bằng family name của chồng.

ở Châu Âu, familyname được sử dụng từ thế kỷ 12th, nhưng vài thế kỷ sau nó mới trở nên phổ biến. Mục đích nguyên thuỷ, ban đầu của surname là phân biệt rõ hơn người này với người khác.

Số là vào thế kỷ 13th ,có đến một phần ba số đàn ông Châu Âu dùng firstname là John, William, Richard. Để phân biệt các cá thể khác nhau, người ta phải nói thêm cho rõ. Chẳng hạn, có nhiều William khác nhau, thì họ nói “William con trai ông John (the son of John)” hay tiếng Anh viết kiểu sở hữu cách là “John’s son”. Thế là dần dần cái tên Johnson ra đời. Tương tự như vậy với Anderson, Thomson, Marison, Edison, Harrison,…Ngoài ra người ta còn có thể nói “William làm đầu bếp (Cook)” hay “William có mái tóc nâu (Brown)”… Thế là tên Cook, Browm… cũng ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Các surname từ đó được truyền từ đời cha mẹ sang đời con cái.

Có thể chia surname theo bốn nhóm sau:

- Surname có gốc gác từ given name như Johnson, Williams, và Thomson…Phần lớn chúng được đặt theo tên cha nhưng đôi khi cũng có trường hợp lấy theo tên mẹ.

- Surname có gốc gác nghề nghiệp như Smith (thợ rèn), Clark(người thu ngân), Wright (nhà viết kịch).

- Surname có gốc tích là địa danh cư trú của người mang tên đó như Hill, Woods, Ford....

- Surname có gốc gác là tên riêng (nickname) như Longman, Young, White,...

Như đã nói, tên người đều có ý nghĩa và nguồn gốc cả. Có những cái tên có ý nghĩa rõ ràng như Thanh, Nguyệt, Phong. Có nhiều tên được đặt theo kỷ niệm hoặc sự kiện riêng có của mỗi người như Trường Sơn, Hoà Bình...Nhưng điều khó khăn chính là truy nguyên và tìm ý nghĩa tên của người phương Tây.

Sau đây là những ví dụ điển hình nhất:

Madona có gốc Latin, nghĩa là “my lady”.

Mark theo tên của thánh Mark, gốc là Marcus, tác giả của bản sách phúc âm thứ hai trong kinh Tân ước. Ông là thánh bảo hộ của thành Venice. Hai người có tên này nổi tiếng trong lịch sử là Mark Antony (người tình của Cleopatra) trong lịch sử La mã cổ đại và nhà văn Mark Twain.

George có gốc ngôn ngữ Latin chắp từ hai từ có nghĩa là earth và work.

Vì chúa Jesus tên thật là Christ nên ở Châu âu rất nhiều người cũng đặt tên theo vị thánh này. Tương tự như Maria, Joseph…. Cũng phải nói thêm rằng ở văn hoá phương Tây, người ta yêu kính ai thì đặt tên con mình theo người đấy. Điều này khác hẳn ở VN và TQ, người ta sợ nhất là đặt trùng tên với người hơn tuổi hoặc đã mất trong dòng họ, coi đó là việc bất kính. Đặt tên “phạm huý” nghĩa là có tên giống vua chúa, hay hoàng thân quốc thích… đều mang tội nặng, thậm chí có thể bị xử chết.

Nguồn gốc việc ra đặt tên cho trẻ em cũng lắm điều thú vị. Với quốc gia nào cũng vậy, người ta thường đặt tên con mình theo những người nổi tiếng, những chính trị gia, những ngôi sao màn bạc tên tuổi. đương nhiên ai cũng tránh tên những nhân vật phản diện nổi lên trong phim ảnh, sách báo mà xã hội đều biết. Chẳng hạn, ở VN, chẳng ai đặt tên con mình là Sở vì chẳng ai yêu thích gì tên lật lọng Sở Khanh trong truyện Kiều. Hay là gần đây, người ta cũng ít đặt tên con mình là Chí, chỉ vì sợ cái tên Chí Phèo ám ảnh. Còn ở nước Anh, hiện nay có đến năm ngàn trẻ em tên là Backham (tên của cầu thủ người Anh hào hoa, tài ba bậc nhất giới thể thao).

Ngoài ra, mỗi dân tộc đều trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm riêng và yếu tố này cũng ảnh hưởng nhiều đến việc đặt tên người, người ta có thể nghiên cứu lịch sử các dân tộc qua tên người. Với nước Nga, cái tên Cachiusa rất phổ biến sau đại chiến thế giới lần thứ 2 vì trong thời kỳ này, bài hát về cô gái Cachiusa nào đó đã gây xúc động không ít tâm hồn người dân Nga. Nó nổi tiếng và phổ biến chẳng khác nào “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của VN vậy. Trước những năm 80, thời kỳ mưa bom bão đạn, nhạt muối vơi cơm, rất nhiều trẻ em VN mang tên Trường Sơn, Chiến Thắng, Nhất Thống, Hoà Bình… Những cái tên chứa đầy dấu ấn, kỷ niệm, phản ánh ước mơ, khát khao cháy bỏng của nhân dân ta mà đến bây giờ còn gây không ít xúc động.

Như vậy tìm hiểu về tên người, chúng ta hiểu được rằng bất cứ cái tên nào đều có và nên có một ý nghĩa nhất định. Bởi thế ngày nay, người ta không còn cẩu thả khi gọi tên con cái như trước nữa. Nắm được tâm lý này, đã xuất hàng chục trang website và đầu sách nói về cách đặt tên con cho các bậc cha mẹ tham khảo. Còn với các nhà sử học, nghiên cứu tên người cũng trợ giúp không nhỏ trong lĩnh vực riêng của họ. Tuy nhiên, trên bình diện ngôn ngữ, vấn đề tên người vẫn còn nhiều điều cần được tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể, khoa học hơn.  

Hanoi, ngày 07 tháng 2 năm 2018

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

“GDP đẹp mới đáng sợ”?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa là cháu ruột cố TBT Nguyễn Văn Linh viết gì?

 (Bài viết bên dưới)

1️⃣ Vì sao ông ấy nói “GDP đẹp mới đáng sợ”?

Hiểu đơn giản thế này:

GDP giống như doanh thu của một gia đình.

Tháng này nhà bạn thu về 50 triệu → nghe rất đã.

Nhưng nếu 30 triệu là tiền vay ngân hàng,

10 triệu là bán đất,

10 triệu còn lại mới là tiền làm ra thật…

Thì tháng đó có thật sự “giàu lên” không?

👉 GDP chỉ là tổng tiền làm ra. 👉 Nó không nói:

Dân có khá hơn không?

Thu nhập có đủ sống không?

Tương lai có vững không?

Tăng nhanh mà không biết tăng từ đâu → mới nguy hiểm.

---

2️⃣ Tăng trưởng có 2 kiểu

Kiểu 1: Tăng vì giỏi hơn

Làm ra sản phẩm giá trị cao hơn.

Công nghệ tốt hơn.

Doanh nghiệp Việt mạnh hơn.

Lao động Việt làm ra nhiều tiền hơn.

➡️ Đây là tăng trưởng khỏe.

---

Kiểu 2: Tăng vì “bơm mạnh”

Vay thêm tiền.

Xây dựng nhiều.

Đẩy đầu tư công.

Bất động sản sôi lên.

FDI vào nhiều.

➡️ GDP vẫn tăng. ➡️ Nhưng giống như tăng cân vì mỡ, không phải cơ.

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa đang cảnh báo:

> Việt Nam có nguy cơ tăng theo kiểu thứ hai nhiều hơn kiểu thứ nhất.

---

3️⃣ FDI: Món quà hay thuốc gây nghiện?

FDI là gì?

Là công ty nước ngoài vào mở nhà máy.

Ưu điểm:

Có việc làm.

Có xuất khẩu.

Có GDP.

Nhược điểm:

Công nghệ lõi họ giữ.

Linh kiện họ nhập.

Lợi nhuận lớn họ mang về.

Ta chủ yếu lắp ráp.

Hiểu đơn giản:

Ta cho thuê đất + lao động

Họ giữ phần thông minh nhất.

Nếu làm vậy 5–10 năm để học hỏi → tốt.

Nếu làm vậy 30 năm → dễ lệ thuộc.

---

4️⃣ Nguy hiểm nhất: Trung lưu không lớn lên

Một đất nước muốn bền phải có tầng lớp trung lưu mạnh.

Trung lưu là ai?

Người có thu nhập đủ sống,

Có tích lũy,

Có tiền cho con học,

Có khả năng tiêu dùng.

Nếu:

Nhà cửa tăng giá nhanh hơn lương,

Giáo dục – y tế đắt đỏ,

Làm việc nhiều nhưng không để dành được…

Thì dù GDP tăng, người dân vẫn thấy “không khá lên”.

Khi đó:

Niềm tin giảm.

Xã hội dễ phân hóa.

---

5️⃣ Đầu tư công và bất động sản: Con dao hai lưỡi

Xây đường, cầu, sân bay → rất cần.

Nhưng nếu:

Đầu tư công là động cơ chính để giữ tăng trưởng,

Bất động sản trở thành kênh hút tiền lớn nhất,

Thì sẽ giống như:

Cả xã hội bận… xây nhà để bán cho nhau.

GDP vẫn đẹp. Nhưng năng suất không tăng bao nhiêu.

---

6️⃣ Dân số vàng sắp hết

Việt Nam đang ở cuối giai đoạn:

Người trẻ nhiều,

Người già ít.

10–15 năm nữa:

Người già tăng mạnh.

Người lao động giảm.

Chi phí an sinh tăng.

Nếu chưa kịp giàu trước khi già → rất khó sửa.

Đây là phần đáng lo nhất.

---

7️⃣ Bẫy thu nhập trung bình là cái bẫy… êm

Nguy hiểm ở chỗ:

Kinh tế vẫn tăng.

Vẫn có thành tích.

Không ai thấy khủng hoảng.

Nhưng mãi không vượt được ngưỡng thu nhập cao.

Nhiều nước mắc ở đây 30–40 năm.

Không sụp đổ. Nhưng cũng không bứt phá.

---

8️⃣ Hàn Quốc – Nhật – Singapore khác ở đâu?

Không phải vì họ may mắn.

Họ:

Chọn ít ngành, làm cực sâu.

Bảo vệ doanh nghiệp nội địa khi cần.

Đầu tư cực mạnh vào kỹ sư, công nghệ lõi.

Kỷ luật rất cao.

Còn nếu:

Cái gì cũng làm,

Cái gì cũng muốn nhanh,

Ngắn hạn được ưu tiên hơn dài hạn,

Thì rất khó thành cường quốc công nghệ.

---

9️⃣ Câu hỏi lớn ông ấy muốn đặt ra

Tăng trưởng nhanh có đáng sợ không?

Không.

Nhưng:

Tăng nhanh mà sai cấu trúc → đáng sợ.

Vì:

Nợ tăng.

Trung lưu yếu.

Công nghệ lõi thiếu.

Dân số già hóa.

Phụ thuộc bên ngoài.

Lúc đó muốn sửa → không còn thời gian.

---

Tóm lại cực ngắn

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa không nói Việt Nam xấu.

Ông nói:

> Nếu chỉ nhìn GDP đẹp mà tự ru ngủ, ta có thể bỏ lỡ giai đoạn quyết định nhất của lịch sử.

Tăng trưởng không phải mục tiêu. Giàu thực sự mới là mục tiêu.

---

Nếu nói bằng một câu rất bình dân:

> Tăng nhanh không đáng sợ.

Sợ nhất là chạy rất nhanh… nhưng chạy sai hướng.

---

Còn anh, nếu phải chọn một câu trả lời ngắn:

Sợ tăng chậm?

Hay sợ tăng nhanh nhưng sai cách?

Tôi muốn nghe góc nhìn của anh, vì anh đang nhìn câu chuyện này không chỉ ở kinh tế mà ở cấu trúc quyền lực và thiết kế quốc gia.

FBK. Sang Đỗ: ĐÓI !

Ngày 21 tháng 9 năm 2000, tôi xa nhà làm tân binh ở Trung đoàn 36, sư 308, Lương Sơn, Hòa Bình. 

Trước thời điểm này, tôi hiếm khi được ăn no. Không biết nhà quí vị ra sao, còn nhà tôi đói ăn đến tận đầu những năm 2000. 

Ở bộ đội, chế độ ăn lúc ấy là 5600 đồng/ngày. Chúng tôi ăn gạo xay đen cũ tồn kho. Không có nước mắm, bọn nhà bếp pha nước lã với muối rồi đổ bột màu vào. Thứ ấy gọi là nước mặn. Bọn nhà bếp là lính nghĩa vụ già. Bỏn tuy tăm tối nhưng đẻ ra được từ "nước mặn" thật chuẩn. Thịt mỡ họ thái lát mỏng bay như tờ giấy, nhỏ như sợi mứt dừa. 

Với nhận thức trẻ con, khi ấy tôi thực sự biết ơn Đảng và quân đội ghê gớm. Quả thực nếu ở nhà, tôi không được ăn như thế. Tuy suất của tôi không đủ no nhưng tôi có thể nhặt thức ăn thừa từ đĩa người khác bù vào. Hoặc có đứa nhà giàu nào bỏ cơm thì mừng vô cùng. Tôi nhớ lại cảm giác lúc đó. Thừa biết mọi người khinh bỉ, tôi vẫn phải làm như một bản năng không cưỡng được. 

Có lần tôi lỡ tay gắp miếng thịt mỡ của một người quê Thanh Hóa khi nó chưa ăn xong. Nó mắng tôi xối xả. Tôi bật khóc. Cảm giác tủi nhục khi ấy mạnh đến mức sau 22 năm, tôi vẫn nhớ y nguyên. Nhớ chỗ ngồi, nhớ áo nó mặc, nhớ áo tôi mặc, nhớ cả cái bàn ăn hôm ấy. 

Trong phân tâm học, người ta khẳng định bản năng luôn thắng mọi ý thức và luân lí nếu nó bị đặt lên bàn cân. Cái đó đúng. 

Nếu quí vị chưa bao giờ từ bỏ liêm sỉ để nhặt thức ăn thừa của bọn nhà giàu thì chứng tỏ quí vị chưa bị bỏ đói đến mức kịch kim. Bản năng thú tính của quí vị chưa thức dậy vì cái đói của quí vị chưa chạm đáy. 

Các cụ sắp xếp rất chuẩn: ĂN, NGỦ, TÌNH DỤC, BÀI TIẾT là bốn bản năng luôn thắng mọi luân lí và đạo đức xã hội. Nếu quí vị còn giữ luân lí và liêm sỉ nghĩa là việc ăn, ngủ, tình dục, bài tiết của quí vị chưa bị lên dây căng thẳng nhất. 

Nếu quan sát kĩ, quí vị sẽ nhận ra không có cách nào có thể khắc chế buồn ngủ nếu thực sự quí vị đói ngủ. Cấu xé, tạt nước, hít thở cũng chỉ chống chế tạm thời.  

Còn phụ nữ lâu ngày không gặp, chúng tôi tưởng bất cứ ai cũng là hoa hậu. Nhìn thấy bóng cô nào lấp ló thì cả bọn hô hào ra ngó như lần đầu nhìn thấy đĩa bay. 

Tôi cũng nhận ra, khi bạn đói, ai đưa cho bạn cái bánh mì thì chắc chắn bạn sẽ bán mạng cho người ấy. Ngày đó, khác những thanh niên đô thị, bọn quê mùa đói khát chúng tôi đã thực lòng yêu Đảng và quân đội. 

CÁI ĐÓI TRONG VĂN HỌC 

Nói đến đói trong văn học thì tên tuổi đầu tiên phải kể là Nam Cao. 

Trong truyện ngắn Xú-via-nơ (Souvenir), ông tả một cô gái quê bán khăn thêu của người yêu tặng để mua bánh đúc ăn do quá thèm. Trong Một Bữa No, ông tả một bà cụ đi xin ăn ở cửa nhà giàu bằng cách giả vờ lên thăm con cháu gái. Cháu của bà, cái Gái, đang làm con sen (đứa ở) cho bà phó Thụ. Mẹ nó bỏ con theo giai. Bố nó chết. Bà nuôi nó cực khổ. Lên 10 tuổi, bà không nuôi nổi nữa nên cho nó đi ở đợ. Bà cụ ngã bệnh. Tiền hết. Sức cùng lực kiệt. Phải nghĩ kế kiếm một bữa no. 

Dù bị bà phó Thụ miệt thị và mắng tới tấp, bà lão vẫn ngồi vét ăn đến hạt cơm cuối cùng. Cái Gái xấu hổ quá nhưng nó cũng thương bà nó. Chính bà cụ cũng xấu hổ và biết người ta khinh mình. Nhưng bản năng vẫn sai khiến bà ngồi ăn. Sau bữa đó, bà cụ ngã bệnh và chết vì rối loạn tiêu hóa. 

Đọc Nam Cao, chỉ có những ai phải chịu đói cùng cực mới hiểu được. Nam Cao cho thấy con người ta bị đẩy vào đáy cùng, bản năng thú vật sẽ trỗi dậy, luân lí và liêm sỉ sẽ phải chào thua.

Đa số các cặp đôi bỏ nhau ngày xưa là do đói quá. Mỗi người một ngả để tìm thức ăn. Trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, và trong truyện Cu Lặc của Tô Hoài đã kể khá rõ. Hết cơm thì chia tay, no bụng lại tìm về với nhau. Luân lí đạo đức chỉ là muỗi. 

DÂN VIỆT TA CÒN ĐÓI KHÔNG

Hiện một số dân ta hết đói ăn nhưng vẫn đói một thứ mới khó chữa hơn. 

Đói SỰ SÁNG SUỐT!

Ngập trong bể thông tin mênh mông, một số đồng bào ta mất đi khoảng lặng cần thiết để nhìn lại bản thân và tìm về sự sáng suốt cần có. Bệnh đói này khó chữa gấp vạn lần đói ăn. 

Chừng nào những diễn giả nhăng cuội còn hoành hành bá đạo thì dân ta còn đói hiểu biết. Thu nhập của diễn giả lởm và thầy bà láo tỉ lệ thuận với sự MÙ MỜ của dân Việt. 

Ví dụ nhỏ, tôi biết rõ không ai thèm đọc Tony Robin ở Úc và Mỹ. Nói gì đến học trò của hắn ở Việt Nam. Một số dân Việt u mê đến mức bỏ ra cả trăm triệu để nghe tay này và học trò của gã khoác lác tào lao. Sợ.

Vậy mới nói một số dân ta bây giờ không đói ăn mà đói sự sáng suốt vậy.