Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Bác sĩ Võ Xuân Sơn: NGƯỜI NGHÈO

NGƯỜI NGHÈO

Mấy ngày nay, thông qua việc tuyển dụng, tôi nhìn thấy một vấn đề. Thực ra thì tôi đã thấy nó từ những lần tuyển dụng lao động phổ thông trước đây.

Tôi đã từng gặp những bạn khoảng trên 30 tuổi đến trên 40 tuổi, rất nghèo. Các bạn không có tiền để đi đến chỗ phỏng vấn, chỗ làm việc. Khi được nhận vào làm việc, các bạn không thể có tiền để ăn những ngày đầu. Không dưới chục lần tôi đã hỗ trợ các bạn tiền đi đến nơi phỏng vấn, và cả tiền đi về nếu không được tuyển. Thường thì mức tiền tôi hỗ trợ cao hơn so với nhu cầu di chuyển. Càng về sau này, người ứng tuyển lớn tuổi càng nhiều. Nhưng chỉ đến lần này, tôi mới gặp những người lớn tuổi mà không có lấy một chút tiền phòng thân.

Tôi kể ra đây câu chuyện về một bạn làm nghề lái xe, bị giam bằng lái. Bạn trên 40 tuổi, chưa vợ con. Bạn không có tiền, tôi phải cho bạn tiền để đi đến nhà tôi ở Sài Gòn để phỏng vấn. Thấy tình cảnh bạn thật đáng thương, tôi nhận bạn vô làm việc. Tôi cho bạn 1 triệu để đi từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Lúc đó, đi xe Thành Bưởi giường nằm cũng hết khoảng 300.000 đồng. Nhưng bạn lại xin ứng trước lương để có cái ăn trong những ngày đầu. Tôi ứng cho bạn thêm 1 triệu.

Lên Đà Lạt được 3 ngày, người làm cùng với bạn ấy báo cho tôi, bạn ấy nghỉ việc, và bạn ấy đã nghỉ rồi. Bạn làm cũ nói với tôi là bạn không biết lí do. Tôi cũng không biết lí do. Bạn nhân viên mà tôi nhiệt tình giúp không gọi, không xin phép, mà nghỉ ngang. Tôi còn nghi ngờ có chuyện ma cũ ăn hiếp ma mới. Tuy nhiên, khi tôi lên Đà Lạt thì bạn làm cũ cho tôi xem các tin nhắn của bạn kia sau khi nghỉ. Nói chung là tình thương mến thương, và liên tục than khổ, than số phận hẩm hiu, than không biết đi đâu, về đâu…

Tôi không biết tại sao bạn ấy liên tục kêu khổ, mà có công việc, tương đối nhàn nhã, có chỗ ở không mất phí, ăn thì có bếp nấu, nhà có rau tự trồng, thời điểm đó vườn có nuôi gà, có trứng để ăn, và tôi cũng cho phép các bạn ấy bắt gà nuôi để ăn với số lượng nhất định. Đồ ăn tại Đà Lạt mua về nấu thì khá rẻ so với Sài Gòn và các thành phố du lịch khác. Vậy mà bạn cứ luôn miệng kêu khổ nhưng lại không muốn làm việc. Đã vậy còn hành xử rất kém văn hóa với người giúp mình. Hay bạn nghĩ tôi là chủ tư bản, bóc lột bạn?

Trường hợp bạn trên đây không phải là phổ biến trong số các bạn tôi gặp trong đời. Nhưng tôi biết nhiều bạn, thực sự có cố gắng, thực sự đã có lúc ăn nên làm ra, nhưng vào một thời điểm nào đó, đặc biệt là lúc về già, lại vô cùng khó khăn về mặt tiền bạc. Một chị giúp việc theo giờ ở nhà tôi. Làm gì thì làm, Chủ nhật là chị không làm, chị đi làm từ thiện. Chị rất tốt, nhưng chị lại có vấn đề về tài chính. Trong khi chị làm tạp vụ cho công ty, ngoài giờ đi làm giúp việc nhà theo giờ, kiếm từng đồng, nhưng khi con chị bị bịnh, chị dứt khoát cho con ra bệnh viện tư mổ mà không chịu đi theo BHYT.

Đến khi công ty chị ấy rơi vào khó khăn, chị là người bị cho nghỉ việc đầu tiên (chị đã quá tuổi hưu), các nhà chị đang làm theo giờ cũng không còn thuê chị nữa, nhà thì giống chúng tôi, có người làm toàn thời gian rồi, nhà thì đi xuất cảnh, nhà thì khó khăn… Và chị rơi vào khó khăn, ở tuổi U70. Khi tôi kiếm người lên Đà Lạt làm, thì chị không nhận công việc, vì chị sợ lên Đà Lạt lạnh sẽ đau khớp.

Suốt thời gian tôi đi học, từ lớp vỡ lòng đến khi ra tiến sĩ, người ta dạy tôi rất nhiều cái. Nhưng có thể nói trong nhà trường hoàn toàn không dạy tôi các kĩ năng sống. Trong khi đó thì kiếm tiền, sử dụng tiền như thế nào là những kĩ năng cực kì quan trọng. Khi con tôi học trung học theo chương trình Úc, tôi kinh ngạc khi con tôi học những môn như quản trị kinh doanh, kế toán, đọc báo cáo tài chính. Cháu trao đổi với vợ tôi, người được đào tạo về tài chính kế toán chính qui, rất mạch lạc.

Những thanh niên không được dạy, rằng muốn sống thì phải làm kiếm tiền để có tiền mua cái ăn, cái mặc. Muốn không khó khăn thì phải biết cách xài tiền. Họ chỉ được dạy chủ nghĩa Mác Lê Nin, và kiến thức của các bác học. Ngay cả môn kinh tế chính trị, họ cũng chỉ được dạy những điều cực kì cao siêu. Không ai dạy họ muốn kinh doanh thì phải làm gì, khi có tiền thì phải tiêu xài, tiết kiệm, cho tiền đẻ ra tiền ra sao.

Thế cho nên, tôi rất ủng hộ anh Lâm Minh Chánh khi anh có các chương trình tài chính cá nhân cho các lứa tuổi. (https://www.facebook.com/share/1DrhNTptJC/). Ngành giáo dục không làm tròn chức năng của họ, anh Chánh bổ sung những điều ấy. Thế nhưng, không phải ai cũng nhìn thấy tác dụng giáo dục rất tích cực của những việc anh Chánh làm. 

Nhiều người chỉ nhìn thấy anh Chánh đang kiếm tiền, và công kích. Chính những công kích ấy đã ngăn chặn những người không được dạy về kĩ năng kiếm tiền và xài tiền tiếp cận để học được cái mà họ đang vừa rất cần, vừa rất thiếu.

FB. Can Pham: ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC TRUNG QUỐC: THỨ PHƯƠNG TÂY CHÊ NHƯNG KHÔNG LÀM ĐƯỢC

ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC TRUNG QUỐC: THỨ PHƯƠNG TÂY CHÊ NHƯNG KHÔNG LÀM ĐƯỢC

Nhiều năm qua, mỗi khi nói đến đường sắt cao tốc Trung Quốc, thế giới phương Tây thường có ba giọng điệu quen thuộc.

Thứ nhất: xây bằng nợ.

Thứ hai: hiệu quả thấp.

Thứ ba: độc tài nên mới làm nhanh được.

Ba ý đó không hoàn toàn sai. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, họ đã bỏ lỡ câu hỏi lớn hơn:

Nếu mô hình ấy tệ đến vậy, vì sao những nền dân chủ giàu hơn, công nghệ cao hơn, vốn mạnh hơn… lại không làm nổi điều tương tự?

Đây mới là nghịch lý thật.

---

1. Trung Quốc không chỉ xây tàu, họ xây năng lực quốc gia

Nhiều người nhìn đường sắt cao tốc như một dự án giao thông.

Sai.

Trung Quốc nhìn nó như:

công nghiệp luyện kim,

cơ khí chính xác,

điện tử công suất,

điều khiển tín hiệu,

vật liệu mới,

quy hoạch đô thị,

tài chính công,

thống nhất thị trường lao động.

Một km đường ray không chỉ để tàu chạy.

Nó là bài kiểm tra xem quốc gia đó có thể:

phối hợp hàng nghìn doanh nghiệp,

tiêu chuẩn hóa kỹ thuật,

huy động vốn dài hạn,

giải phóng mặt bằng,

tổ chức chuỗi cung ứng,

duy trì thi công nhiều năm liên tục hay không.

Nói ngắn gọn:

Đường sắt cao tốc là bài thi năng lực nhà nước.

Và Trung Quốc đã làm bài thi đó ở cấp độ mà ít ai sánh kịp.

---

2. Phương Tây giàu tiền, nhưng nghèo khả năng hành động tập thể

Mỹ có vốn.

Châu Âu có công nghệ.

Nhật có kinh nghiệm.

Nhưng mỗi nơi lại mắc một nút thắt riêng.

Mỹ:

kiện tụng kéo dài

phân quyền nhiều tầng

chính trị chu kỳ ngắn

thay chính quyền là đổi ưu tiên

Kết quả: bàn mười năm, cãi hai mươi năm, xây ba mươi năm chưa xong.

Châu Âu:

kỹ thuật tốt

nhưng chia nhỏ quốc gia

thủ tục môi trường nặng

chi phí lao động cao

đồng thuận chính trị chậm

Nhật:

quá thành công sớm

dân số già

thị trường nội địa bão hòa

Trong khi đó Trung Quốc có thứ quý hơn tiền:

khả năng quyết định rồi làm đến cùng.

---

3. Điều phương Tây chê lại chính là lợi thế cạnh tranh

Họ chê Trung Quốc:

tập trung quyền lực

ngân hàng quốc doanh

doanh nghiệp nhà nước

kế hoạch dài hạn

Nhưng chính bốn thứ đó cho phép:

huy động vốn rẻ hàng nghìn tỷ USD

chuẩn hóa hàng loạt

mua công nghệ rồi nội địa hóa

xây mạng lưới đồng bộ thay vì manh mún

Nói cách khác:

Thứ bị coi là méo mó theo kinh tế học thị trường lại là ưu thế trong các siêu dự án hạ tầng.

Đây là điều nhiều người không muốn thừa nhận.

---

4. Nhưng Trung Quốc cũng trả giá thật

Không có mô hình thần thánh.

Trung Quốc trả giá bằng:

nợ lớn

vài tuyến hiệu quả thấp

đầu tư vượt nhu cầu ở nơi dân thưa

rủi ro tài chính địa phương

phụ thuộc vào tăng trưởng liên tục để hấp thụ chi phí

Tức là họ đổi: rủi ro trì trệ lấy rủi ro nợ nần.

Phương Tây thì ngược lại: đổi an toàn thể chế lấy bất lực hành động.

Hai bên đều có giá phải trả.

---

5. Bài học cho Việt Nam

Sai lầm lớn nhất là học hai cực đoan:

Cực đoan 1: thần tượng Trung Quốc

Cứ vay thật lớn, làm thật nhanh, mặc kệ hiệu quả.

Cực đoan 2: chê bai để đứng yên

Viện đủ lý do thủ tục, vốn, cơ chế… rồi không làm gì cả.

Con đường đúng là:

học năng lực tổ chức của họ

học tiêu chuẩn hóa

học quy hoạch liên vùng

học nội địa hóa công nghiệp phụ trợ

Nhưng phải tránh:

đầu tư phô trương

vay vượt sức trả

quyết định không phản biện

---

6. Kết luận

Đường sắt cao tốc Trung Quốc không chứng minh rằng độc tài tốt hơn dân chủ.

Nó chỉ chứng minh một điều khó nghe hơn:

Nhiều nền dân chủ hiện đại đã đánh mất năng lực xây dựng những việc lớn.

Và khi một xã hội chỉ còn giỏi tranh luận mà không còn giỏi kiến tạo, họ sẽ bắt đầu chê những ai còn làm được.

Còn Trung Quốc, dù đúng sai thế nào, đã kịp biến thép, điện, bê tông và thời gian thành quyền lực quốc gia.

Đó mới là điều khiến thế giới khó chịu nhất.

Dmitry Chernyshev: Sự tàn phá từ bên trong: Khi Đặc vụ nắm quyền quản lý Nhà nước

Sự tàn phá từ bên trong: Khi Đặc vụ nắm quyền quản lý Nhà nước.

​Dù rất ngưỡng mộ các hoạt động của Quân đội Ukraine (ZSU), tôi phải nói rằng: tất cả thiệt hại từ các cuộc tấn công bằng tên lửa và flycam vào lãnh thổ Nga thậm chí còn không thể so sánh được với những thiệt hại mà các "nhân viên đặc vụ" (chekists) đang gây ra cho chính đất nước mình.

​Các vụ cháy tại các nhà máy lọc dầu và vụ nổ tại các nhà máy quân sự Nga trông rất hiệu quả về mặt hình ảnh. Nhưng chính các cơ quan đặc vụ đang thúc đẩy quá trình đập tan đất nước vào bức tường đổ nát từ bên trong còn nhanh hơn thế nhiều.

​1. Tư duy "Kẻ thù" và sự suy thoái hệ thống

​Nhìn đâu cũng thấy mối đe dọa, âm mưu và động cơ ẩn giấu có thể là một kỹ năng hữu ích trong nghiệp vụ trinh sát, nhưng nếu dùng nó làm nền tảng quản trị quốc gia thì đó là một thảm họa.

​Kinh tế, giáo dục, khoa học, văn hóa là những lĩnh vực chỉ phát triển thông qua sự cởi mở, trao đổi, chấp nhận rủi ro và niềm tin.

​Một người được huấn luyện để nhìn đâu cũng thấy kẻ thù sẽ luôn chọn những giải pháp đóng cửa đất nước thay vì mở ra. Hệ quả là văn hóa và khoa học Nga đang thoái hóa một cách nhanh chóng.

​2. Sản xuất "Kẻ thù" để trục lợi

​Các cơ quan đặc vụ cực kỳ quan tâm đến việc tồn tại "kẻ thù nội bộ" – vì ngân sách của họ phụ thuộc trực tiếp vào số lượng kẻ thù đó. Nếu không có kẻ thù, họ tự tạo ra chúng để giải ngân ngân sách, lấy huân chương và thăng quân hàm.

​Dự báo: Nga chắc chắn sẽ đối mặt với làn sóng "cuồng ám chỉ gián điệp". Khi mọi nguồn lực đổ vào chiến tranh và hạ tầng không được sửa chữa, các tai nạn công nghệ nghiêm trọng là không tránh khỏi. Tất cả những sự cố đó sẽ được tuyên bố là do gián điệp phá hoại.

​3. Bức màn bí mật và sự mất phản hồi

​Sự bí mật là công cụ vạn năng để trốn tránh trách nhiệm. Khi mọi thứ trong nước đều bị đóng dấu "mật", các công cụ để chẩn đoán chính xác thực trạng quốc gia sẽ mất đi và cơ chế phản hồi bị sụp đổ. Xã hội mất hoàn toàn khả năng đánh giá hiệu quả làm việc của nhà nước.

​4. Tiêu diệt các thiết chế ngang

​Các cơ quan đặc vụ được tổ chức theo chiều dọc. Họ dị ứng một cách tự nhiên với tất cả các thiết chế hoạt động theo chiều ngang:

​Tòa án độc lập.

​Báo chí tự do.

​Cộng đồng khoa học.

​Chính quyền địa phương, công đoàn, hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức phi chính phủ (NGO).

​Họ hệ thống hóa việc làm suy yếu hoặc thay thế các tổ chức này bằng những thực thể giả tạo. Kết quả là đất nước mất đi khả năng tự điều chỉnh.

​5. Chọn lọc ngược và tham nhũng hệ thống

​Chọn lọc nhân sự: Không phải những người tài năng nhất được thăng tiến, mà là những kẻ phục tùng nhất. Điều kiện bắt buộc để thăng tiến là phải có "hồ sơ đen" (compromat) về ứng viên đó để dễ dàng điều khiển. Sau 10–15 năm, hệ thống chỉ toàn những người hạng hai, hạng ba, không có khả năng đưa ra bất kỳ quyết định phức tạp nào.

​Băng đảng hóa: Ở bất kỳ đâu trên thế giới, khi đặc vụ được trao quyền lực vô hạn, nó luôn dẫn đến việc bảo kê và cướp đoạt doanh nghiệp. Thực tế, các đặc vụ ở Nga đã trở thành băng đảng tội phạm có tổ chức lớn nhất.

​Tra tấn: Tra tấn trở thành chuyện thường ngày – đó không phải là lỗi hệ thống (bug), mà là một tính năng (feature). Họ cần vấy máu càng nhiều người càng tốt để buộc chặt họ vào hệ thống.

​6. Phá hủy giáo dục và thế giới quan hoang tưởng

​Giáo dục: Tại sao trẻ em cần tiếng Anh giỏi? Để chúng bỏ ra nước ngoài sao? 

Các đặc vụ biện minh cho sự xuống cấp giáo dục bằng việc không muốn đào tạo nhân lực cho các nước khác. Vì thế, trường học ngày càng đầy rẫy sự yêu nước cực đoan, huấn luyện quân sự và tôn giáo.

​Sự phóng chiếu: Họ áp đặt phương pháp của mình lên đối thủ: "Vì chúng ta tuyển mộ gián điệp, nên họ cũng đang tuyển mộ người của ta. 

Vì chúng ta thao túng truyền thông, nên truyền thông phương Tây cũng chỉ là công cụ thao túng." Điều này tạo ra một bức tranh thế giới đầy hoang tưởng, nơi không thể phân biệt đâu là đe dọa thật, đâu là hư cấu. Tài nguyên bị lãng phí để chiến đấu với những "bóng ma", trong khi các vấn đề thực sự (nhân khẩu học, hạ tầng, lạc hậu công nghệ) bị phớt lờ.

​Kết luận

​Trong một hệ thống bình thường, xã hội luôn thay đổi: thế hệ thay thế nhau, ý tưởng mới ra đời. Đối với các cơ quan đặc vụ, quá trình này là nguồn gốc của các mối đe dọa. 

Họ có lợi trong việc bảo tồn chế độ hiện tại.

​Càng nắm quyền lâu, họ càng khiến đất nước tụt hậu so với nhịp điệu thay đổi tự nhiên, tích tụ những căng thẳng mà cuối cùng chắc chắn sẽ kết thúc bằng một thảm họa.

​Về phẩm chất cá nhân: Để đi làm cho cơ quan đặc vụ ở Nga, người ta hoặc phải là một kẻ đê tiện thực thụ, hoặc là một kẻ đại ngốc không biết chút gì về lịch sử đất nước mình. Thậm chí, có thể là cả hai cùng một lúc. (Dmitry Chernyshev)

Bố Bạn Vôva

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

FB. Can Pham: Vì sao chủ nghĩa Marx đang sống lại trong Gen Z phương Tây dù Liên Xô đã chết?

- Copy từ Facebook Can Pham -

Vì sao chủ nghĩa Marx đang sống lại trong Gen Z phương Tây dù Liên Xô đã chết?

Có một nghịch lý đang diễn ra ở phương Tây:

Liên Xô sụp đổ đã hơn ba thập niên

Trung Quốc đã thành cường quốc tư bản nhà nước

Cuba vẫn nghèo

Venezuela là bài học cảnh báo

Nhưng trong khi những biểu tượng cộng sản cũ phai nhạt, Marx lại trở về trong đầu óc giới trẻ phương Tây.

Không phải dưới dạng cờ búa liềm.

Không phải dưới dạng cách mạng vũ trang.

Mà dưới dạng một câu hỏi:

> “Vì sao tôi học nhiều hơn cha mẹ, làm việc nhiều hơn cha mẹ, nhưng sống tệ hơn cha mẹ?”

Đó là cánh cửa để Marx quay lại.

---

I. Marx trở lại không phải vì Marx thắng, mà vì tư bản tự tạo ra vấn đề mới

Thế hệ sau Thế chiến II ở Mỹ và châu Âu từng sống trong “thời kỳ vàng”:

lương tăng cùng năng suất

mua nhà được bằng lương lao động

học đại học rẻ

một người đi làm nuôi cả gia đình

việc làm ổn định lâu dài

Nhưng Gen Z lớn lên trong thế giới khác:

giá nhà vượt xa thu nhập

nợ sinh viên lớn

việc làm gig economy bấp bênh

bảo hiểm đắt đỏ

lương tăng chậm

AI đe dọa nghề nghiệp

mạng xã hội tạo áp lực tâm lý liên tục

Họ nhìn quanh và thấy:

> “Hệ thống này không dành cho tôi.”

Khi niềm tin lung lay, người ta tìm lý thuyết giải thích. Marx xuất hiện đúng lúc.

---

II. Marx hấp dẫn vì ông giải thích cảm giác bị bóc lột hiện đại

Người trẻ hôm nay không đọc Tư bản luận theo kiểu công nhân thế kỷ 19.

Họ đọc Marx qua trải nghiệm mới:

1. Làm nhiều nhưng không tích lũy được gì

Làm full-time nhưng vẫn thuê nhà, không mua nổi nhà.

2. Năng suất tăng nhưng đời sống không tăng tương ứng

Công nghệ tốt hơn, GDP lớn hơn, nhưng họ vẫn căng thẳng hơn cha mẹ.

3. Bị biến thành dữ liệu

Không chỉ bán sức lao động, họ còn vô thức bán:

dữ liệu cá nhân

thời gian chú ý

hành vi tiêu dùng

Marx nói tư bản khai thác lao động.

Gen Z thấy tư bản giờ khai thác cả ý thức và sự chú ý.

---

III. Họ không muốn Liên Xô quay lại

Đây là điểm nhiều người hiểu sai.

Phần lớn Gen Z thiên tả không muốn:

đảng độc quyền

công an trị

tem phiếu

kinh tế kế hoạch cứng nhắc

Họ muốn:

y tế công mạnh

giáo dục giá rẻ

công đoàn mạnh

thuế người siêu giàu cao hơn

chống độc quyền Big Tech

nhà ở dễ tiếp cận

khí hậu bền vững

Nói cách khác:

> Họ dùng Marx để phê phán tư bản, nhưng dùng Bắc Âu để tưởng tượng tương lai.

---

IV. Internet giúp Marx hồi sinh

Ngày xưa muốn tiếp cận Marx phải vào đại học hoặc đảng phái.

Ngày nay:

TikTok có video giải thích alienation

YouTube có podcast anti-capitalism

Reddit đầy tranh luận về landlord, healthcare, wages

Meme biến lý thuyết thành ngôn ngữ phổ thông

Khi đời sống bất mãn gặp thuật toán lan truyền, tư tưởng lan nhanh.

---

V. Điều sâu hơn: khủng hoảng ý nghĩa sống

Gen Z không chỉ thiếu tiền.

Họ thiếu cảm giác rằng đời mình có cấu trúc.

Nhiều người cảm thấy:

làm việc vô nghĩa

tiêu dùng để lấp trống rỗng

quan hệ xã hội mỏng

cộng đồng tan rã

tương lai khí hậu bất định

Marx từng nói con người bị tha hoá.

Khái niệm này mạnh trở lại vì nó chạm đúng tâm trạng hiện đại:

> Tôi đang sống, nhưng không thấy mình thuộc về cái gì.

---

VI. Vì sao tầng lớp tinh hoa lo ngại?

Bởi khi một thế hệ tin rằng:

chăm chỉ không đủ

luật chơi thiên vị

sở hữu tài sản là bất khả thi

thì họ sẽ không bảo vệ hệ thống hiện tại nữa.

Lúc đó xã hội xuất hiện:

chủ nghĩa dân túy cánh trái

chủ nghĩa dân túy cánh hữu

bài elite

cực đoan chính trị

phản kháng văn hóa

Nếu trung tâm không tự sửa, hai cực sẽ lớn lên.

---

VII. Việt Nam nên học gì?

Đừng cười Gen Z phương Tây là “mơ mộng cộng sản”.

Họ đang báo hiệu vấn đề thật:

> Khi người trẻ mất niềm tin vào khả năng đi lên bằng lao động, hệ thống bắt đầu rạn nứt.

Việt Nam nếu một ngày:

nhà ở quá xa tầm với

việc làm tốt ít dần

người trẻ chỉ sống tạm bợ

tài sản tập trung quá mạnh

thì tâm lý tương tự sẽ xuất hiện, dù khẩu hiệu khác nhau.

---

VIII. Kết luận

Marx không sống lại vì tượng Lenin.

Marx sống lại vì tiền thuê nhà.

Marx không trở lại vì Liên Xô.

Marx trở lại vì bảng lương không đuổi kịp giá sống.

Marx không hấp dẫn vì quá khứ.

Marx hấp dẫn vì nhiều người trẻ thấy tương lai bị khóa cửa.

Và khi một thế hệ tin rằng hệ thống không còn hứa hẹn gì với họ, họ sẽ tìm ngôn ngữ mới để phản kháng.

Hiện nay, ở phương Tây, ngôn ngữ đó đang mang tên Marx.

Can Pham: 10 ĐIỀU ENGELS VIẾT NĂM 1847 MÀ VIỆT NAM 2026 VẪN ĐANG GẶP

10 ĐIỀU ENGELS VIẾT NĂM 1847 MÀ VIỆT NAM 2026 VẪN ĐANG GẶP

(Link dưới bình luận vì dán vào đây không mở được) 

Năm 1847, Friedrich Engels viết The Principles of Communism như một bản cương yếu lý luận về xã hội công nghiệp đang trỗi dậy. Nhiều dự báo đã sai. Nhưng nhiều mô tả về cơ chế vận hành của nền kinh tế hiện đại lại vẫn còn giá trị lạ thường.

Nếu bỏ lớp ngôn ngữ thế kỷ 19 và đọc bằng con mắt kinh tế chính trị 2026, ta sẽ thấy không ít vấn đề của Việt Nam hôm nay đã được chạm tới từ gần hai thế kỷ trước.

---

1. Sản xuất tăng rất nhanh, nhưng sức mua không theo kịp

Engels quan sát rằng công nghiệp có thể tạo ra lượng hàng hóa lớn hơn khả năng tiêu thụ của xã hội. Đây là hạt nhân của khủng hoảng thừa.

Ở Việt Nam hiện nay:

Nhà ở xây nhiều nhưng người mua thật hạn chế

Công suất nhà máy mở rộng nhưng đơn hàng biến động

Nhiều doanh nghiệp tồn kho, xoay vốn khó

Vấn đề không phải chỉ là “sản xuất yếu”, mà là cầu hữu hiệu yếu.

---

2. Tài sản tăng giá nhanh hơn thu nhập lao động

Engels nhìn thấy xã hội nơi người sở hữu tư liệu sản xuất hưởng phần lớn thành quả tăng trưởng.

Phiên bản 2026:

Người có đất từ sớm giàu lên nhanh hơn người đi làm lương

Tài sản tài chính tích lũy nhanh hơn tiền công

Chênh lệch thế hệ ngày càng rõ

Đây là mâu thuẫn giữa thu nhập từ lao động và thu nhập từ tài sản.

---

3. Chu kỳ hưng phấn rồi co rút

Engels mô tả nền kinh tế không đi thẳng mà dao động giữa mở rộng và khủng hoảng.

Việt Nam quen với nhịp:

Bất động sản nóng → siết tín dụng

Chứng khoán hưng phấn → điều chỉnh

Tăng trưởng cao → áp lực nợ và thanh khoản

Nhiều người tưởng đó là “tai nạn”. Thực ra nó là chu kỳ.

---

4. Ngân hàng trở thành dây thần kinh của toàn hệ thống

Thời Engels chưa có hệ thống ngân hàng hiện đại như hôm nay, nhưng logic vốn tập trung đã xuất hiện.

Ở Việt Nam:

Nếu tín dụng nghẽn, doanh nghiệp khó thở

Nếu nợ xấu tăng, tăng trưởng bị kéo lùi

Nếu bất động sản đứng lâu, ngân hàng chịu áp lực lớn

Ngân hàng không chỉ là ngành. Nó là hệ tuần hoàn vốn.

---

5. Lao động có việc nhưng vẫn khó tích lũy

Engels nói đến tầng lớp công nhân sống phụ thuộc tiền lương.

Phiên bản mới:

Có việc nhưng khó mua nhà

Có thu nhập nhưng chi phí giáo dục, y tế, sinh hoạt cao

Làm nhiều năm vẫn khó tạo tài sản lõi

Đó là cảm giác bận rộn nhưng không tiến xa.

---

6. Tập trung kinh tế làm thay đổi quyền lực xã hội

Engels thấy đại công nghiệp gom người và vốn vào quy mô lớn.

Ngày nay là:

Tập đoàn đa ngành

Nền tảng số

Hệ sinh thái tài chính – bất động sản – tiêu dùng

Quyền lực không chỉ nằm ở nhà nước hay tiền mặt, mà ở khả năng tổ chức chuỗi giá trị.

---

7. Kỹ thuật tiến nhanh hơn thể chế

Máy móc thời Engels làm đảo lộn xã hội cũ.

Hôm nay:

AI đi nhanh hơn giáo dục

Thương mại điện tử đi nhanh hơn luật

Kinh tế số đi nhanh hơn quản trị dữ liệu

Khoảng trễ này tạo ra bất ổn mới.

---

8. Người dân đánh giá đời sống bằng kỳ vọng, không chỉ bằng số liệu

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng tốt trên giấy, nhưng nếu người dân:

khó mua nhà

lo việc làm

ngại sinh con

tiết kiệm phòng thân

thì tâm lý xã hội vẫn thận trọng.

Engels hiểu rằng kinh tế là quan hệ sống, không chỉ thống kê.

---

9. Tổ chức mạnh hơn khẩu hiệu

Điểm sắc bén nhất của Engels là: quyền lực hiện đại sinh ra từ năng lực tổ chức sản xuất quy mô lớn.

Với Việt Nam 2026, điều này đúng ở mọi nơi:

Doanh nghiệp thắng nhờ vận hành

Nhà nước thắng nhờ thực thi

Xã hội ổn định nhờ phối hợp

Khẩu hiệu không thay thế được năng lực tổ chức.

---

10. Không hệ thống nào đứng yên mãi

Engels tin rằng mọi trật tự kinh tế đều có giới hạn lịch sử.

Bài học không phải “chủ nghĩa nào thắng”, mà là:

> Hệ thống nào không tự sửa, hệ thống đó tích tụ mâu thuẫn.

Đó là nguyên lý còn nguyên giá trị.

---

Điều Engels sai — và ta phải nói rõ

Ông sai ở ba điểm lớn:

1. Tin cách mạng vô sản sẽ đồng loạt nổ ra

2. Đánh giá thấp khả năng tự cải cách của tư bản

3. Không thấy tầng lớp quản trị – kỹ trị – công nghệ sẽ nổi lên

Điều này quan trọng, vì đọc Engels mà coi như tiên tri là sai hoàn toàn.

---

Với Việt Nam, đọc Engels để làm gì?

Không phải để quay lại thế kỷ 20.

Mà để hiểu ba câu hỏi thế kỷ 21:

1. Làm sao tăng trưởng mà dân vẫn có sức mua?

2. Làm sao tài sản không tách rời lao động quá xa?

3. Làm sao tổ chức hiệu quả mà vẫn giữ chính danh?

Đó mới là giá trị thực dụng của Engels hôm nay.

---

Kết luận

Năm 1847, Engels nhìn thấy cỗ máy công nghiệp đang sinh ra một thế giới mới.

Năm 2026, Việt Nam không sống trong thế giới đó nữa — nhưng vẫn sống trong những quy luật do thế giới đó khai sinh:

chu kỳ tín dụng

bất bình đẳng tài sản

áp lực tiêu dùng

quyền lực tổ chức

khủng hoảng kỳ vọng

Hiểu điều đó, ta đọc Engels như nhà phân tích cấu trúc.

Không phải như thánh nhân.

Link: https://www.marxists.org/archive/marx/works/1847/11/prin-com.htm?fbclid=IwdGRjcARSbzJjbGNrBFJvCWV4dG4DYWVtAjExAHNydGMGYXBwX2lkDDM1MDY4NTUzMTcyOAABHkHg_cXdqxmVz6fGn46WfULZsNX_FHjW8VU2r4mhOMZWRS1pXg8XUHyr1JVp_aem_TYKP_YWPE4mxzfzwNVK4HQ

BIZbooks: 10 QUY TẮC NHÌN NGƯỜI TRÊN BÀN TIỆC CỦA NGƯỜI HOA

10 QUY TẮC NHÌN NGƯỜI TRÊN BÀN TIỆC CỦA NGƯỜI HOA

💡 Nhiều người khi làm ăn với người Trung Quốc, Đài Loan hay giới thương nhân gốc Hoa ở Chợ Lớn đều có chung một nhận định: Họ rất chi li trong đàm phán, nhưng lại cực kỳ hào phóng trong việc mời đi ăn. Dù chưa ký hợp đồng, họ vẫn sẵn sàng thết đãi linh đình.

Tại sao những con người tính toán từng cắc bạc lại chịu đốt tiền cho những bữa ăn?

Bởi vì với người Hoa, đó không gọi là ăn cơm. Họ gọi đó là Phạn Cục (饭局). Chữ Phạn là cơm, chữ Cục mang ý nghĩa là một ván cờ, một thế trận.

1️⃣ TUYỆT ĐỐI không gọi món đắt hơn chủ tiệc

Khi chủ tiệc đưa menu và nói: Anh/chị cứ thoải mái chọn món mình thích, đó là một cái bẫy tâm lý.

Người chủ trì thường sẽ gọi 1-2 món trước để làm nền. Khi đến lượt bạn, nếu bạn gọi món đắt tiền hơn món họ vừa gọi, bạn lập tức bị đánh trượt. Nó cho thấy bạn là kẻ tham lam, không biết quan sát và không hiểu thứ tự tôn ti trật tự.

2️⃣ Bài test 6 người, 5 con tôm

Nếu trên bàn có 6 người, nhưng đĩa thức ăn dọn ra chỉ có 5 phần (hoặc 5 con tôm to), đừng vội gắp! Đây là phép thử kinh điển về khả năng chia sẻ lợi nhuận. Kẻ phàm ăn gắp ngay miếng ngon sẽ bị đánh giá là kẻ sẵn sàng chèn ép đối tác khi chia chác lợi nhuận. Nhường miếng ăn trên bàn tiệc chính là nhường lợi ích trên thương trường.

3️⃣ Gọi món phải có vị

Nếu được giao quyền gọi món cho cả bàn, đừng chỉ gọi rặt thịt cá đắt tiền. Phải có mặn, có nhạt, có canh, có rau, có món hợp người già, món hợp phụ nữ. Cách bạn gọi món phản ánh tư duy quản trị hệ thống của bạn: Có chu toàn, có tầm nhìn bao quát hay không.

4️⃣ Chỗ ngồi định đoạt Giang sơn

Khi chủ tiệc chưa ngồi, tuyệt đối đừng chọn chỗ. Vị trí trung tâm, đối diện cửa ra vào luôn dành cho sếp lớn nhất hoặc nhân vật VIP. Ngồi sai chỗ không chỉ là vô duyên, mà là dấu hiệu của kẻ không biết mình là ai, không hiểu luật chơi của thế giới quyền lực.

5️⃣ Đũa của sếp là Phát súng lệnh

Dù có đói đến mấy, khi nhân vật VIP chưa nâng đũa và có lời khai tiệc, mọi người xung quanh bắt buộc phải ngồi im. Hành động cầm đèn chạy trước ô tô trên bàn ăn đồng nghĩa với việc bạn là kẻ vô kỷ luật, dễ làm hỏng việc lớn.

6️⃣ Nghệ thuật cụng ly của Kẻ dưới

Khi nâng ly chúc rượu người lớn tuổi, sếp hoặc đối tác lớn hơn, vành ly của bạn bắt buộc phải chạm thấp hơn vành ly của họ từ 1-2cm. Một tiểu tiết nhỏ nhưng thể hiện sự khiêm nhường và tôn trọng tuyệt đối.

7️⃣ Rượu vào nhưng Kín miệng

Người Hoa hay ép rượu trên bàn đàm phán để xem khi mất kiểm soát, bạn là ai. Kẻ uống dăm ba ly đã ba hoa chích chòe, lộ bí mật công ty sẽ ngay lập tức bị gạch tên. Tửu lượng có thể kém, nhưng miệng phải kín.

8️⃣ KHÔNG BAO GIỜ lén thanh toán tranh với chủ tiệc

Nhiều người Việt nghĩ lén ra quầy trả tiền trước là ga lăng, là ghi điểm. Nhưng với người Hoa, nếu họ là người mời, hành động đó là sự xúc phạm.

Ai chủ trì, người đó trả tiền. Bữa ăn của họ có mục đích, bạn cướp quyền thanh toán là bạn tước đi thể diện (mặt mũi) của họ, phá hỏng thế cờ của họ. Hôm nay không phân rõ chủ khách, ngày mai hợp tác sẽ loạn trật tự lớn bé.

9️⃣ Chuyện làm ăn chỉ nói lúc Trà dư tửu hậu

Đừng vội vã lôi hợp đồng ra khi thức ăn vừa dọn lên. Bữa tiệc là để kết giao, để thăm dò. Chuyện làm ăn sinh tử chỉ được chốt hạ khi mọi người đã no say, thư giãn và gỡ bỏ lớp mặt nạ phòng thủ.

1️⃣0️⃣ Biết lúc nào nên rời đi

Ăn xong không nên nán lại quá lâu trừ khi chủ tiệc giữ lại uống trà. Sự tinh tế nằm ở việc biết tiến biết lui đúng lúc.


🔑 BÀI HỌC CỐT LÕI:

Nhiều người trẻ cho rằng ăn bữa cơm thôi mà, sao phải mệt mỏi, làm màu thế?. Nhưng giới tinh hoa hiểu rằng: Thà mệt mỏi 2 tiếng trên bàn tiệc để nhìn thấu ruột gan một con người, còn hơn ký nhầm hợp đồng để rồi mất cả cơ nghiệp, mất hàng năm trời giải quyết hậu quả. Bàn ăn, thực chất chính là bàn mổ tâm lý tàn khốc nhất.

—-

👉 Những quy tắc “Thâm như Tàu” này bạn chỉ có thể học được qua cuốn sách “Đọc suy nghĩ, thấu tâm can”. Nó dạy bạn cách nhìn thấu dã tâm của kẻ đối diện; Nhìn cử chỉ để đoán loại người, đọc vị luôn tâm lý và các hành động của họ. Dù ánh mắt không lộ vẻ đánh giá nhưng trong lòng bạn sẽ nhìn thấu tất cả.

Lê Việt Đức: Báo mạng Trung Quốc: "Việt Nam xây đường sắt, vẫn phải tìm đến Trung Quốc

Một số chuyên gia Trung Quốc cho rằng Việt Nam chỉ cần xây dựng tuyến đường sắt trung bình với tốc độ 100 km/giờ; không cần thiết phải xây dựng đường sắt cao tốc.

Làm đường sắt cao tốc chi phí quá cao, thậm chí trăm năm cũng không thu hồi được vốn đầu tư! Đường sắt cao tốc không chỉ có chi phí xây dựng cao mà chi phí vận hành và bảo trì cũng rất đáng kể. Việt Nam không có nhiều hành khách và hàng hóa cần vận chuyển, nên việc vận hành đường sắt cao tốc có thể dẫn đến lãng phí và thua lỗ nghiêm trọng.

Theo họ, Việt Nam có đường bờ biển dài nên vận tải biển ven bờ rất có tiềm năng. Xây dựng thêm nhiều cảng vừa và nhỏ và tập trung vào vận tải biển sẽ rất hữu ích cho việc vận chuyển hàng hóa số lượng lớn của Việt Nam.

Tôi thì nghĩ ngược lại, tôi ủng hộ làm đường sắt cao tốc, nhưng tốc độ chỉ nên khoảng 200-250 km/h, vừa vận chuyển hàng hóa, vừa vận chuyển hành khách.

---------------------------

Báo mạng Trung Quốc: "Việt Nam xây đường sắt, vẫn phải tìm đến Trung Quốc

Tháng 4 năm 2026, ngay cách đây vài hôm, một tuyên bố chung Trung-Việt đã được công bố tại Bắc Kinh. Cục Tình báo Tinh Hải (星海情报局 - Xinghai Intelligence Bureau), một kênh truyền thông tự doanh (We-media) rất nổi tiếng trên các nền tảng mạng xã hội Trung Quốc như WeChat, Zhihu, Bilibili và Toutiao, đã có bài viết dưới đây đăng trên trang của tổ chức này. Dĩ nhiên cách nhìn theo quan điểm của người Trung Quốc.

Lời lẽ trong thông cáo vẫn bình thực như mọi khi, nhưng có một đoạn đáng để đọc kỹ: "Hai bên đánh giá cao dự án viện trợ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án xây dựng tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã hoàn thành trước thời hạn, hoan nghênh hai bên ký kết Thỏa thuận thực hiện dự án hỗ trợ lập quy hoạch các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Đồng Đăng - Hà Nội, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, tiếp tục thúc đẩy kết nối đường sắt khổ tiêu chuẩn qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc."

Hãy chú ý đến điểm nhấn ở đây, hai chữ "viện trợ" và "hỗ trợ" chứa đựng lượng thông tin cực lớn.

Năm 1965, Tổng thống Tanzania Nyerere thăm Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc viện trợ xây dựng một tuyến đường sắt nối Tanzania với Zambia. Chủ tịch Mao đã nói với ông ấy: "Các đồng chí có khó khăn, chúng tôi cũng có khó khăn, nhưng khó khăn của các đồng chí khác với của chúng tôi, chúng tôi thà không xây đường sắt cho mình, cũng phải giúp các đồng chí xây dựng tuyến đường sắt này."

Ngày nay, chúng ta rất khó cảm nhận được màu sắc lý tưởng của thời đại đó, nhưng kể từ đó, Trung Quốc đã lần lượt cử hơn 50.000 lượt kỹ sư và nhân viên kỹ thuật đến châu Phi, trải qua 5 năm 8 tháng, cuối cùng đã xây dựng xong tuyến đường sắt dài 1.860,5 km này, tuyến đường mà phương Tây từng tuyên bố "không thể thành công" - đường sắt Tanzam.

Trong văn bản ngoại giao, "viện trợ xây dựng" chỉ một mô hình xây dựng do bên có ưu thế kỹ thuật chủ đạo, toàn diện chuyển giao năng lực cho bên yếu thế về kỹ thuật.

Từ khảo sát, thiết kế, thi công đến bàn giao, toàn bộ quá trình do phía Trung Quốc chủ đạo, bên được viện trợ không cần có bất kỳ nền tảng công nghiệp đường sắt nào, chỉ cần cung cấp đất và phối hợp thi công, mô hình viện trợ "chìa khóa trao tay" này, từ thời điểm đó đã hình thành.

Sáu mươi năm trôi qua, năng lực viện trợ xây dựng của Trung Quốc đã khác xa xưa. Ngày nay, Trung Quốc có thể thực hiện xuất khẩu trọn gói toàn bộ chuỗi công nghiệp từ tiêu chuẩn thiết kế, đầu tư tài chính, trang thiết bị vật liệu, thi công, giám sát đến vận hành quản lý; bên được viện trợ từ đường ray đến đầu máy, từ hệ thống tín hiệu đến điều độ vận hành, có thể tiếp nhận trọn bộ, không cần tự chuẩn bị bất kỳ năng lực công nghiệp nào.

Và bắt đầu từ lúc này, Trung Quốc sẽ tiến hành loại hình "viện trợ xây dựng" như vậy đối với Việt Nam, "Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng", "Đồng Đăng - Hà Nội", "Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng", cùng lúc triển khai ba tuyến đường, ký kết đồng bộ, nghiên cứu khả thi còn hoàn thành trước thời hạn; vấn đề đường sắt làm phiền Việt Nam gần hai mươi năm, cuối cùng đã đến thời khắc giải quyết.

Việt Nam trong vấn đề đường sắt đã loanh quanh nhiều năm, cuối cùng vẫn quay trở lại trước lựa chọn "Trung Quốc".

01

Những năm tháng đó, những con đường vòng mà người Việt Nam đã đi

Khát vọng hiện đại hóa đường sắt của Việt Nam đã có từ lâu.

Mạng lưới đường sắt hiện có của Việt Nam, khung xương cơ bản là di sản từ thời thực dân Pháp để lại; vài chục năm kể từ khi Việt Nam độc lập, số đường sắt thực sự mới xây chỉ vỏn vẹn vài trăm km. Và trong toàn bộ mạng lưới đường sắt Việt Nam, tuyến quan trọng nhất chính là "Đường sắt Thống Nhất" chạy suốt Bắc-Nam — dài 1.726 km, nối Hà Nội với TP.HCM, đến nay vẫn vận hành bằng đường ray mét (khổ 1m), khoảng cách ray hẹp hơn 40 cm so với khổ tiêu chuẩn quốc tế, không thể hỗ trợ tàu chạy tốc độ cao.

Năm 2024, tổng GDP của Việt Nam đạt khoảng 476,3 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 USD, tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng đầu Đông Nam Á. Để tham chiếu, năm 2010, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc cũng khoảng 4.550 USD, mà khi đó, Trung Quốc đã hoàn thành "năm lần tăng tốc lớn" cho toàn bộ mạng lưới đường sắt, mạng lưới đường sắt cao tốc "bốn dọc bốn ngang" đang được mở rộng với tốc độ cao trong tay vô số kỹ sư xây dựng.

Nói cách khác, mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Việt Nam, về cơ bản tương đương với Trung Quốc khi bắt đầu xây dựng quy mô lớn đường sắt cao tốc cách đây 15 năm. Và một nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển tốc độ cao như vậy, lại vẫn đang phụ thuộc vào đường ray mét do thực dân để lại từ một trăm năm trước.

Điểm check-in du lịch kinh điển của Việt Nam — Phố đường tàu Hà Nội

Việt Nam đương nhiên nhận thức rõ vấn đề này, vì vậy năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã đề xuất một phương án xây dựng đường sắt cao tốc đầy tham vọng, kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc hiện đại nối Hà Nội với TP.HCM, chi phí ước tính lên tới 56 tỷ USD. Phương án được trình Quốc hội thảo luận, kết quả bị bác bỏ với đa số phiếu.

Lý do rất thực tế: Tiền lấy từ đâu? Kỹ thuật lấy từ đâu?

Sau khi bị bác bỏ, Việt Nam không từ bỏ, mà đổi hướng, tìm kiếm đối tác hợp tác từ bên ngoài.

Nhật Bản là lựa chọn mà Việt Nam đã tiếp xúc nghiêm túc nhất. Công nghệ Shinkansen của Nhật Bản đã chín muồi, quan hệ Nhật-Việt ổn định lâu dài, phía Nhật Bản cũng thực sự có nguyện vọng lấy dự án đường sắt làm đòn bẩy mở rộng ảnh hưởng tại Việt Nam. Hai bên đàm phán kéo dài nhiều năm, thực hiện lượng lớn nghiên cứu quy hoạch. Nhưng phương án Nhật Bản có một vấn đề luôn không thể vượt qua: đắt.

Tiêu chuẩn kỹ thuật đường sắt Nhật Bản cao, chi phí xây dựng lớn, điều kiện tài chính phức tạp; mỗi lần phía Việt Nam nhận báo giá, đều phải cân nhắc kỹ xem có thể tiêu hóa được hay không. Đàm phán qua lại, cuối cùng vẫn không thể tiến đến bước ký kết.

Các doanh nghiệp đường sắt Hàn Quốc, châu Âu cũng đã từng tiếp cận thị trường Việt Nam ở các giai đoạn khác nhau, mang theo phương án và điều kiện riêng, tiếp xúc, đánh giá, đề xuất, cũng không tạo ra đột phá thực chất.

Mười mấy năm trôi qua, quy hoạch hiện đại hóa đường sắt của Việt Nam đã làm hết phiên bản này đến phiên bản khác, nhưng gần như không có dự án nào khởi công, cho đến gần đây khi dự án đường sắt cao tốc hợp tác với Siemens của Việt Nam mới khởi công.

Điều này cũng không thể trách người Việt Nam, bởi vì công trình đường sắt cao tốc có ngưỡng cửa đặc thù; nó không phải là vấn đề cứ ném tiền vào là giải quyết được. Tiêu chuẩn kỹ thuật, cấu trúc tài chính, năng lực thi công, hệ thống vận hành, mỗi khâu đều là ngưỡng cửa. Những đối tác mà Việt Nam đã tìm kiếm, hoặc không thống nhất được về chi phí, hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật khó triển khai, hoặc tiến độ cực chậm, dự án bị tiêu hao trên bàn đàm phán.

Và trong những năm Việt Nam vẫn còn đàm phán khắp nơi, người hàng xóm Lào của họ đã thông xe; tháng 12 năm 2021, đường sắt Trung-Lào chính thức khai thông, tuyến đường sắt này xuyên qua vùng núi hiểm trở hơn cả miền Bắc Việt Nam, nhưng toàn bộ quá trình xây dựng chỉ mất 5 năm. Một quốc gia nội địa nhỏ bé có tổng GDP chưa bằng 1/10 Việt Nam, đã hoàn thành việc mà Việt Nam đàm phán hơn chục năm vẫn không thể khởi động.

Sự so sánh này, Việt Nam không thể không cảm nhận được.

02

Vấn đề cốt lõi của đường sắt Việt Nam nằm ở đâu?

Theo quan điểm của Cục Tình báo Tinh Hải, vấn đề đường sắt Việt Nam nằm ở hai điểm:

Một là đặt sai trọng tâm, hai là năng lực không đủ.

Việt Nam nhiều năm nay không mệt mỏi theo đuổi, chẳng qua chỉ là một tuyến đường sắt cao tốc. Nhưng vấn đề là, Việt Nam có thực sự cần đường sắt cao tốc hay không? Một tuyến đường sắt cao tốc hiện đại, thực sự có thể giải quyết được những vấn đề tồn đọng lâu năm của giao thông đường sắt Việt Nam hay không?

Câu trả lời rõ ràng là không.

Vậy, tại sao Việt Nam nhiều năm nay vẫn kiên trì xây đường sắt cao tốc?

Bởi vì "đường sắt cao tốc" gắn liền với hình ảnh quốc gia mà Việt Nam thấy cần.

Vì vậy, từ góc độ thực tế, đường sắt cao tốc đối với Việt Nam không có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng. Việc cấp bách của Việt Nam thực ra là nâng cấp những tuyến đường sắt tốc độ thường thực sự đảm nhận vai trò "mạch máu quốc gia", đây mới là thứ liên quan mật thiết đến phát triển kinh tế quốc gia.

Ga Hà Nội, cảm quan tổng thể tương tự như ga nhỏ của thành phố cấp ba trong nước

Và đáng tiếc là, ngay cả mục tiêu "nâng cấp đường sắt tốc độ thường" này, Việt Nam thực ra cũng bất lực.

Phía sau một tuyến đường sắt hiện đại, là sự kết hợp phức tạp của nhiều lĩnh vực công nghiệp nặng như thép, cơ khí, điện tử, viễn thông, chế tạo thiết bị. Bất kỳ khâu nào đứt gãy, đường sắt sẽ không xây được, hoặc xây xong cũng không vận hành tốt.

Lấy một ví dụ, ray đường sắt không phải là thép thông thường. Ray đường sắt có yêu cầu cực kỳ khắt khe về tỷ lệ thành phần kim loại, công nghệ cán, độ cứng bề mặt; sai một chút sẽ dẫn đến mệt mỏi và gãy sớm dưới áp lực nghiền ép tần suất cao. Mà dự án thép lớn nhất hiện nay của Việt Nam là nhà máy thép Hà Tĩnh do Tập đoàn Formosa đầu tư, định hướng sản xuất tấm thép xuất khẩu, không có năng lực sản xuất ray đạt tiêu chuẩn quốc tế phổ biến.

Bảng thông số về yêu cầu tiêu chuẩn quốc gia đối với ray đường sắt

Trên thực tế, dây chuyền sản xuất ray đầu tiên của Việt Nam năm nay mới vừa khởi công, đến năm 2027 mới có thể bắt đầu sản xuất.

Ray còn như vậy, những thứ công nghệ cao hơn như đầu máy, tín hiệu, đối với Việt Nam mà nói lại càng vượt quá khả năng.

Đầu máy diesel hiện đang sử dụng trên đường sắt Việt Nam, phần lớn là phiên bản cải tạo từ các mẫu máy thời Liên Xô để lại, cùng với những đầu máy Trung Quốc và Romania được nhập khẩu dần về sau. Cái gọi là "cải tạo", cũng chỉ là sửa đổi thích ứng trên cơ sở tổ hợp nhập khẩu, linh kiện cốt lõi hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Việt Nam chưa bao giờ có năng lực thiết kế và chế tạo đầu máy hoàn chỉnh, không phải không có tiền mua thiết bị, mà là toàn bộ hệ thống công nghiệp căn bản không tồn tại tích lũy kỹ thuật hỗ trợ nghiên cứu phát triển đầu máy.

Tiếp theo là hệ thống tín hiệu và viễn thông. Đây là phần dễ bị bỏ qua nhất nhưng cũng không được phép sai sót nhất trong đường sắt hiện đại. Việc kiểm soát khoảng cách, chỉ huy điều độ, phanh khẩn cấp của tàu khi vận hành tốc độ cao, tất cả đều phụ thuộc vào hệ thống tín hiệu chính xác. Hệ thống này liên quan đến chip cấp công nghiệp, cảm biến, thuật toán phần mềm và lượng lớn kinh nghiệm hiệu chỉnh hiện trường. Việt Nam hiện nay trong lĩnh vực bán dẫn chỉ đóng vai trò là cơ sở đóng gói và kiểm tra, khoảng cách để tự thiết kế, chế tạo chip cấp điều khiển công nghiệp, tính bằng thế hệ.

Đừng quên, đường sắt cũng là khách hàng lớn của viễn thông 5G.

Cuối cùng là máy móc công trình lớn. Máy đào hầm (TBM) dùng để đào hầm, máy dựng cầu dùng để dựng cầu, máy trải ray dùng để trải ray chính xác, những thiết bị này Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu, tự mình không chế tạo được một chiếc nào.

Gộp những lớp này lại với nhau, kết luận rất rõ ràng: Việt Nam có thể lắp ráp điện thoại, có thể sản xuất may mặc, có thể chế tạo ô tô và xe máy, nhưng chuyện đường sắt, hệ thống công nghiệp của họ từ đầu đến cuối đều không chống đỡ nổi. Không phải ngắn ở một khâu nào đó, mà là thiếu hụt toàn bộ chuỗi.

Đây chính là hoàn cảnh thực tế của Việt Nam khi đối mặt với vấn đề đường sắt: thiếu nền tảng công nghiệp cần thiết, nên không thể tự xây dựng độc lập.

Tuy nhiên, trời không tuyệt đường, cho dù bạn không có nền tảng công nghiệp, thực ra vẫn có thể có được đường sắt, chỉ cần kêu gọi viện trợ quốc tế là được.

Chỉ có điều, con đường này, cần bạn phối hợp ở mức độ cao nhất.

Tháng 12 năm 2021, đường sắt Trung-Lào chính thức thông xe, tuyến đường sắt này dài 1.035 km, từ Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc chạy về phía nam, xuyên qua vùng núi hiểm trở miền Bắc Lào, thẳng đến thủ đô Viêng Chăn. Lào không có bất kỳ nền tảng công nghiệp đường sắt nào, kinh tế còn yếu hơn Việt Nam rất nhiều, nhưng điều này không ngăn cản một tuyến đường sắt hiện đại tiêu chuẩn cao vận hành trơn tru trên lãnh thổ của họ. Bởi vì tuyến đường sắt này từ đầu đến cuối, sử dụng tiêu chuẩn Trung Quốc, thiết bị Trung Quốc, đội ngũ thi công Trung Quốc, hệ thống vận hành Trung Quốc.

Việc bên được viện trợ cần làm, chỉ là phối hợp.

Vậy, tại sao cùng một sự việc lại mãi không xảy ra ở Việt Nam?

Câu trả lời không nằm ở cấp độ kỹ thuật.

Địa hình núi miền Bắc Việt Nam, so với Lào không khó xử lý hơn. Khoảng cách thẳng từ Côn Minh đến Hà Nội, còn gần hơn từ Côn Minh đến Viêng Chăn. Từ góc độ công trình thuần túy, độ khó xây dựng đoạn đường sắt tại Việt Nam, đối với Trung Quốc mà nói không tạo ra bất kỳ thách thức mới nào.

Vấn đề nằm ở chỗ, Lào đủ phối hợp, còn Việt Nam đã mất thời gian dài hơn, mới nghĩ thông chuyện này.

Cấu trúc chính trị của Lào đơn giản, chuỗi ra quyết định ngắn, lực cản thu hồi đất nhỏ, không có gánh nặng lịch sử đối với các dự án do Trung Quốc chủ đạo. Quá trình thúc đẩy đường sắt Trung-Lào, gần như không gặp phải lực cản thực chất nào từ trong nước Lào. 

Tình hình của Việt Nam thì phức tạp hơn nhiều. Trong nước có độ nhạy cảm cao hơn đối với cấu trúc tài chính, điều khoản chủ quyền, tỷ lệ lao động của các dự án hạ tầng lớn, chu kỳ ra quyết định cũng dài hơn.

Nhưng có một số việc, càng kéo dài, cái giá phải trả càng lớn.

Trong những năm Việt Nam do dự, các đoạn khác của mạng lưới đường sắt xuyên Á đã lần lượt được thúc đẩy. Nếu Việt Nam tiếp tục vắng mặt, hàng hóa hoàn toàn có thể đi đường vòng, từ Trung Quốc qua Lào, Thái Lan, Malaysia chạy về phía nam, Việt Nam từ kênh khu vực biến thành vùng rìa khu vực, không phải là chuyện không thể xảy ra.

May mắn thay, phép tính này, Việt Nam cuối cùng cũng đã tính rõ.

03

Hòa nhập hay vắng mặt, đây là một câu hỏi lựa chọn thuộc về Việt Nam

Đường sắt xuyên Á, là một ý tưởng đã ấp ủ vài chục năm.

Logic cơ bản của nó không phức tạp: dùng một mạng lưới đường sắt xuyên suốt lục địa châu Á, kết nối Trung Quốc, Đông Nam Á, Nam Á thậm chí Trung Á và châu Âu, giúp dòng chảy hàng hóa và con người thoát khỏi sự phụ thuộc đơn nhất vào vận tải biển. Trong quy hoạch của mạng lưới này, đoạn Đông Nam Á có ba tuyến chính: tuyến Tây qua Myanmar, Thái Lan về phía nam; tuyến Trung qua Lào, Thái Lan về phía nam; tuyến Đông thì qua Việt Nam dọc theo bờ biển về phía nam, cuối cùng ba tuyến hội tụ, kết nối Malaysia và Singapore.

Ba tuyến đường, giá trị chiến lược của tuyến Đông đặc biệt nhất.

Tuyến Tây và tuyến Trung xuyên qua khu vực nội địa, hàng hóa muốn ra biển, cuối cùng vẫn phải chuyển qua cảng. Tuyến Đông thì khác, nó kéo dài dọc theo bờ biển Việt Nam, kết nối Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM, điểm cuối thẳng đến Vịnh Bắc Bộ và dọc bờ biển Biển Đông. Điều này có nghĩa bản thân tuyến Đông đã là một kênh vận tải liên hợp đường biển-đường bộ, hàng hóa có thể chuyển sang vận tải biển tại bất kỳ cảng nào dọc tuyến, hiệu suất cao hơn nhiều so với các tuyến nội địa thuần túy. 

Đặc biệt đối với khu vực Tây Nam Trung Quốc, một khi tuyến Đông được thông suốt, khoảng cách xuất biển của hàng hóa Vân Nam và Quảng Tây sẽ được rút ngắn đáng kể, từ vùng sâu nội địa biến thành trung tâm liên hợp đường bộ-đường biển.

Nhưng tuyến Đông có một khoảng trống then chốt, chính là Việt Nam.

Khung chủ thể của tuyến Tây và tuyến Trung đang được thúc đẩy. Sau khi đường sắt Trung-Lào thông xe, đoạn cốt lõi của tuyến Trung đã được thông suốt, hàng hóa có thể từ Côn Minh chạy một mạch đến Viêng Chăn, sau đó chuyển bằng đường bộ đến Thái Lan và các điểm xa hơn về phía nam. Đoạn Myanmar của tuyến Tây tuy tiến độ chậm do bất ổn chính trị, nhưng hướng khung là rõ ràng. Chỉ có tuyến Đông, mắc kẹt ở Việt Nam, mãi không có tiến triển thực chất.

Nếu Việt Nam tiếp tục vắng mặt, sẽ xảy ra chuyện gì?

Hàng hóa sẽ không chờ đợi. Một khi kênh tuyến Trung của đường sắt Trung-Lào-Thái Lan chín muồi, lượng lớn nhu cầu vận tải vốn có thể đi tuyến Đông Việt Nam, sẽ tự nhiên chuyển sang tuyến Trung. Các thành phố cảng của Việt Nam như Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM, vị thế trong mạng lưới logistics khu vực sẽ dần bị biên tế hóa — không phải vì điều kiện của chúng không tốt, mà là do không có đường sắt kết nối, chúng không cạnh tranh được về chi phí và thời gian so với những điểm đã nối mạng.

Một cảng biển nếu không có đường sắt kết nối với vùng sâu, phạm vi bức xạ của nó chỉ giới hạn ở những nơi xe tải đường bộ có thể đến. Một cảng biển nếu được kết nối vào mạng lưới đường sắt, vùng sâu của nó có thể kéo dài đến hơn 1.000 km. Khoảng cách này, trong cạnh tranh khu vực là mang tính quyết định.

Đối với Trung Quốc, việc Việt Nam vắng mặt cũng là một tổn thất, và tổn thất không chỉ đơn thuần là một kênh vận tải hàng hóa.

Hãy xem một con số. Năm 2024, ASEAN liên tiếp năm năm trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc, Trung Quốc liên tiếp 16 năm giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, kim ngạch thương mại song phương tiếp cận 1.000 tỷ USD. Trong các nước ASEAN, Việt Nam hơn nữa là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, kim ngạch thương mại song phương đã vượt 200 tỷ USD. Trung Quốc xuất khẩu sang ASEAN là máy móc thiết bị, linh kiện điện tử, đồ gia dụng, ô tô, hàng tiêu dùng; ASEAN xuất khẩu sang Trung Quốc là nông sản, khoáng sản, năng lượng và một số sản phẩm trung gian.

Phía sau cấu trúc này có một logic giản dị: các nước ASEAN càng giàu, sức mua càng mạnh, nhu cầu đối với sản phẩm Trung Quốc càng lớn. GDP bình quân đầu người của Việt Nam hôm nay đã đạt 4.700 USD, đang trong giai đoạn giải phóng nhanh chóng khát vọng tiêu dùng. Sang giai đoạn này, người dân bắt đầu mua đồ điện, mua xe máy, mua hàng tiêu dùng thương hiệu, bắt đầu trả phí cao hơn cho chất lượng. Ngành sản xuất của Trung Quốc, vừa khéo giỏi nhất trong việc phục vụ thị trường ở tầng này.

Từ góc độ này mà nhìn, giúp Việt Nam xây đường sắt, về bản chất là giúp một khách hàng chất lượng cao trưởng thành.

Đường sắt giảm chi phí logistics, chi phí logistics giảm thúc đẩy nâng cao hiệu suất thương mại, hiệu suất thương mại nâng cao đẩy nhanh nâng cấp công nghiệp Việt Nam, nâng cấp công nghiệp mang lại tăng trưởng thu nhập cư dân, tăng trưởng thu nhập giải phóng nhu cầu tiêu dùng lớn hơn; mỗi khâu trong chuỗi này, cuối cùng đều sẽ bồi đắp ngược lại cho quy mô thương mại Trung-Việt. Huống hồ thị trường tiêu dùng của Việt Nam đã vượt 100 triệu dân, quy mô không thể xem thường.

Còn có một lớp lợi ích trực tiếp hơn. Đường sắt xây bằng tiêu chuẩn Trung Quốc, việc mua sắm phụ tùng, nâng cấp thiết bị, bảo trì kỹ thuật về sau, đều vận hành trong hệ thống cung ứng của Trung Quốc. Đây là một mối quan hệ thương mại bền vững kéo dài hàng chục năm, ảnh hưởng sâu xa hơn nhiều so với việc bán một lô hàng, ký một hợp đồng.

Vì vậy, Trung Quốc thúc đẩy đường sắt Việt Nam, phép tính không được tính riêng lẻ. Nó đồng thời là xuất khẩu hạ tầng, xuất khẩu tiêu chuẩn, nuôi dưỡng thị trường và xây dựng kênh thương mại, mấy phép tính chồng lên nhau, mới là giá trị thực sự của việc này.

Cho nên chuyện này, đối với cả hai bên mà nói đều là bài toán số học, bài toán tính tiền, không phải bài toán tình cảm.

Việt Nam gia nhập, có được là tấm vé kết nối vào mạng lưới đường sắt khu vực, hiệu suất lưu chuyển hàng hóa nâng cao, sức hấp dẫn tiếp nhận chuyển dịch công nghiệp tăng cường, vùng sâu kinh tế của các thành phố dọc tuyến mở rộng; mất đi, là hình thành mức độ phụ thuộc dài hạn nhất định vào hệ thống hạ tầng do Trung Quốc chủ đạo.

Trung Quốc thúc đẩy, cái được là tính toàn vẹn của mạng lưới tuyến Đông, nâng cao hiệu suất kênh xuất biển khu vực Tây Nam, và thêm một mẫu hình tiêu chuẩn đường sắt Trung Quốc được triển khai; tuy nhiên Trung Quốc phải bỏ ra, là vốn, kỹ thuật và đầu tư xây dựng trong chu kỳ khá dài.

Phép tính của hai bên, thực ra đều không khó tính.

Khó là ở chỗ, Việt Nam đã mất hơn chục năm mới thực sự nghĩ thông: trong mạng lưới đường sắt khu vực đang dần hình thành này, cái giá phải trả để gia nhập sẽ càng ngày càng cao theo thời gian, mà cái giá của việc vắng mặt cũng tương tự như vậy.

Thay vì đợi đến khi mạng lưới chín muồi, bản thân hoàn toàn bị biên tế hóa rồi mới đàm phán, chi bằng ngồi vào bàn đàm phán khi quy tắc còn chưa hoàn toàn định hình.