Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2026

Nguyễn Nam Hải: TÀU TÌNH BÁO TQ CÓ MẶT Ở VÙNG VỊNH

TÀU TÌNH BÁO TQ CÓ MẶT Ở VÙNG VỊNH

"Cuộc chiến Không Gian Mạng, chiến tranh Thuật Toán và chiến tranh Dữ Liệu, đã bắt đầu từ đây. Ai cao thấp cũng bắt đầu từ đây. Hãy theo dõi...".

Một tàu tình báo của Trung Quốc với lượng giãn nước 30.000 tấn đang neo đậu tại Vịnh Oman. 

Tàu Liaowang-1 là tàu trinh sát tín hiệu và theo dõi không gian thế hệ mới, được ​​đưa vào hoạt động năm 2025. Nó được trang bị ít nhất năm vòm radar và ăng ten độ lợi cao, có khả năng theo dõi đồng thời 1.200 mục tiêu trên không và tên lửa với độ chính xác nhận dạng trên 95% bằng thuật toán mạng nơ-ron sâu. Tầm hoạt động của cảm biến đạt khoảng 6.000 km. Tàu được hộ tống bởi hai tàu khu trục Type 055 và Type 052D.

Trung Quốc chính thức mô tả những con tàu này là tàu theo dõi vệ tinh và đo từ xa tên lửa. Chúng theo dõi các vụ phóng vào không gian và các vụ thử tên lửa. Các cảm biến dùng để theo dõi vệ tinh của Trung Quốc cũng có thể theo dõi tàu sân bay của Mỹ. Các thuật toán dùng để xác định phương tiện tái nhập khí quyển có đạn đạo cũng có thể xác định máy bay F-35 phóng từ tàu sân bay.

Nó đang neo đậu ở vùng biển quốc tế gần Oman để "quan sát" cuộc chiến ở Iran.

Các nhà phân tích quốc phòng trên nhiều ấn phẩm khác nhau đánh giá rằng tàu Liaowang-1 đang thu thập thông tin tình báo điện từ theo thời gian thực về các hoạt động hải quân và không quân của Mỹ và Israel. Việc thông tin tình báo đó có được chia sẻ với Iran hay không vẫn chưa được xác nhận. Không có tuyên bố chính thức nào của Trung Quốc hay Iran thừa nhận việc chuyển giao dữ liệu. Nhưng vị trí, thời gian và khả năng của con tàu tạo ra một suy luận mà mọi nhà phân tích ở Washington đang đưa ra.

Theo Lực lượng Phòng không Iran (IDF), hệ thống phòng không của Iran đã bị phá hủy 80%. Phạm vi phủ sóng radar của Iran bị suy giảm. Hình ảnh vệ tinh của Iran cũng hạn chế. Nhưng một tàu chiến Trung Quốc với tầm cảm biến 6.000 km neo đậu tại Vịnh Oman có thể quan sát mọi chuyển động của tàu sân bay, mọi đường bay tiếp nhiên liệu trên không, mọi hành lang phóng tên lửa và mọi sự kiện tàu ngầm nổi lên mặt nước trong khu vực. Nếu chỉ một phần nhỏ dữ liệu đó đến được tay các chỉ huy Iran thông qua bất kỳ kênh nào, giá trị đối với khả năng phòng thủ còn lại của Iran là vô cùng to lớn.

Trung Quốc không hề nổ súng. Nước này không vi phạm luật pháp quốc tế. Không xâm phạm vùng lãnh hải của Iran. Trung Quốc chỉ triển khai một hệ thống giám sát trong vùng biển quốc tế, nơi mà bất kỳ quốc gia nào cũng có quyền hoạt động. Và họ đã làm điều đó vào đúng thời điểm thông tin mà hệ thống này thu thập được có giá trị chiến lược tối đa đối với quốc gia mà Hoa Kỳ đang ném bom.

Tàu tình báo Trung Quốc đang theo dõi để đảm bảo nắm rõ mọi diễn biến tiếp theo. Trật tự hàng hải mới không phải đang đến gần, mà đã đến rồi. Và đó là 30.000 tấn mái vòm radar và mạng nơ-ron nhân tạo, neo đậu ở Vịnh Oman để quan sát mọi thứ.

@shanaka86

Dung Dang

BUỘC PHẢI CHỌN PHE...

https://www.facebook.com/share/p/1CXrSXnRRC/?mibextid=wwXIfr

SAO LẠI CÓ NHỮNG LOẠI NGƯỜI KHỐN NẠN THẾ?

Nguyễn Huỳnh Ca

https://www.facebook.com/share/p/18RViiwqY9/?mibextid=wwXIfr

Nguyễn Tiến Hưng: MỸ LÀ ĐỒNG MINH HAY KẺ THÙ?

MỸ LÀ ĐỒNG MINH HAY KẺ THÙ?

Nguyễn Tiến Hưng

Lịch sử Việt Nam và lịch sử quan hệ của Việt Nam với Mỹ đang bước sang một trang mới.

Nhiều người trích dẫn lại các lời nói và hành động của cụ Hồ Chí Minh thời 1945 để nói rằng, việc kết nối quan hệ chiến lược toàn diện hữu hảo với Mỹ chính là thực hiện ý nguyện của Hồ Chí Minh... 

Nhưng chơi với Mỹ như một đồng minh chiến lược sẽ không phải, không giống như trò đu dây thời quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc. Nó sẽ là cái gì đó lớn lao hơn, thách thức hơn nhưng hứa hẹn những điều tươi sáng hơn cho đất nước ta... (như Nhật, Hàn, Đài Loan, Singapore đã từng trải qua và đạt được). Nhưng nó sẽ biến nước ta thành một thứ hỗn tạp nếu người chơi (nền chính trị VN và các quan chức cầm quyền) không nâng tầm nhìn, thay đổi nền tảng tri thức, giá trị và đạo đức quốc gia (giống như Philippin, Thái Lan, Pakistan...).

Hãy đọc bài của 1 học giả, chính khách (thời VNCH) - GS Nguyễn Tiến Hưng có góc nhìn rất bổ ích cho ai quan tâm đến tương lai đất nước..,

BÀI TRÊN BBC: 

"Quan hệ Mỹ-Việt: Hoa Kỳ vào Việt Nam ‘lần hai’ và các bài học cho hôm nay

(Nguyễn Tiến Hưng, BBC)

Sau khi Nhật lật đổ Pháp tại Đông Dương, ngày 11/3/1945 Đại sứ Nhật Masayuki Yokohama đến gặp Hoàng Đế Bảo Đại và đệ đạt: “Tâu Hoàng Thượng, đêm hôm qua chúng tôi đã chấm dứt chủ quyền của nước Pháp trên đất nước này. Tôi được trao nhiệm vụ dâng nền độc lập của Việt Nam cho Hoàng Thượng.”

Ngày hôm sau, vua Bảo Đại mời ông Yokohama tới để trao một bản tuyên ngôn độc lập: “Chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia…”

Hành động ngoại giao đầu tiên của ông Bảo Đại trong tư cách lãnh đạo một nước Việt Nam độc lập và thống nhất là gửi một công hàm cho Tổng thống Mỹ Harry Truman để giao hảo với Mỹ và yêu cầu ngăn chận Tướng De Gaulle đưa Pháp trở lại Đông Dương.

Sau khi HĐ Bảo Đại thoái vị thì ngày 2/9/1945 CT Hồ Chí Minh thành lập nước VNDCCH. Ít người biết rằng hành động ngay sau đó – và trong thời gian gần một năm (từ 29/9/1945 tới 11/9/1946) ông cũng đã đi bước trước để giao hảo với Mỹ, và gửi tất cả là 14 (chứ không phải chỉ một) công hàm, thư tín và thông điệp cho tổng thống và ngoại trưởng Hoa Kỳ. Những văn kiện này được tóm tắt trong cuốn sách Khi Đồng Minh Nhảy Vào (trang 704-706). Sau đây là vài thí dụ:

• Ngày 1/11/1945, ông Hồ gửi thông điệp cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ để yêu cầu chấp thuận cho 50 sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học.

• Ngày 23/11/1945 trong một công hàm gửi TT Truman (và Tổng Giám đốc Ủy Ban Cứu Trợ Liên Hiệp Quốc), ông yêu cầu Hoa Kỳ cứu trợ nạn đói lớn lao ở Việt Nam.

• Ngày 18/2/1946 ông gửi văn thư cho Tổng thống Truman trong đó có câu: “Cũng như Phi Luật Tân mục đích của chúng tôi là được độc lập hoàn toàn và cộng tác chặt chẽ với Hoa Kỳ...”

Lịch sử không có chữ ‘nếu’, thế nhưng ta thử hỏi xem

Nhìn lại lịch sử, ta có thể đặt ra một câu hỏi: nếu như lúc ấy Mỹ đáp ứng yêu cầu của cả hai phe Quốc Gia và Cộng Sản để ngăn chận Pháp và đặc biệt là để cứu trợ nạn đói và giao hảo với Việt Nam (qua việc đồng ý cho 50 thanh niên chung quanh ông Hồ sang Mỹ du học) thì liệu cuộc chiến 30 năm đã có thể tránh khỏi?

Để tiếp cứu nạn đói, Mỹ có thể dễ dàng mở một Tòa Đại Sứ hay ít nhất là một Tòa Lãnh Sự ở Việt Nam để sử dụng số gạo thặng dư lớn cứu đói giảm nghèo. Thời gian ấy, nạn đói hoành hành dữ dội ở miền Bắc và nhất là miền Trung, chết từ 1,5 tới 2 triệu người (gần 17% dân số). Tại Nga Sơn, Thanh Hóa, cá nhân tác giả (dù chưa tới mười tuổi) đã phải chứng kiến cái cảnh đói khát thê thảm này. Giả như có gạo thì nhân dân Việt Nam đã hoan hô Mỹ và dân Nga Sơn đã vui sướng biết mấy. Giờ này thì Việt Nam đã thành một cường quốc ở Á Châu.

Nhưng lịch sử diễn ra đã lại khác

Đang khi Mỹ do dự về Việt Nam thì Mùa Thu năm 1949 ông Mao Trạch Đông tiến quân vào Bắc Kinh, thành lập nước CHNDTQ, gọi tắt là Trung Quốc. Chuông báo động ở Washington rung lên. Và từ đó, một trang lịch sử mới đã mở ra.

Ngày 7/3/1950 Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi công hàm cho các đại sứ và xác nhận rằng: “Việt Nam là địa điểm quan trọng nhất về chiến lược tại Đông Nam Á”. Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp để chiến đấu thay cho mình. Khi đồng minh nhảy vào chỉ để bao vây Trung Quốc nhưng Pháp đã thất bại. Sau trận Điện Biên Phủ (7/5/1954), Pháp quyết định rút lui. Mỹ lập tức nhảy vào thay thế. Ngoại trưởng Foster Dulles còn chọn ngày để nhảy vào “Chúng ta phải tiến hành như đã dự định, và ta phải lao vào (take the plunge), bắt đầu từ ngày 1 tháng 1/1955.”

Trong thời gian 1955 – 1965: nói chung thì Miền Nam Việt Nam luôn luôn là “tiền đồn” để canh gác Thế giới Tự Do, ngăn chận Trung Cộng (Mỹ gọi là Containment of Red China) khỏi tràn xuống Biển Đông.

Tới 1965 thì có bước ngoặt: từ ‘ngăn chặn tới bao vây Trung Quốc

Xin nhắc lại, Hoa Kỳ vào Đông Dương từng bước vì lý do chiến lược chứ không phải như có chỗ người ta nói là để “chiếm đất”.

Tháng 3/1965, khi TT Lyndon Johnson cho 3.500 lính Thủy quân Lục chiến đổ bộ vào Đà Nẵng, mục đích chỉ là để giữ an ninh cho phi trường này. Nhưng tới mùa Thu thì Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đã thuyết phục ông phải mang đại quân vào để ngăn chận ngay vì “Trung Quốc đang trở thành một quyền lực lớn mạnh đe dọa vai trò quan trọng và sự hữu hiệu của Hoa Kỳ. Và xa hơn nhưng quan trọng hơn, đó là Trung Quốc đang sắp xếp, tổ chức để tất cả Á Châu chống lại chúng ta.”

Rồi McNamara đề nghị phải kiềm chế TQ bằng một chiến lược bao vây: “Nhận thức rằng Liên Xô đã “chặn” Trung Quốc ở phía bắc và tây bắc (Realizing that the USSR “contains” China on the north and northwest) cho nên chỉ còn lại ba mặt trận trong một cố gắng lâu dài để ngăn chặn TQ.”

Nhận xét như vậy là vì tuy TQ và Liên Xô là đồng minh gần gũi nhưng xung đột ở một biên giới dài 4.380 cây số thì như cục than hồng, nó có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Mà thật đúng, bốn năm sau đã có xung đột lớn ở một hòn đảo trên con sông Ussuri (9/1965): suýt nữa TQ bị Liên Xô tấn công nguyên tử nếu không có TT Richard Nixon can thiệp.

Nhìn ra các bên khác thì ba mặt trận còn lại là:

Ở phía đông: Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi Hoa Kỳ đã có những căn cứ quân sự vững chắc. Ở phía tây là Ấn Độ và Pakistan.

Ấn Độ là một nước đi tiên phong của phong trào “trung lập” (không liên kết) – lánh xa cả Hoa Kỳ cả Liên Xô - nhưng lịch sử đã chỉ ra rằng ngoại giao trung lập là không bền vững trừ khi bạn là nước nhỏ.

Trong bối cảnh lánh xa Hoa Kỳ, tình nghĩa giữa hai lãnh đạo Jawaharlan Nehru và Mao Trạch Đông rất thắm thiết. Nhưng ngày 20/10/1962 Trung Quốc bất chợt tấn công Ấn Độ. Lý do của trận chiến lại cũng chính là vì tranh chấp lãnh thổ ở biên giới Ấn - Trung dọc theo núi Himalaya dài tới 3.225 cây số. Thủ tướng Nerhu phải vội vàng chạy đến với TT John F. Kennedy và được ông can thiệp để chặn TQ.

Ngày 20/11/1962 Trung Quốc đơn phương tuyên bố ngưng chiến. Ấn Độ liền xích lại gần với Mỹ. Và như vậy thì Mỹ chỉ cần tập trung vào mặt trận ở phía nam – đó là Việt Nam. Trên căn bản ấy, bản ghi nhớ thật dài đề ngày 3/11/1965 của Bộ trưởng McNamara trình TT Johnson rất thuyết phục, cho nên ông đã nghe theo. Quân đội Mỹ ở Miền Nam đang từ mức trung bình 1961-1964 là 23.300 đã tăng vọt lên 385.300 năm 1966, rồi tới đỉnh là 536.100 năm 1967.

Khi đồng minh mở cửa Bắc Kinh thì tất phải đóng cửa Sài Gòn

Tới năm 1971 thì Mỹ đảo ngược về chính sách. TT Nixon thay đổi lập trường: biến đổi Trung Quốc từ thù thành bạn. Khi TQ không còn là thù địch đe dọa Mỹ nữa thì hết cần bao vây, hết cần lá chắn. Trong nhận thức ấy, Miền Nam Việt Nam cũng hết còn là “tiền đồn của Thế giới Tự do.”

Sau khi rời bỏ Miền Nam thì Washington ngoảnh mặt đi khỏi Biển Đông, để lại một lỗ hổng. Có lỗ hổng thi TQ sẵn sàng lấp đầy lỗ hổng. Chấm dứt bao vây thì Trung Quốc bung ra. Từ khi nối lại bang giao với Mỹ, Trung Quốc đã nhờ vào tiền bạc, kỹ thuật và thị trường Mỹ để phát triển, tiến tới mức có thể vươn tầm tên lửa xuyên đại dương. Ngày nay thì TQ đã mạnh đủ để lật ngược thế cờ, ra mặt đối đầu với Mỹ.

Mỹ tái khởi động chiến lược bao vây Trung Quốc

Trước thách thức ấy, Mỹ gấp rút ‘xoay trục’ rồi tái khởi động chiến lược bao vây TQ. Nếu ta không biết đến câu chuyện ‘bốn lá chắn’ để nối kết Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương như đề cập trên đây thì khó có thể nhận thức ra được rằng, theo một góc độ, khuôn khổ này cũng chính là chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở” (Free and Open Indo-Pacific) được TT Donald Trump chính thức hóa vào cuối năm 2017. Nó cũng đặt nặng sự nối kết giữa hai đại dương.

Ngay năm sau, để yểm trợ cho chiến lược này, ông đổi “Bộ Tư lệnh Bình Dương” (Pacific Command - PACOM) thành “Bộ Tư lệnh Ấn Độ - Thái Bình Dương” (Indo-Pacific Command hay INDOPACOM).

Về mặt ‘quyền lợi an ninh và quốc phòng’ thì tổng thống Mỹ nào cũng phải đặt lên ưu tiên hàng đầu. Cho nên dù đối địch với nhau trên chính trường thì vẫn phải cùng nhau hành động trên chiến trường. Vì vậy ta không lạ gì khi thấy người kế vị TT Trump là TT Joe Biden đã tiếp tục chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do Và Rộng mở” dưới cái nhãn hiệu mới là “Chiến Lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ” (Indo-Pacific Strategy of the United States) vào mùa thu năm 2022 (bao gồm Úc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn, và một số quốc gia trong đó có Việt Nam).

Trong chiến lược này thì đối với Hoa Kỳ, Việt Nam lại trở về chỗ đứng là “địa điểm chiến lược quan trọng nhất ở Đông Nam Á.” Cho nên lãnh đạo Mỹ lần lượt viếng thăm Việt Nam, bắt đầu từ TT Bill Clinton (11/2000), và bây giờ đến lượt TT Joe Biden.

TT Biden thăm HN nhưng Mỹ sẽ chờ xem Việt Nam sẵn sàng làm gì

Thật là dễ hiểu khi thấy ông Biden đã bất chợt bỏ qua cuộc họp thượng đỉnh ASEAN ở Indonesia để đi họp G-20 ở Ấn Độ, rồi Việt Nam. Tờ Washington Post ngày 4/9/2023 bình luận: “Đó là một quyết định lạnh lùng và có tính toán, nhằm… củng cố các đồng minh và từng đối tác riêng rẽ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và bây giờ là Việt Nam.”

Như vậy là Việt Nam đã nâng cấp bang giao giữa hai nước lên ‘đối tác chiến lược toàn diện’ vào đúng lúc, dù rằng việc này không có nghĩa là Việt Nam sẽ trở thành đồng minh của Mỹ. Và chưa chắc Mỹ đã muốn như vậy. Cho nên trong bối cảnh hiện nay và trong một tương lai gần, sẽ không có chuyện ‘đồng minh nhảy vào’ theo nghĩa hẹp là sự có mặt quân sự của Mỹ tại Việt Nam.

Trong thực tế thì Việt Nam hiện là nước không có đồng minh nào

Đối với Mỹ, cũng theo Washington Post, chuyến viếng thăm của ông Biden liên hệ tới “chiến lược để tạo ra một mạng lưới chung quanh TQ – một chuỗi địa lý được xâu chuỗi cẩn thận, gồm các quốc gia đều coi Bắc Kinh là mối đe dọa chung”.

Tuy nhiên, chỉ vài giờ sau khi tới Hà Nội, TT Biden đã tuyên bố ngược lại: “Tôi không muốn kiềm chế Trung Quốc (I don’t want to contain China). Tôi chỉ muốn đảm bảo rằng chúng tôi có mối quan hệ đang phát triển và bình đẳng với Trung Quốc – mọi người đều biết nó là gì.” Nói vậy mà không phải vậy. 

Nói đến “mọi người” thì phải kể cả chính ông Biden. Hơn ai hết, ông Biden biết rõ ‘nó là gì,’ và cũng đã nói thẳng ra rằng mối quan hệ đang phát triển’ giữa Mỹ và TQ là một quan hệ căng thẳng đang leo thang rất nhanh.

“Hãy đừng nhầm lẫn: như chúng tôi đã nói rõ vào tuần trước,” TT Biden phát biểu ngày 8/2/2023 tại Hạ Viện Quốc Hội Mỹ sau khi cho bắn nổ quả khinh khí cầu ngoài khơi bờ biển phía đông Hoa Kỳ, “nếu Trung Quốc đe dọa chủ quyền của chúng tôi, chúng tôi sẽ hành động để bảo vệ đất nước của mình. Và chúng tôi đã làm như vậy.” (Make no mistake: as we made clear last week, if China threatens our sovereignty, we will act to protect our country).

Tờ Wall Street Journal (9/10/2023) nói tới mục tiêu của ông Biden ở Việt Nam là “tìm kiếm một quan hệ Mỹ - Việt mạnh hơn nhằm chống lại Trung Quốc (Biden Seeks Stronger Vietnam Ties in Bid to Counter China).

Việc này có nghĩa là Mỹ muốn củng cố cái lá chắn ở phía nam, sau khi đã đi thêm một bước để củng cố lá chắn ở phía đông qua cuộc họp thân mật mới đây ở Camp David với lãnh đạo của Nhật Bản và Hàn Quốc. Mỹ cũng đã củng cố lá chắn ở phía tây là Ấn Độ qua tổ chức Bộ tứ Quad (Ấn, Úc, Nhật và Mỹ), và trải thảm đỏ đón Thủ tướng Narendra Modi mới đây.

Lại nữa, tại Việt Nam, ông Biden cũng dùng cụm từ “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do Và Rộng mở” khi nói với các phóng viên sau cuộc gặp ở Hà Nội (theo Reuters ngày 9/10/2023).

‘Tuyên bố chung’ về chuyến viếng thăm của TT Biden đề cập tới việc Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ Việt Nam về mọi mặt: từ kinh tế, đầu tư, thương mại, khoa học, kỹ thuật, y tế, đến giải quyết các vấn đề tồn đọng của chiến tranh.

Sau cùng thì mới nói đến vấn đề tế nhị: PHỐI HỢP VỀ CÁC VẤN ĐỀ KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU: “Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh sự ủng hộ kiên định của họ đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, cũng như tự do hàng hải, hàng không và thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phù hợp với luật biển quốc tế được phản ảnh trong Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển…”

Đây là vấn đề quan trọng nhất đối với quyền lợi của cả hai nước. Và nó cũng nằm trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương.

Về phía Mỹ, lợi ích kinh tế từ VN là không quan trọng, cho dù VN có thể thay TQ phần nào về chuỗi cung ứng, và hãng Hàng không VN đặt mua 50 máy bay trong số 737 Max jets của Boeing trị giá $7,8 tỷ.

Lợi ích chính đối với Mỹ là chiến lược: nguyên cái Vịnh Cam Ranh và hải cảng Đà Nẵng thì cũng đã đủ để Mỹ ve vuốt VN.

Tóm lại, việc Mỹ vào hay ra khỏi Việt Nam thì tất cả cũng chỉ là trên căn bản quyền lợi: “chẳng có bạn bè vĩnh viễn và cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có quyền lợi vĩnh viễn” như Lord Palmerston, Thủ tướng nước Anh đã từng nhấn mạnh. Nếu Việt Nam đáp ứng quyền lợi của Mỹ thì Mỹ sẽ đứng sát cạnh, nếu không thì Mỹ sẽ lánh xa để tập trung vào các quốc gia hải đảo như Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines.

Chắc chắn rằng, trước khi đi bước nữa chính phủ VN còn chờ đợi xem Mỹ sẽ có những hành động thực tế nào để giúp Việt Nam, nhất là trong bối cảnh TQ công bố ‘bản đồ mới’ và đang xây một đường bay trên Đảo Tri Tôn ngay sát cạnh Đà Nẵng – nơi Mỹ đổ bộ năm 1965.

Riêng về kinh tế thì để trở thành một nước mạnh và có tiếng nói quan trọng trên thế giới, Việt Nam cần phải tự mình phát triển thành một cường quốc kinh tế tương tự như những gì Đài Loan và Hàn Quốc đã làm. Hai quốc gia này được thế giới tôn trọng hơn nhiều so với dân số và quy mô đất đai của họ. Trong nỗ lực phát triển thì Mỹ có thể hỗ trợ để VN sử dụng “lợi thế so sánh” (comparative advantage) của mình.

Để tận dụng cơ hội làm ăn kinh tế với Mỹ trong bối cảnh mới, Việt Nam cần ĐỔI MỚI nền quản trị quốc gia để có thể vận hành nền kinh tế uyển chuyển hơn, năng suất hơn. Đây là điều mà Nhật, Hàn, Đài Loan và đặc biệt là Trung Quốc đã làm thành công.

Trong các ‘lợi thế so sánh’ thì nhân lực là quan trọng nhất: trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người Việt Nam. Cho nên cần phải có chính sách để dùng đúng người, đúng việc và chuyển hướng nền kinh tế, thí dụ như từ ‘gia công’ tới công nghệ cao, có tính cạnh tranh cao do công nghệ bán dẫn làm đầu tàu. Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mang lại cho Việt Nam một Cơ hội Vàng để tiến lên theo hướng này, nhưng chỉ khi Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng để tiếp nhận cơ hội đó.

Về phía Mỹ thì cũng sẽ chờ xem Việt Nam có thực sự thi hành những cam kết như trong Tuyên Bố Chung. Thí dụ như về chính trị: liệu Việt Nam có những bước tiến về nhân quyền theo cam kết. Về ngoại giao, và đây là quan trọng nhất đối với Mỹ, liệu Hà Nội có những hành động thực tế nào có lợi cho Mỹ, thí dụ như để cho những siêu hàng không mẫu hạm (tàu sân bay) ra vào thường xuyên ở Cam Ranh, Đà nẵng, không phải chỉ để thăm viếng mà còn để mua lương thực, thực phẩm, tiếp liệu, sửa chữa, và… phòng hờ.

Có câu “hành động nói to hơn lời nói” (actions speak louder than words). Ta hãy chờ xem.

Chú thích: Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng (Bộ trưởng) Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Ông là tác giả cuốn 'Khi Đồng minh Tháo chạy' và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ.

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Tại sao ắc quy ô tô vẫn luôn được sạc khi xe đang chạy?

Tại sao ắc quy ô tô vẫn luôn được sạc khi xe đang chạy?

Câu trả lời nằm ở một bộ phận nhỏ nhưng rất quan trọng: Bộ điều áp. Nếu không có bộ phận này, máy phát điện có thể:

- Sạc thiếu → khiến ắc quy cạn điện và xe không khởi động được.

- Sạc quá mức → gây quá áp, có thể làm hỏng các thiết bị điện – điện tử trên xe.

🛠 Ý nghĩa các chân trên bộ điều áp

B+ (Battery)

Đây là đường cấp điện chính, nối trực tiếp đến cực dương của ắc quy, dùng để đưa dòng điện sạc từ máy phát về ắc quy và hệ thống điện trên xe.

IG (Ignition)

Đây là tín hiệu từ khóa điện. Khi bật khóa điện ON, chân này cấp nguồn để kích hoạt bộ điều áp bắt đầu hoạt động.

L (Lamp)

Điều khiển đèn báo sạc trên bảng táp-lô (biểu tượng hình ắc quy).

Nếu đèn này sáng khi động cơ đang chạy, hệ thống sạc đang có sự cố và ắc quy không được nạp điện.

DF (Dynamo Field)

Đây là tín hiệu điều khiển dòng kích từ gửi tới cuộn rotor của máy phát.

Bộ điều áp sẽ thay đổi dòng kích từ để điều chỉnh từ trường rotor, từ đó kiểm soát công suất phát điện của alternator.

W (Neutral / Phase signal)

Chân này dùng để lấy tín hiệu tốc độ từ máy phát, thường cung cấp cho đồng hồ tua máy (tachometer) trên một số dòng xe, đặc biệt là xe diesel.

D− (Ground)

Là đường mass (mát), nối về cực âm của ắc quy, hoàn tất mạch điện của hệ thống sạc.

💡 Tại sao bộ điều áp lại quan trọng?

Bộ điều áp giống như một van nước thông minh.

- Khi ắc quy yếu, bộ điều áp tăng dòng kích từ → máy phát tạo ra nhiều điện hơn để sạc.

- Khi ắc quy gần đầy, bộ điều áp giảm dòng kích từ → giữ điện áp ổn định, tránh quá sạc.

🔧 Mẹo kiểm tra nhanh

Nếu khi tăng ga, đèn pha sáng hơn rồi ổn định lại, đó là dấu hiệu bộ điều áp đang hoạt động đúng, giúp duy trì điện áp hệ thống ổn định.

Cre: Sưu tầm

hanaka Anslem Perera: Con số quan trọng nhất trong cuộc chiến này không phải là giá dầu hay số thương vong. Mà là 2.500 đô la

Con số quan trọng nhất trong cuộc chiến này không phải là giá dầu hay số thương vong. Mà là 2.500 đô la.

Tác giả Shanaka Anslem Perera.

Đó là giá của một máy bay không người lái đánh chặn của Ukraine. Nó bay vào một chiếc Shahed đang bay tới và phá hủy nó giữa không trung. Chiếc Shahed có giá khoảng 30.000 đô la Mỹ đối với Iran. Một tên lửa Patriot PAC-3 có giá từ 3 đến 13 triệu đô la Mỹ tùy thuộc vào biến thể. Theo học thuyết tiêu chuẩn, mỗi tên lửa Patriot bắn hai quả Patriot để tiêu diệt tối đa khả năng bị bắn trúng trong một lần bay tới.

Ukraine đã chiến đấu với cái giá phải trả chính xác như vậy trong bốn năm. Chỉ riêng trong năm 2025, Nga đã phóng 54.538 máy bay không người lái loại Shahed vào Ukraine. Lực lượng Ukraine đã bắn hạ hơn 90% trong số đó. Đến tháng 2 năm 2026, máy bay không người lái đánh chặn chiếm 30% tổng số mục tiêu trên không của Nga bị phá hủy, với tỷ lệ thành công 68% mỗi lần giao chiến và kỷ lục trong một đêm là 64 máy bay Shahed bị bắn hạ chỉ bằng máy bay đánh chặn.

Giờ hãy nhìn sang vùng Vịnh.

Iran đã phóng hơn 2.000 máy bay không người lái Shahed khắp Trung Đông kể từ ngày 28 tháng 2. Riêng UAE đã phát hiện 1.072 máy bay không người lái trong tuần đầu tiên. 71 chiếc đã xâm nhập được, tỷ lệ đánh chặn 93% nghe có vẻ ấn tượng cho đến khi bạn tính toán chi phí. Các quốc gia vùng Vịnh và lực lượng Mỹ đang sử dụng tên lửa đánh chặn Patriot, tên lửa THAAD và tên lửa phóng từ tàu chiến để tiêu diệt những chiếc máy bay không người lái trị giá 30.000 đô la. Với hai tên lửa đánh chặn cho mỗi mục tiêu và giá tên lửa ở mức thấp nhất, lực lượng phòng thủ đang chi tiêu gấp 100 đến 500 lần so với chi phí mà bên tấn công bỏ ra cho mỗi cuộc giao tranh.

Iran có thể duy trì điều này. Còn lực lượng phòng thủ thì không thể.

Đó là lý do tại sao tuyên bố ngày 5 tháng 3 của Zelenskyy quan trọng hơn bất kỳ cuộc họp báo quân sự nào trong tuần này. Ukraine đang gửi các chuyên gia và hệ thống đánh chặn Merops tích hợp trí tuệ nhân tạo đến vùng Vịnh. ​​Tờ Financial Times đã xác nhận Lầu Năm Góc và ít nhất một chính phủ vùng Vịnh đang đàm phán để mua tên lửa đánh chặn của Ukraine. Trump nói với Reuters rằng ông sẽ chấp nhận sự giúp đỡ từ bất kỳ quốc gia nào.

Những vụ tấn công đã xảy ra tự nói lên tất cả. Một máy bay không người lái của Iran đã phá hủy một hệ thống radar cảnh báo sớm trị giá 1,1 tỷ đô la ở Qatar. Nhà máy lọc dầu Ras Tanura ở Ả Rập Xê Út đã ngừng sản xuất 550.000 thùng dầu mỗi ngày sau một vụ cháy do mảnh vỡ. Đại sứ quán Mỹ ở Riyadh bị tấn công. Trụ sở Hạm đội 5 ở Bahrain cũng bị trúng bom.

Tỷ lệ chặn bắt đạt 93%. Tỷ lệ xuyên thủng đạt 7%. Và 7% đó đã phá hủy một hệ thống radar trị giá hàng tỷ đô la, làm ngừng hoạt động sản xuất nửa triệu thùng dầu mỗi ngày và tấn công cả một đại sứ quán.

Con số thống kê thật khắc nghiệt. Nếu Iran phóng 300 máy bay không người lái mỗi ngày và 7% trong số đó bắn trúng mục tiêu, thì mỗi ngày sẽ có 21 vụ tấn công xuyên Vịnh. ​​Chi phí mà Iran phải bỏ ra là 9 triệu đô la. Riêng chi phí cho vũ khí đánh chặn đã vượt quá 500 triệu đô la. Cứ tính toán như vậy trong 30 ngày, hoặc là kho vũ khí đánh chặn sẽ cạn kiệt, hoặc ngân sách sẽ cạn kiệt.

Ukraine đã giải quyết được vấn đề này bằng cách thay thế những tên lửa trị giá hàng triệu đô la bằng những máy bay không người lái trị giá hàng nghìn đô la. Các chuyên gia đến đây mang theo dữ liệu chiến đấu trong bốn năm chống lại chính loại vũ khí này. Họ biết rõ tín hiệu radar, quỹ đạo bay, khả năng bị tấn công bởi GPS và mọi sửa đổi mà Nga đã thực hiện kể từ năm 2022.

Không ai hiểu Shahed hơn những người mà nó đã cố gắng giết hại mỗi đêm trong suốt bốn năm qua. Họ đang trên đường đến vùng Vịnh. ​​Tình hình sẽ thay đổi vào ngày họ đến đó.

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2026

Nguyễn Duy Quang: ĐÊM KHUYA PHÂN TÍCH CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI VỚI CÔNG NGHỆ 4.0

ĐÊM KHUYA PHÂN TÍCH CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI VỚI CÔNG NGHỆ 4.0

Mỹ và Israel đang sở hữu "thanh kiếm" sắc bén nhất (công nghệ), nhưng Iran lại đang sử dụng "tấm khiên" là một đám mây bụi. Bạn không thể dùng kiếm để chém nát một đám mây. Ta gọi loại hình này là chiến lược "Chiến tranh phi tập trung" (Decentralized Warfare) của Iran rất sắc bén và phản ánh đúng thực tế quân sự đáng gờm mà Mỹ và Israel đang phải đối mặt trong tháng 3/2026 này.

Đây không chỉ là một kế hoạch tác chiến, mà là một tư duy sinh tồn được đúc kết từ hàng thập kỷ bị bao vây và cấm vận. Những điểm mô hình này lại khiến ưu thế công nghệ của phương Tây bị thách thức không kém.

Mô hình "Cắt đầu nhưng thân vẫn cử động"

Trong quân sự học, đây được gọi là cấu trúc tế bào độc lập. Mỗi đơn vị tên lửa hoặc drone được cung cấp sẵn mục tiêu, tọa độ và các kịch bản kích hoạt. Mất liên lạc là tín hiệu tấn công. Thay vì chờ lệnh "Bắn", nhiều đơn vị được huấn luyện rằng: "Nếu sau X giờ không nhận được tín hiệu từ trung tâm, hãy tự động khai hỏa vào mục tiêu đã định".

• Việc phá hủy các bộ não tại Tehran hay các boong-ke chỉ huy không ngăn được các bệ phóng di động đã ẩn nấp kỹ trong các hang đá và đường hầm.

Sự trỗi dậy của "Dân quân Drone" và Tên lửa hành trình giá rẻ. Chiến lược này chỉ thành công nhờ sự phát triển của công nghệ drone

• Một chiếc drone Shahed có giá chỉ khoảng 20.000 USD, trong khi một quả tên lửa đánh chặn của Israel (như Arrow hoặc Iron Dome) có giá từ hàng trăm ngàn đến hàng triệu USD.

• Khi hàng trăm đơn vị độc lập cùng phóng drone, họ tạo ra một "bầy đàn" (swarm) khiến hệ thống radar dù hiện đại nhất cũng bị quá tải (saturation attack).

Về việc xung đột lan sang Azerbaijan và Kurdistan, đây chính là hệ quả của việc phi tập trung hóa. Các nhóm dân quân thân Iran tại Iraq, Syria, Lebanon và Yemen (Houthi) vận hành như những thực thể độc lập. Mỹ không thể chỉ đàm phán hay tiêu diệt một mục tiêu duy nhất để dừng cuộc chiến. Mỗi khu vực là một mặt trận riêng biệt với những tính toán riêng.

Mặc dù giúp Iran tồn tại qua các đợt không kích hủy diệt, nhưng chiến lược này có một điểm yếu chết người: Khó dừng lại.

• Khi không có chỉ huy trung tâm, việc ra lệnh "ngừng bắn" trở nên cực kỳ khó khăn.

• Một đơn vị lẻ tẻ tấn công sai thời điểm có thể phá hỏng mọi nỗ lực ngoại giao hoặc đàm phán hòa bình mà chính phủ Iran đang cố gắng thực hiện (như các cuộc thảo luận bí mật với Mỹ mà Tổng thống Trump đã nhắc tới).

Dù hệ thống là "phi tập trung", nhưng nó vẫn cần hạ tầng cứng.

• Mỹ và Israel tập trung đánh vào các kho chứa drone, bệ phóng tên lửa và các xưởng sản xuất. Một đơn vị dù có tinh thần "chiến đấu đến cùng" nhưng không có đạn dược hay linh kiện thay thế (vốn đã bị phá hủy) thì sớm muộn cũng trở nên vô hại.

• Việc tiêu diệt các lãnh đạo cấp cao (như cuộc không kích tháng 2/2026) khiến các đơn vị cấp dưới mất đi sự phối hợp hiệp đồng. Họ có thể bắn, nhưng bắn lẻ tẻ và không tạo được sức mạnh tổng lực.

Kinh tế chính là dòng máu nuôi dưỡng các tế bào chiến đấu. Trump đang thắt chặt gọng kìm này qua hai mũi nhọn. Mỹ đã trừng phạt hơn 80% số tàu chở dầu lậu của Iran. Thu nhập từ dầu mỏ của Tehran giảm mạnh, buộc họ phải bán giảm giá tới 12 USD/thùng so với thị trường để tìm người mua.

Việc Mỹ can thiệp vào Venezuela (bắt giữ Maduro vào tháng 1/2026) đã chặt đứt một đồng minh quan trọng giúp Iran lách luật.

Lạm phát tại Iran đang chạm ngưỡng 60%. Khi tiền dầu không còn, chính phủ không thể trả lương cho binh sĩ và lực lượng dân quân. Một binh sĩ "phi tập trung" không thể chiến đấu lâu dài với một cái bụng rỗng và gia đình đang khốn khó.

Đối với một hệ thống được thiết kế để "sống sót khi mất đầu", áp lực kinh tế là vũ khí có tính hủy diệt cao hơn. Tấn công quân sự giống như việc bạn dẫm lên một bầy kiến, bạn có thể giết được nhiều con, nhưng bầy kiến vẫn tồn tại. Áp lực kinh tế giống như việc bạn phá hủy nguồn thức ăn và tổ kiến, cả bầy sẽ tự tan rã mà không cần tốn quá nhiều đạn dược.

Trump đang dùng quân sự để làm "suy yếu sức mạnh hỏa lực" của Iran, nhưng dùng kinh tế để "ép Iran phải quỳ xuống bàn đàm phán". Mục tiêu của ông là một thỏa thuận mới có lợi cho Mỹ chứ không hẳn là một cuộc chiến tranh tổng lực kéo dài.

Valentina Tereshkova

- Copy từ Facebook Lê Công Thành -

Valentina Tereshkova

Ngày 16 tháng 6 năm 1963, ở độ cao hai trăm cây số phía trên mặt đất, Valentina Tereshkova nhận ra con tàu đang đưa bà đi sai hướng. Chương trình điều khiển tự động của Vostok 6 bị lỗi - thay vì đưa tàu hạ dần quỹ đạo để quay về Trái Đất, nó đẩy tàu bay xa hơn vào khoảng không. Sáu tháng trước bà còn đứng bên khung cửi trong nhà máy dệt Krasny Perekop ở Yaroslavl. Giờ bà một mình trong cabin chật hẹp đường kính chưa đầy hai mét rưỡi, đối diện với khả năng không bao giờ trở về.

Bà không hoảng loạn. Bà báo cáo lỗi cho Sergei Korolev, tổng công trình sư chương trình vũ trụ Liên Xô, qua sóng vô tuyến. Nhóm kỹ sư dưới mặt đất tính toán lại thuật toán hạ cánh, truyền dữ liệu mới lên tàu. Tereshkova nhập lệnh và sống sót.

Bốn mươi năm sau, chi tiết này mới được giải mật. Suốt bốn thập kỷ đó, theo yêu cầu của Korolev, bà không nói một lời. Bà im lặng ngay cả khi các đồng nghiệp nam phi hành gia lan truyền tin đồn rằng bà đã khóc lóc hoảng loạn trên quỹ đạo. Im lặng ngay cả khi chính Korolev, người đã nhờ bà giữ bí mật, lại báo cáo với ủy ban rằng bà ở trạng thái "bên bờ mất ổn định tâm lý" trong suốt chuyến bay.

Hôm nay, ngày 6 tháng 3 năm 2026, Valentina Tereshkova tròn tám mươi chín tuổi. Bà vẫn ngồi trong Duma quốc gia Nga. Năm 2020, chính bà đệ trình sửa đổi hiến pháp xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ cho tổng thống Vladimir Putin. Người phụ nữ từng bay một mình quanh Trái Đất bốn mươi tám vòng giờ là nghị sĩ trung thành của một bộ máy quyền lực, bị Mỹ và Liên minh châu Âu đưa vào danh sách trừng phạt vì ủng hộ cuộc chiến ở Ukraine.

Cô công nhân dệt may, rồi phi hành gia đầu tiên của phái nữ, rồi nghị sĩ bị quốc tế cô lập. Cuộc đời Tereshkova không gọn gàng theo khuôn chiến thắng hay bi kịch. Nó là câu chuyện về điều xảy ra khi một con người bị biến thành biểu tượng, và biểu tượng đó dần dần nuốt chửng chính con người đã sinh ra nó.

-

Tại sao Tereshkova được chọn? Không phải vì năng lực.

Năm 1962, hơn bốn trăm phụ nữ nộp đơn ứng tuyển vào chương trình vũ trụ Liên Xô. Trong số đó có nữ phi công, nhà vật lý, kỹ sư, những người có hồ sơ chuyên môn vượt trội. Năm người được chọn vào vòng huấn luyện cuối. Tereshkova là người duy nhất không có bằng đại học. Kinh nghiệm hàng không của bà gồm một trăm hai mươi lăm lần nhảy dù với câu lạc bộ thể thao nghiệp dư ở Yaroslavl.

Nhưng bà có thứ mà không ai khác có: một câu chuyện.

Cha bà, Vladimir Tereshkov, hạ sĩ chỉ huy xe tăng, tử trận năm 1940 trong cuộc chiến tranh Liên Xô–Phần Lan, khi bà mới hai tuổi. Mẹ bà đưa ba đứa con về Yaroslavl, xin vào nhà máy dệt. Bản thân bà bỏ học năm mười sáu tuổi để vào làm công nhân cùng nhà máy với mẹ, vừa làm vừa học hàm thụ. Đảng viên trẻ, xuất thân vô sản thuần chất.

Korolev và Nikita Khrushchev hiểu rõ: đưa một nữ phi công tinh hoa lên vũ trụ, phương Tây sẽ gật đầu rồi quên. Nhưng đưa một nữ công nhân dệt may lên quỹ đạo Trái Đất, con gái liệt sĩ, tự học, tự phấn đấu - thì đó trở thành tuyên ngôn chính trị. Bằng chứng sống rằng chủ nghĩa xã hội có thể đưa bất kỳ ai, từ bất kỳ đâu, lên đến bất kỳ độ cao nào. Trong khi nước Mỹ phải đợi thêm hai mươi năm nữa mới đưa được Sally Ride vào không gian, và Ride là tiến sĩ vật lý Stanford.

Khoảng cách giữa cô công nhân dệt may và nhà vật lý Stanford chính là khoảng cách giữa hai cách kể chuyện. Trong cuộc đua giành trái tim thế giới thời Chiến tranh Lạnh, ai cũng biết câu chuyện nào nặng ký hơn.

-

Nhiều tổ chức ngày nay vẫn chưa tiêu hóa nổi bài học này: khi chọn người đại diện, năng lực chuyên môn chỉ là một biến số. Biến số còn lại, đôi khi quyết định hơn, là tường thuật mà người đó mang theo.

Mỗi quyết định bổ nhiệm hay thăng chức đều là một thông điệp gửi tới cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức. Chọn ai lên vị trí đó tức là chọn câu chuyện nào được tôn vinh. Liên Xô hiểu điều này từ năm 1963. Họ tuyển biểu tượng, chứ không đơn giản tuyển phi hành gia. Và biểu tượng đó vận hành hiệu quả đến mức hơn sáu mươi năm sau, tên Tereshkova vẫn là cái tên đầu tiên xuất hiện khi ai đó gõ "người phụ nữ đầu tiên trong vũ trụ."

Nhưng câu chuyện có hai mặt, và mặt kia của Tereshkova ít người muốn nhìn.

-

Sau khi hạ cánh, bà trở thành tài sản quốc gia. Nghĩa đen. Liên Xô tổ chức cho bà kết hôn với phi hành gia Andriyan Nikolayev trong một đám cưới do Khrushchev đích thân chủ trì, một "thông điệp cổ tích gửi đến nhân dân" theo cách gọi của bộ máy tuyên truyền. Bà được phong Anh hùng Liên Xô, trao hai lần Huân chương Lenin, đưa đi khắp thế giới như bằng chứng sống cho ưu thế của chế độ.

Bà muốn bay lại. Năm 1965, một sứ mệnh toàn nữ trên tàu Voskhod được lên kế hoạch, với bà làm chỉ huy. Kế hoạch bị hủy vì lý do kỹ thuật sau sự cố Voskhod 2. Rồi năm 1968, Yuri Gagarin thiệt mạng trong một chuyến bay huấn luyện. Nỗi sợ mất thêm một biểu tượng quốc gia khiến bộ máy siết chặt. Năm 1969, toàn bộ nhóm nữ phi hành gia bị giải tán.

Tereshkova bị chuyển sang làm chính trị. Đại biểu Xô Viết Tối cao, ủy viên Hội đồng Hòa bình Thế giới, chủ tịch Ủy ban Phụ nữ Liên Xô. Bà vào học Học viện Kỹ thuật Không quân Zhukovsky, tốt nghiệp loại ưu, nhưng không bao giờ được ngồi vào buồng lái nữa. "Họ cấm tôi bay, dù tôi phản đối và tranh luận hết mức," bà nói nhiều năm sau. "Sau khi đã lên vũ trụ một lần, tôi khao khát được trở lại. Nhưng điều đó không xảy ra."

Giấc mơ chinh phục không gian của bà kết thúc ở tuổi hai mươi sáu. Phần đời còn lại, hơn sáu mươi năm, bà dành để làm tượng đài sống. Mỉm cười trước ống kính, cầm đuốc Olympic, biểu quyết trong nghị trường theo đúng kịch bản mà hệ thống viết sẵn.

Bất kỳ ai từng xây dựng thương hiệu cá nhân gắn liền với một tổ chức đều nên nhìn kỹ vào đoạn này. Khi bạn trở nên quá có giá trị với tư cách biểu tượng, tổ chức sẽ không cho bạn mạo hiểm nữa. Mà không được mạo hiểm thì cũng không còn gì để làm ngoài việc lặp lại chính mình. Bạn bị nhốt trong phiên bản tốt nhất mà người khác gán cho bạn, và phiên bản đó dần dần thay thế con người thật.

-

Phản biện hiển nhiên ở đây là: Tereshkova có thể đã hoàn toàn tự nguyện. Bà gia nhập Đảng Cộng sản từ trẻ, bà tin vào hệ thống, và mỗi quyết định, từ giữ bí mật về lỗi thuật toán đến đệ trình sửa đổi hiến pháp cho Putin, đều có thể xuất phát từ niềm tin cá nhân chứ không phải từ sự ép buộc. Ranh giới giữa trung thành tự nguyện và trung thành vì không còn lựa chọn nào khác, trong một hệ thống toàn trị, là ranh giới mà ngay cả người trong cuộc cũng không phải lúc nào phân biệt được.

Và điều đó không chỉ xảy ra trong các chế độ toàn trị. Trong bất kỳ tổ chức nào, khi một cá nhân gắn danh tính của mình vào một thể chế đủ lâu, lằn ranh giữa "tôi tin vào điều này" và "tôi đã đầu tư quá nhiều để dừng lại" trở nên gần như vô hình. Người sáng lập gắn tên mình lên thương hiệu rồi không thể tách ra. Nhân viên kỳ cựu đồng nhất bản thân với văn hóa công ty đến mức phản xạ bảo vệ nó trước mọi phê phán, kể cả những phê phán đúng. Không ai biết chính xác lúc nào mình đã chuyển từ lựa chọn sang quán tính.

-

Câu chuyện Tereshkova còn chứa một chi tiết nhỏ mà ít ai để ý.

Khi bà phát hiện lỗi thuật toán trên Vostok 6 và báo cáo với Korolev, bà không chỉ cứu mạng mình. Bà cứu cả chương trình vũ trụ Liên Xô khỏi một thảm họa truyền thông: người phụ nữ đầu tiên trong vũ trụ chết vì lỗi kỹ thuật của chính hệ thống đã đưa bà lên đó. Korolev biết ơn, nhưng lòng biết ơn của ông thể hiện bằng cách yêu cầu bà im lặng. Bà đã xin ông đừng kỷ luật người kỹ sư viết sai thuật toán. Ông đồng ý. Rồi ông yêu cầu bà không bao giờ nhắc lại chuyện này.

Một người vừa cứu hệ thống khỏi thảm họa, rồi bị chính hệ thống yêu cầu phủ nhận công lao của mình. Cảnh đó lặp lại ở khắp nơi trong đời sống tổ chức, đến mức gần như nhàm. Bao nhiêu người ở tuyến đầu âm thầm sửa lỗi của cấp trên, nuốt xuống cái tôi để giữ cho bộ máy vận hành, rồi nhận về sự thờ ơ? Hoặc tệ hơn, nhận về tin đồn rằng chính họ mới là người yếu kém?

Lòng trung thành kiểu đó có giá trị. Nó giữ cho tổ chức không sụp đổ trong những khoảnh khắc mong manh nhất. Nhưng nó có cái giá mà người trung thành phải trả bằng chính mình. Và tổ chức nào nhận lòng trung thành đó mà không bao giờ thừa nhận cái giá ấy, thì xứng đáng với những gì sẽ đến khi lòng trung thành cạn kiệt.

-

Valentina Tereshkova tám mươi chín tuổi hôm nay. Bà vẫn là người phụ nữ duy nhất từng thực hiện chuyến bay vũ trụ một mình. Kỷ lục đó tồn tại hơn sáu thập kỷ, không phải vì thiếu phụ nữ đủ giỏi, mà vì sau bà, không ai thấy cần gửi thêm một người phụ nữ lên quỹ đạo một mình nữa. Mục đích tuyên truyền đã đạt được. Lặp lại thì thừa.

Ở tuổi hai mươi sáu, bà nhìn xuống Trái Đất từ độ cao hai trăm cây số và thấy bình minh mọc mỗi chín mươi phút. Ở tuổi tám mươi chín, bà ngồi trong nghị trường và giơ tay biểu quyết. Giữa hai hình ảnh đó là hơn sáu mươi năm, và tất cả những chuyến bay đã không bao giờ xảy ra.

Kỹ sư Lê Quốc Ca: ĐỪNG KHUYÊN UKRAINA ĐẦU HÀNG – LỊCH SỬ VIỆT NAM KHÔNG DẠY CHÚNG TA NHƯ VẬY

ĐỪNG KHUYÊN UKRAINA ĐẦU HÀNG – LỊCH SỬ VIỆT NAM KHÔNG DẠY CHÚNG TA NHƯ VẬY

Tác giả: Trung sỹ - kỹ sư Lê Quốc Ca

Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội Việt Nam xuất hiện một quan điểm khá phổ biến: Ukraina đáng lẽ nên nhượng Crimea, Donbass hoặc Luhansk để tránh chiến tranh. Một số người còn cho rằng Tổng thống Volodymyr Zelensky “dai dột” khi tiếp tục chiến đấu thay vì chấp nhận mất lãnh thổ.

Thoạt nghe, lập luận này có vẻ “thực tế” và “yêu hòa bình”: nhượng bộ để tránh chiến tranh, tránh thương vong, tránh tàn phá đất nước.

Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ thấy đây là một lập luận vừa nguy hiểm về chính trị, vừa mâu thuẫn về đạo lý, và đặc biệt là trái với chính lịch sử của Việt Nam.

Trước khi nói rằng Ukraina nên đầu hàng để có hòa bình, có lẽ chúng ta nên tự đặt ra một vài câu hỏi.

PHẦN I. MỜI CÁC CHUYÊN GIA, NHÀ PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC TRẢ LỜI 10 CÂU HỎI SAU ĐÂY:

1. Nếu nhượng đất để tránh chiến tranh là đúng, vậy Việt Nam ngày xưa có nên làm vậy không?

Nếu tổ tiên chúng ta từng nghĩ rằng:

“Thôi nhượng đất cho xong để tránh chiến tranh.”

Thì liệu hôm nay còn có một đất nước Việt Nam độc lập hay không?

2. Nếu một nước có thể dùng vũ lực chiếm lãnh thổ nước khác, vậy luật pháp quốc tế còn ý nghĩa gì?

Một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là:

không được dùng vũ lực để thay đổi biên giới.

Nếu nguyên tắc này bị phá vỡ, trật tự quốc tế sẽ ra sao?

3. Nếu Ukraina nhượng đất hôm nay, ai đảm bảo ngày mai sẽ không bị đòi thêm?

Lịch sử cho thấy:

nhượng bộ xâm lược hiếm khi kết thúc xung đột.

Nó thường chỉ mở đường cho những yêu sách mới.

4. Nếu nước lớn có quyền lấy đất nước nhỏ, vậy các quốc gia nhỏ còn an toàn không?

Thế giới có hơn 190 quốc gia.

Phần lớn không phải cường quốc quân sự.

Nếu nguyên tắc chủ quyền bị phá vỡ, ai sẽ là nạn nhân tiếp theo?

5. Nếu một dân tộc bị xâm lược mà không được tự vệ, vậy quyền tự quyết còn tồn tại không?

Hiến chương Liên Hợp Quốc công nhận:

mọi quốc gia đều có quyền tự vệ.

6. Nếu Zelensky phải đầu hàng để tránh chiến tranh, vậy các lãnh đạo Việt Nam ngày xưa có nên làm vậy không?

Nếu lãnh đạo Việt Nam từng nói:

“Thôi đầu hàng để tránh chiến tranh.”

Thì lịch sử đất nước sẽ ra sao?

7. Tại sao cùng một logic “hãy đầu hàng để có hòa bình” lại không được áp dụng cho mọi nơi?

Tại sao có người chỉ khuyên Ukraina phải đầu hàng, nhưng không khuyên Iran điều này?

8. Người Việt Nam có nên quên những ai từng giúp mình?

Trong thời kỳ chiến tranh và xây dựng đất nước, nhiều quốc gia đã giúp đỡ Việt Nam.

Trong hệ thống Liên Xô trước đây, các thành phố như:

• Kyiv

• Kharkiv

• Odessa

đã đào tạo nhiều thế hệ kỹ sư và sinh viên Việt Nam.

9. Hòa bình có thể tồn tại nếu công lý bị bỏ qua không?

Một nền hòa bình dựa trên việc hợp pháp hóa xâm lược có thể tồn tại bao lâu?

10. Câu hỏi cuối cùng

Nếu một dân tộc phải từ bỏ lãnh thổ của mình để kẻ mạnh hài lòng,

đó có phải là hòa bình?

Hay chỉ là sự đầu hàng trước bất công?

PHẦN II

7 NGỘ NHẬN PHỔ BIẾN

Bên cạnh những câu hỏi trên, nhiều tranh luận hiện nay còn xuất phát từ một số ngộ nhận phổ biến.

Ngộ nhận 1

“Ukraina gây chiến.”

Chiến tranh bắt đầu khi quân đội Nga vượt biên giới Ukraina năm 2022.

Ngộ nhận 2

“Ukraina chỉ là công cụ của phương Tây.”

Ukraina là một quốc gia độc lập với chính phủ do người dân bầu ra.

Ngộ nhận 3

“Nhượng đất sẽ có hòa bình.”

Lịch sử cho thấy điều ngược lại.

Ngộ nhận 4

“Chiến tranh này không liên quan đến luật quốc tế.”

Ngược lại, đây là vấn đề cốt lõi của luật quốc tế:

việc dùng vũ lực để thay đổi biên giới.

Ngộ nhận 5

“Một quốc gia nhỏ không nên chống lại nước lớn.”

Nếu mọi quốc gia nhỏ đều nghĩ như vậy, thì chủ quyền quốc gia sẽ không còn ý nghĩa.

Ngộ nhận 6

“Chiến tranh là lỗi của riêng một cá nhân.”

Các cuộc chiến tranh thường có nhiều nguyên nhân phức tạp.

Ngộ nhận 7

“Việt Nam nên ủng hộ kẻ mạnh.”

Lịch sử Việt Nam cho thấy điều ngược lại.

PHẦN III

5 SỰ THẬT LỊCH SỬ

Sự thật 1

Trong thế kỷ XX, nhiều quốc gia từng nhượng bộ lãnh thổ để tránh chiến tranh.

Nhưng điều đó không ngăn được những cuộc chiến lớn hơn sau đó.

Sự thật 2

Nguyên tắc không dùng vũ lực để thay đổi biên giới được hình thành sau Thế chiến II vì những bài học đau đớn của lịch sử.

Sự thật 3

Hệ thống luật quốc tế tồn tại chính để bảo vệ các quốc gia nhỏ trước sức ép của các cường quốc.

Sự thật 4

Trong lịch sử Việt Nam, các cuộc kháng chiến đều dựa trên nguyên tắc:

bảo vệ độc lập và chủ quyền.

Sự thật 5

Nếu nguyên tắc chủ quyền quốc gia bị phá vỡ, trật tự quốc tế sẽ trở nên nguy hiểm hơn cho tất cả các nước.

PHẦN IV

VÌ SAO MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT LẠI ĐỨNG VỀ PHÍA NGA?

Có một hiện tượng đáng chú ý: một bộ phận người Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Nga.

Điều này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân.

1. Ký ức về Liên Xô

Trong chiến tranh, Liên Xô đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều.

Nhưng cần nhớ rằng:

Liên Xô trước đây không hoàn toàn giống nước Nga ngày nay.

2. Ảnh hưởng của thông tin một chiều

Trong thời đại mạng xã hội, thông tin dễ bị chọn lọc hoặc bóp méo.

3. Tâm lý “ủng hộ kẻ mạnh”

Một số người có xu hướng đứng về phía bên được xem là mạnh hơn.

4. Hiểu sai về “địa chính trị”

Một số người cho rằng các cường quốc có quyền quyết định số phận các quốc gia nhỏ.

Nhưng hệ thống quốc tế hiện đại được xây dựng chính để hạn chế điều đó.

5. Quên bài học của lịch sử Việt Nam

Việt Nam là một dân tộc đã nhiều lần phải đấu tranh để bảo vệ chủ quyền.

Chính vì vậy, đáng lẽ chúng ta phải hiểu rõ nhất cảm giác của một dân tộc khi họ bị đe dọa mất lãnh thổ.

TÓM LẠI LÀ:

Không ai muốn chiến tranh.

Nhưng hòa bình không thể được xây dựng bằng cách hợp pháp hóa việc chiếm đất bằng vũ lực.

Lịch sử Việt Nam dạy chúng ta một điều rất rõ:

độc lập và chủ quyền không phải là thứ có thể đem ra mặc cả.

Trước khi nói rằng một dân tộc khác nên “đầu hàng để có hòa bình”, có lẽ chúng ta nên nhớ lại chính lịch sử của mình.