Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

Joseph Schumpeter - Vị tiên tri của sự sụp đổ

Joseph Schumpeter - Vị tiên tri của sự sụp đổ

Copy từ Facebook Lê Công Thành

“Chủ nghĩa tư bản, về bản chất, là một phương thức thay đổi - và không bao giờ có thể đứng yên.”

Lịch sử tư tưởng kinh tế có những người được yêu mến vì cho ta niềm tin rằng mọi thứ sẽ ổn. Adam Smith hứa hẹn bàn tay vô hình sẽ dẫn dắt. Keynes bảo đảm rằng nhà nước sẽ can thiệp đúng lúc. Những lời ru ấy dễ nghe, dễ tin, và dễ khiến ta ngủ quên.

Joseph Schumpeter không ru ai ngủ. Ông đánh thức.

Ông nói thẳng vào mặt thời đại mình một điều mà không ai muốn nghe: sự ổn định là cái chết chậm, chỉ có sự phá hủy mới mang lại sự sống. Vì câu nói đó, ông không bao giờ được yêu thích bằng những đồng nghiệp biết nói lời êm tai. Nhưng cũng vì câu nói đó, tám mươi năm sau, Thung lũng Silicon vẫn coi ông như vị thánh bảo trợ của mình.

Trước Schumpeter, kinh tế học bị ám ảnh bởi ý niệm cân bằng. Nền kinh tế được hình dung như một cỗ máy cần giữ cho đều đặn - mỗi bánh răng ăn khớp, mỗi chu kỳ lặp lại. Bất kỳ xáo trộn nào cũng là lỗi cần sửa.

Schumpeter nhìn vào cỗ máy ấy và cười.

Trong Capitalism, Socialism and Democracy - cuốn sách ra đời giữa lòng Thế chiến thứ hai, năm 1942 - ông đưa ra một khái niệm làm rung chuyển mọi nền tảng: sáng tạo hủy diệt. Nền kinh tế không phải cỗ máy. Nó là khu rừng. Những cổ thụ già cỗi phải đổ xuống để ánh sáng lọt qua tán lá, để mầm non có đất mà vươn. Nến tắt thì bóng đèn bừng sáng. Xe ngựa chết thì ô tô chạy. Thư tay mất thì email đến.

Đó không phải lỗi của hệ thống. Đó là cách hệ thống thở.

Sự tiến hóa không bao giờ lịch sự. Nó xông vào, lật đổ, thiêu rụi - rồi trên đống tro tàn ấy, gieo hạt giống của một kỷ nguyên mới. Schumpeter không thi vị hóa quá trình này. Ông chỉ đơn giản từ chối nhìn đi chỗ khác.

Nếu Marx đặt giai cấp công nhân làm nhân vật chính của lịch sử, Keynes trao vai đó cho nhà nước, thì Schumpeter đưa lên sân khấu một gương mặt khác hẳn: doanh nhân.

Nhưng đừng nhầm. Doanh nhân của Schumpeter không phải người mở tiệm kiếm lời. Đó là kẻ phá bĩnh - der Störer - người mang trong mình thứ ông gọi là Unternehmergeist, tinh thần dấn thân vào cái chưa biết. Họ không tìm kiếm trật tự. Họ phá vỡ trật tự. Họ giới thiệu sản phẩm chưa ai nghĩ tới, phương pháp chưa ai thử, thị trường chưa ai hình dung nổi.

Họ là cái mà nền kinh tế cần để không thối rữa trong sự trì trệ.

Schumpeter nhìn thấy rõ hơn bất kỳ ai một nghịch lý sống còn: hiệu quả và đổi mới không phải lúc nào cũng đi cùng đường. Một tổ chức có thể vận hành trơn tru đến hoàn hảo - tiết kiệm từng xu, tối ưu từng quy trình - rồi vẫn chết bất đắc kỳ tử, chỉ vì không có lấy một con người dám đập vỡ cái cũ để dựng cái mới. Hiệu quả giữ cho cỗ máy chạy. Đổi mới quyết định cỗ máy ấy có còn đáng chạy hay không.

Vậy hãy tự hỏi: những kẻ có ý tưởng điên rồ trong tổ chức của bạn - họ đang được thăng chức hay đang bị sa thải?

Schumpeter gọi sự thay đổi bằng một hình ảnh không thể quên: cơn gió lốc vĩnh cửu của sự hủy diệt sáng tạo. Chữ “vĩnh cửu” ở đây không phải tu từ. Nó là bản chất.

Cơn gió ấy không bao giờ dừng. Không có bến đỗ an toàn. Không có đỉnh cao nào đủ vững để đứng mãi. General Electric từng là biểu tượng của sức mạnh công nghiệp Mỹ - rồi trở thành bài học về sự kiêu ngạo. Yahoo từng định nghĩa Internet - rồi bị chính Internet nuốt chửng. Kodak phát minh ra máy ảnh số rồi chết vì chính phát minh của mình. Nokia thống trị điện thoại di động rồi bị iPhone quét sạch khỏi bản đồ.

Công nghệ xói mòn mọi bức tường thành. Đế chế nào cũng có ngày sụp đổ - không phải vì kẻ thù quá mạnh, mà vì chính sự thành công đã ru nó quên cách thay đổi.

Thế giới quan này tàn nhẫn nhưng cũng giải phóng. Nếu ngay cả những đế chế hùng mạnh nhất cũng chỉ là phù du, thì việc một dự án nhỏ thất bại có đáng để ta gục ngã? Schumpeter không dạy ta cách tránh thất bại. Ông dạy ta nhìn thất bại đúng bản chất của nó: một mắt xích trong chuỗi thử nghiệm bất tận, nơi cái cũ chết đi là điều kiện để cái mới ra đời.

Nhưng Schumpeter không phải kẻ ngây thơ say sưa với tiến bộ.

Ông biết rõ cái giá. Khi ô tô ra đời, hàng triệu người đánh xe ngựa mất kế sinh nhai. Khi dây chuyền sản xuất thay thế bàn tay thợ thủ công, cả một thế hệ nghệ nhân trở thành di vật. Sự tiến bộ của nhân loại, nếu nhìn từ phía dưới, được xây trên xác của những kỹ năng lỗi thời và những phận đời không kịp chuyển mình.

Ông còn đưa ra một dự đoán sắc lạnh đến rợn người: chủ nghĩa tư bản có thể sụp đổ - không phải vì nó thất bại, mà vì nó thành công quá mức. Sự thịnh vượng nó tạo ra sẽ nuôi dưỡng một tầng lớp trí thức có đủ thời gian rảnh, đủ giáo dục, và đủ bất mãn để quay lại cắn xé chính hệ thống đã cho họ cơm ăn áo mặc. Nhìn vào những cuộc tranh luận của thời đại hôm nay - về bất bình đẳng, về công nghệ, về ý nghĩa của lao động - lời tiên tri tám mươi năm trước ấy đang ứng nghiệm từng ngày, rõ đến mức khó mà ngoảnh mặt.

Và bây giờ, khi trí tuệ nhân tạo không chỉ thay thế tay chân mà bắt đầu thay thế cả trí óc, câu hỏi của Schumpeter vang lên gấp bội: làm sao để sáng tạo mà không nghiền nát? Làm sao để cơn gió lốc thổi qua mà không cuốn đi quá nhiều phận người?

Không ai có câu trả lời trọn vẹn. Có lẽ cũng không nên có. Bởi ngay cả Schumpeter cũng hiểu rằng sự hủy diệt sáng tạo không phải phương trình cần lời giải - nó là trạng thái tồn tại mà nhân loại buộc phải học cách sống chung.

Schumpeter qua đời năm 1950, trước khi chiếc máy tính đầu tiên trở nên đủ nhỏ để đặt trên bàn làm việc. Ông không sống để thấy Internet, không biết đến smartphone, càng không hình dung nổi một thế giới nơi máy móc viết văn, vẽ tranh, và suy nghĩ thay con người.

Nhưng ông đã nhìn thấu bản chất của tất cả những điều ấy từ trước khi chúng xảy ra. Bởi ông không dự đoán công nghệ. Ông dự đoán con người.

Và con người - dù ở thế kỷ nào - vẫn luôn đứng giữa hai nỗi sợ: sợ thay đổi, và sợ bị bỏ lại khi không chịu thay đổi. Nền móng cũ sụp đổ dưới chân. Tiếng ồn ấy có thể là âm thanh của sự kết thúc. Nhưng cũng có thể - nếu ta đủ tỉnh táo để lắng nghe - là tiếng bê tông đang đổ cho một nền móng mới.

Còn chọn nghe thấy gì, là việc của mỗi người.

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

FB Rùa Tiên Sinh (Bùi Anh Chiến): Ngạo nghễ nó cũng có chừng mực thôi, vui đừng có vui quá

Thôi thì tự sướng cũng vừa phải thôi mấy cha, hết chữ thì thôi đừng có viết, một báo chính thống lớn như VnExpress mà giật cái tít thật đúng là không biết xấu hổ, ngạo nghễ nó cũng có chừng mực thôi, vui đừng có vui quá.

Cứ mang GDP ra lòe thiên hạ mà méo có biết Thái Lan nó có GDP rất thực chất, Việt Nam thì ảo lòi ra mà vẫn cứ ru ngủ đồng bào cho được, giặc ngu luôn nguy hiểm hơn giặc thật.

GDP danh nghĩa Thái Lan nhiều năm quanh mốc 500–520 tỷ USD, có năm vượt 540 tỷ. Việt Nam đang ở khoảng 430–470 tỷ USD. Khoảng cách không còn quá xa, nhưng vẫn là khoảng cách. GDP bình quân đầu người Thái Lan trên 7.000 USD, Việt Nam loanh quanh 4.000–4.500 USD. Chênh lệch thu nhập kéo theo chênh lệch năng suất, mức tiêu dùng nội địa, chất lượng hạ tầng và khả năng tích lũy vốn. Đó là nền móng thật, không phải mấy status tự sướng. Tôi chán phân tích cái GDP của Việt Nam rồi, cứ cá trong ao của mình là nhận về hết cả, mà có biết là cá thằng hàng xóm nó gửi ở đó, nuôi lớn nó mang về nhà thịt méo đâu. Mình có cái xương chứ được miếng thịt nào đâu mà sướng?

Nhiều người thích lôi con số xuất khẩu Việt Nam hơn 350 tỷ USD ra để khè. Nhìn kỹ cấu trúc đi rồi hãy nói. Xuất khẩu Việt Nam phần lớn nằm trong tay Samsung, LG, Foxconn, Intel, Lego… khối FDI chiếm hơn 70% kim ngạch. Thái Lan xuất khẩu thấp hơn chút, khoảng gần 280–290 tỷ USD, nhưng doanh nghiệp nội địa của họ như PTT, SCG, Thai Union, Charoen Pokphand (CP), Indorama vẫn là xương sống. Một bên là nền sản xuất do tập đoàn nước ngoài dẫn dắt, một bên là nền công nghiệp có lớp doanh nghiệp bản địa đủ và rất lớn. Hai câu chuyện khác nhau hoàn toàn, chất lượng tăng trưởng của Thái Lan nó rất thật, và thật ở chỗ nó tự làm được.

Nói đến công nghiệp chế tạo, cứ nhìn ngành ô tô là rõ. Thái Lan sản xuất khoảng 1,8–2 triệu xe mỗi năm, được gọi là “Detroit của Đông Nam Á”, Thái Lan chính là quốc gia chế tạo mạnh nhất ở Đông Nam Á. Toyota, Honda, Isuzu, Mitsubishi, Ford đều có hệ sinh thái cung ứng ở đó. Việt Nam? Sản lượng xe nội địa chưa tới 200.000 chiếc/năm nếu bỏ qua nhập khẩu. Chuỗi phụ trợ còn quá yếu, tỷ lệ nội địa hóa thấp, doanh nghiệp cơ khí chính xác đếm trên đầu ngón tay. So ngang kiểu Việt Nam ăn được Thái Lan nghe giống câu nói lúc ngồi quán nhậu hơn là phân tích kinh tế, lừa con nít thì được.

Chuỗi bán lẻ và thực phẩm thì càng đau đầu nếu nhìn thật, Thái Lan hầu như thâu tóm hết tất cả ngành bán lẻ, nông nghiệp, thực phẩm , đồ uống của Việt Nam.

ThaiBev nắm Sabeco. Central Retail kiểm soát GO!, Big C, Nguyễn Kim. Berli Jucker thâu tóm Metro Cash & Carry (đổi tên MM Mega Market). CP Group phủ khắp ngành chăn nuôi - thức ăn - thực phẩm chế biến. SCG nhảy vào vật liệu xây dựng, hóa dầu. Amata phát triển khu công nghiệp. Đi một vòng siêu thị Việt Nam đọc bảng sở hữu cổ đông là thấy dòng vốn Thái len vào từng mắt xích. Nói Việt Nam đang áp đảo họ nghe thật nực cười. 

Du lịch là lĩnh vực thể hiện rõ nhất độ chênh. Năm 2019, Thái Lan đón gần 40 triệu khách quốc tế, doanh thu du lịch chiếm hơn 20% GDP nếu tính cả gián tiếp. Việt Nam cùng năm đạt hơn 18 triệu lượt, tăng nhanh thật, nhưng quy mô hạ tầng và chuỗi dịch vụ chưa thể đặt ngang. Sau dịch, Thái Lan phục hồi lên gần 28–30 triệu khách nhanh hơn, còn Việt Nam mới quay về vùng 17–18 triệu. Phuket, Pattaya, Bangkok hoạt động như cỗ máy in tiền suốt mấy chục năm, còn nhiều điểm du lịch Việt Nam vẫn loay hoay câu chuyện quy hoạch, logistics và dịch vụ.

Năng suất lao động cũng là thứ ít người muốn nhìn. Theo nhiều báo cáo khu vực, năng suất của lao động Thái Lan vẫn cao hơn Việt Nam đáng kể tính theo giá trị gia tăng trên mỗi giờ làm. Công nghiệp hóa sớm hơn 20–30 năm cho họ lợi thế tích lũy kỹ năng, mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng. Việt Nam chạy nhanh đấy, nhưng bảo vượt qua Thái Lan rồi thì còn khua.

Doanh nghiệp Thái đi ra nước ngoài mua tài sản, còn doanh nghiệp Việt phần lớn vẫn tập trung nội địa hoặc mới bắt đầu bước ra. ThaiBev, Central Group, PTT Global Chemical, SCG… họ mang tiền đi mua cổ phần khắp ASEAN. Việt Nam có Vingroup, Viettel, FPT, Masan đang mở rộng, nhưng quy mô đầu tư xuyên biên giới vẫn chưa cùng đẳng cấp với người Thái.

Ai còn tin Việt Nam đã vượt Thái Lan trên mọi mặt cứ mở bảng số liệu mà so: GDP đầu người, sản lượng ô tô, lượng khách du lịch, tỷ lệ doanh nghiệp nội địa trong chuỗi xuất khẩu, mức đầu tư ra nước ngoài, số tập đoàn lọt top Fortune Global 500 của khu vực. Nhìn hết những thứ đó sẽ thấy khoảng cách vẫn còn nguyên. Muốn đuổi kịp thì phải học cách họ xây công nghiệp nền tảng, cách họ bảo vệ doanh nghiệp nội địa lớn, cách họ biến du lịch thành ngành mũi nhọn thật sự. Bớt tự sướng lại thì mới có tâm thế đi tắt mà đón đầu, gớm nữa.

Thực tế người Thái vẫn đang mua tài sản, kiểm soát chuỗi bán lẻ và giữ vị trí trung tâm công nghiệp của khu vực. Muốn thắng thì phải tỉnh, không phải tự sướng bằng mấy cái tít giật gân vớ vẩn. Cứ làm như dân ai cũng ngu như chúng mày.

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Thành lập chính quyền Đế quốc Việt Nam - chính quyền độc lập đầu tiên của Việt Nam

Thành lập chính quyền Đế quốc Việt Nam - chính quyền độc lập đầu tiên của Việt Nam

<Một Cơn Gió Bụi - Trần Trọng Kim>

Ngày 7/4/1945, Huế, Việt Nam

Từ trước tôi không biết vua Bảo Ðại là người như thế nào. Vì trong thời bảo hộ của nước Pháp, hình như ngài chán nản không làm gì cả, chỉ săn bắn và tập thể thao. Hôm mùng 7 tháng tư tôi vào yết kiến thấy có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đúng đắn.

Ngài nói:

“Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó với mọi việc.”

Tôi tâu rằng:

“Việc lập chính phủ, ngài nên dùng những người đã dự định từ trước, như Ngô Ðình Diệm chẳng hạn, để có tổ chức sẵn sàng. Tôi nay thì phần già yếu bệnh tật, phần thì không có đảng phái và không hoạt động về chính trị, tôi xin ngài cho tôi về nghỉ.”

Ngài nói:

“Trẫm có điện thoại gọi cả Ngô Ðình Diệm về, sao không thấy về.”

Tôi tâu:

“Khi tôi qua Sài gòn, có gặp Ngô Ðình Diệm và ông ấy bảo không thấy người Nhật nói gì cả. Vậy hoặc có sự gì sai lạc chăng. Ngài cho điện lần nữa gọi ông ấy về. Còn tôi thì xin ngài cho ra Bắc.”

Ngài nói:

“Vậy ông hãy ở đây nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc.”

Lúc ấy tôi mệt nhọc lắm, và có mấy người như bọn ông Hoàng Xuân Hãn đều bảo tôi trở lại. Tôi chờ đến gần mười ngày. Cách độ ba bốn hôm tôi lại đi hỏi ông tối cao cố vấn Nhật xem có tin gì về ông Diệm chưa. Trước thì cố vấn Nhật nói chưa biết ông Diệm ở đâu, sau nói ông Diệm đau chưa về được. Ðó là lời tối cao cố vấn, chứ tự ông Diệm không có điện riêng xác định lại.

Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.

Ngài nói:

“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.”

Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:

“Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.”

Tôi ra bàn với ông Hoàng Xuân Hãn để tìm người xứng đáng làm bộ trưởng. Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục.

Cách lựa chọn như thế cũng khó, vì từ lâu nay chỉ có những người mềm lưng khéo thù phụng mới được ngôi cao, quyền cả, còn những người ngay chính ẩn nấp ở đâu đâu, ít khi biết được. Người xu danh trục lợi thì rất nhiều, nhưng không phải là người đương nổi những việc trong thời kỳ khó khăn như ngày hôm nay.

Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa.

Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng như sau:

Trần Trọng Kim, giáo sư, Nội Các Tổng Trưởng Trần Ðình Nam, y sĩ, Nội Vụ Bộ Trưởng Trần Văn Chương, luật sư, Ngoại Giao Bộ Trưởng Trịnh Ðình Thảo, luật sư, Tư Pháp Bộ Trưởng Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ, Giáo Dục và Mỹ Nghệ Bộ Trưởng Vũ Văn Hiền, luật sư, Tài Chánh Bộ Trưởng Phan Anh, luật sư, Thanh Niên Bộ Trưởng Lưu Văn Lang, kỹ sư, Công Chính Bộ Trưởng Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ, Y Tế Bộ Trưởng Hồ Bá Khanh, y khoa bác sĩ, Kinh Tế Bộ Trưởng Nguyễn Hữu Thi, cựu y sĩ, Tiếp Tế Bộ Trưởng.

Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: “Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?”. Tôi nói: “Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y”.

Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: “Ðược”. Khi ấy ông Yokohama nói: “Xin cho tôi xem là những ai”. Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: “Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn”. Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước.

Sau khi lập xong chính phủ, họp hội đồng chính phủ, tôi muốn đặt chức Nội Các Phó Tổng Trưởng để phòng khi tôi nhọc mệt, hay đi đâu vắng có người thay tôi làm việc. Tôi xem các ông bộ trưởng lúc ấy trừ ông Lưu Văn Lang ở Sài gòn không ra nhận chức, có ông Trần Văn Chương, bộ trưởng bộ ngoại giao, là người nhiều tuổi hơn, tôi xin cử ông Chương xung chức ấy.

Cả nội các đều ưng thuận. Việc ấy là tôi định, chứ không phải do người Nhật can thiệp. Tôi nói rõ việc ấy là vì sau này tôi thấy có người nói: Người Nhật bắt tôi phải để ông Chương làm Nội Các Phó Tổng Trưởng. Ðó cũng là một sự tưởng lầm.

Khi tôi đứng ra lập chính phủ, không phải không hiểu tình thế rất khó của nước Việt Nam đối với nước Pháp, và nước Pháp với các nước Ðồng Minh. Sự biến xảy ra ở nước Việt Nam, nguyên là một nước có văn hóa có chế độ phân minh, nhân khi trong nước suy nhược, người Pháp sang lấy võ lực bắt phải chịu cuộc bảo hộ của người Pháp. Dù có hiệp ước của triều đình Việt Nam đã ký với người Pháp, chẳng qua cũng chỉ là một tờ hiệp ước cưỡng bách mà thôi. Và chính người Pháp về sau cũng đã không giữ đúng những điều ký trong hiệp ước ấy. Nay nước Pháp thất bại, để người Nhật chiếm giữ mất cả quyền lợi, vua Bảo Ðại đã đứng lên tuyên bố độc lập thì nghĩa vụ của người Việt Nam là ai nấy đều phải cố sức làm việc giúp nước, rồi sau tình thế thay đổi thế nào sẽ có cuộc điều đình cho đúng công lý và đúng phong trào hiện thời.

Theo lý tưởng ấy, nên ngay từ lúc đầu trong lời tuyên bố của chính phủ, tôi đã nói những công việc quốc dân phải lo để gầy lại nền tự chủ nước nhà mà thôi, chứ không nói về việc chiến tranh của nước Nhật với các nước Ðồng Minh, chủ ý muốn tránh sự người Nhật có thể lôi kéo người mình vào cuộc chiến tranh của họ. Lúc chính phủ chúng tôi mới lập ra, bao nhiêu chính quyền của người Pháp giữ trước và việc cai trị ở các tỉnh đều do viên tối cao cố vấn Nhật tạm thời quyết định. Những văn thư và tờ trình báo, các cơ quan ở tỉnh đều gửi qua bên phòng tối cao cố vấn.

Những dinh thự của các bộ trưởng, thượng thư cũ đều chật hẹp, dột nát, dơ bẩn, không ở và làm việc được. Vậy trước hết, phải lo tìm nhà và các sở làm việc.

Khi còn chính phủ bảo hộ thì có hai chính phủ, mọi việc quan hệ đến chính trị trong nước thì do chính phủ bảo hộ định đoạt. Chính phủ Nam Triều có vua và triều đình, nhưng chỉ đặt ra để thi hành những mệnh lệnh của chính phủ bảo hộ mà thôi, chứ không có quyền hành gì cả. Nay phải hợp nhất cả hai chính phủ này, bắt các quan ở các tỉnh chỉ được trực tiếp với chính phủ Việt Nam mà thôi, và cấm không cho gửi văn thư về sở tối cao cố vấn Nhật nữa.

May lúc đó được viên tối cao cố vấn Nhật là ông Yokohama, một người am hiểu tình thế và nhã nhặn, cho nên mọi việc cũng giải quyết được dễ dàng.

Quan lại ở các tỉnh, phần nhiều là những tham quan ô lại chỉ quen sự thi hành mệnh lệnh của người Pháp, chứ không mấy người có đủ tư cách làm người công chức một nước tự chủ. Muốn thay đổi các quan lại là một chuyện rất khó. Những người làm chính trị nói huyên thuyên thì nhiều, song những người chín chắn biết suy nghĩ và biết cách đối lại với dân chúng cho êm ái thì ít. Việc chính trị là một việc rất phức tạp, cần phải có nhiều lịch duyệt và tài cán mới làm được. Nay muốn thay đổi các quan lại, thì phải từ từ lựa chọn nhân viên cho xứng đáng, chứ đem người mới làm việc lại dở hơn người cũ, thì chỉ làm rối việc chứ không có ích gì. Tuy thế, nhưng chỗ nào có viên tỉnh trưởng bất lực lắm, chúng tôi cố tìm trong những nhân vật mới, xem ai có thể làm được đem ra thay. Hãy làm thử như thế một vài nơi xem hiệu quả thế nào. Nhưng xét ra hiệu quả mong đợi cũng không được mỹ mãn lắm.

Chính sách của chúng tôi lúc bấy giờ, vì tình thế chưa được vững chắc nên phải đi từ từ, không làm điên đảo hết cả, sợ gây ra rối loạn.

Theo Hồi kí "Một cơn gió bụi" của cựu thủ tướng, nhà sử học, nhà giáo Trần Trọng Kim

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

SỨC MẠNH CỦA CON HỔ NẰM Ở MÓNG VUỐT DẤU TRONG NỆM THỊT

SỨC MẠNH CỦA CON HỔ NẰM Ở MÓNG VUỐT DẤU TRONG NỆM THỊT

  - Sưu tầm -

💡 Hãy thử nhìn vào những nhân vật đang nắm giữ vận mệnh của các tập đoàn tỷ đô hay các cường quốc: Từ Vladimir Putin, Tập Cận Bình cho đến những huyền thoại như Elon Musk, Steve Jobs, Rockefeller hay Warren Buffett. Bạn sẽ nhận ra một đặc điểm chung về diện mạo: Họ gần như không bao giờ có hình xăm.

Tại sao lại có nghịch lý này khi hình xăm đang ngày càng trở nên phổ biến? Câu trả lời nằm sâu trong cấu trúc bản ngã và nghệ thuật kiểm soát quyền lực.

1️⃣ Bản ngã (Ego) quá mạnh để cần biểu tượng ngoại thân

Theo Sigmund Freud - Cha đẻ của Phân tâm học, hình xăm thường là một công cụ để con người biểu đạt bản sắc, khẳng định cái tôi ra thế giới bên ngoài. Nhưng đối với những người quyền lực thật sự, bản ngã của họ đã đủ vững chãi và ổn định đến mức họ không cần bất kỳ ký hiệu nào trên da thịt để củng cố vị thế.

Họ tự khắc biết mình là ai và đang đứng ở đâu. Freud gọi đây là trạng thái "Bản ngã lý tưởng" cực kỳ trưởng thành. Sức mạnh của họ đến từ bên trong, không cần mượn hình tướng để tăng thêm uy lực.

2️⃣ Người có dã tâm lớn cực kỳ sợ bị đọc vị

Trong bàn cờ quyền lực, thông tin là vũ khí, và sự bí ẩn là lớp giáp bảo vệ tốt nhất. Một hình xăm, dù là nhỏ nhất, cũng có thể là một "dữ liệu" tiết lộ tầng sâu vô thức, những ẩn ức quá khứ hoặc sở thích cá nhân.

Người đứng trên đỉnh cao luôn muốn mình là một khối tảng băng chìm. Họ không muốn đối thủ biết họ sợ gì, họ sùng bái điều gì, hay họ thuộc loại người nào. Không hình xăm = Không dữ liệu. Họ chọn cách để dã tâm nằm trong ánh mắt và quyết định, chứ không nằm trên làn da cho thiên hạ soi xét.

3️⃣ Dã tâm thật sự là hướng nội, không phải hướng ngoại

Những người có tham vọng lớn thực chất sở hữu một năng lượng hướng nội cực mạnh. Mọi sự tính toán, ý chí sắt đá và mục tiêu bền bỉ của họ đều được nén chặt vào bên trong.

Họ tập trung vào Quyền lực thực (Real Power) – thứ có thể xoay chuyển dòng tiền và vận mệnh, chứ không phải Biểu tượng quyền lực (Symbolic Power). Với họ, việc dùng hình xăm để thể hiện sự ngầu hay nguy hiểm là một hành động thừa thãi và có phần non nớt.

4️⃣ Khát khao đứng ngoài mọi bộ lạc

Trong tâm lý học xã hội, hình xăm đôi khi là dấu hiệu của việc muốn thuộc về một nhóm, một bộ lạc hay một hệ tư tưởng nào đó.

Ngược lại, người cầm quyền tối cao không muốn thuộc về bất kỳ ai. Họ muốn:

- Đứng tách biệt.

- Đứng trên tất cả.

- Không bị ràng buộc bởi bất kỳ ký hiệu hay định kiến nào.

- Họ chỉ thuộc về chính họ và luật chơi do chính họ tạo ra.

🔑 Bài học cốt lõi:

Đỉnh cao của quyền lực là sự tĩnh lặng và khó đoán. Khi bạn không cần phải phô trương bất kỳ điều gì, đó là lúc bạn đáng sợ nhất. Câu chuyện không phải là bài trừ hình xăm, mà là bài học về sự tiết chế và bảo mật bản thân.

Sức mạnh của một con hổ nằm ở móng vuốt giấu trong nệm thịt, chứ không nằm ở những vằn vện trang trí bên ngoài.

👉 So với bản ngã và dã tâm nằm sâu trong NỘI TÂM thì hình xăm là vết mực ngoài da không đáng để nhắc đến. Nếu bạn cũng mang trong mình một dã tâm lớn nhưng chưa biết cách kích hoạt sức mạnh nội tại và tham vọng bên trong, hãy thử đọc "24 bài học thần kỳ nhất thế giới". Chính cuốn sách này đã lí giải bí mật về hình xăm và sức mạnh vô biên của thế giới nội tâm, nó từng bị cấm lưu hành suốt 70 năm vì có khả năng trao quá nhiều bí mật cho số đông.

50 Khẩu Quyết Phong Thủy – Ghi Nhớ Sẽ Rất Có Lợi!

50 Khẩu Quyết Phong Thủy – Ghi Nhớ Sẽ Rất Có Lợi!

1. Trước miếu nghèo, sau miếu giàu; hai bên miếu dễ sinh cô quả.

Bình giải: Miếu là nơi thờ thần linh. Phía trước kim thân thần có bàn bái tế, hương đăng và lễ phẩm. Nhà ở phía trước miếu giống như người trong nhà phải “cung phụng” thần linh, tiền tài dễ hao tán. Ngược lại, nhà phía sau miếu như được thần linh “thụ hưởng lễ phẩm”, nên dễ phát phú quý.

2. Đại môn đối diện ban công, suy bại không tụ tài.

Bình giải: Đây là “Xuyên tâm đường sát” – cửa chính đối thẳng cửa sau, cửa sổ sau hoặc ban công thành một đường thẳng. Khí vào và khí ra đối xung, khí không tụ thì tài không tụ.

3. Nhà ở lõm khuyết, không vuông vức, người trong nhà dễ sinh bệnh tật.

Bình giải: Mỗi phương vị trong Bát quái ứng với từng thành viên. Nhà khuyết góc tất ảnh hưởng sức khỏe người tương ứng.

4. Khuyết Tây Nam hại mẹ; khuyết Tây Bắc hại cha; khuyết Đông Bắc hại thiếu nam (con trai út).

Bình giải: Theo Hậu Thiên Bát Quái: Khôn (Tây Nam) chủ mẹ; Càn (Tây Bắc) chủ cha; Cấn (Đông Bắc) chủ thiếu nam.

5. Minh Đường tán loạn như sàng gạo, con cháu nghèo đến tận cùng.

Bình giải: Minh Đường nên rộng rãi, quy chỉnh, tụ khí. Nếu tản mát, dốc xuống như sàng gạo sẽ không tụ tài.

6. Cửa đối cửa, không cần hỏi cát hung; ta tốt thì họ suy, họ tốt thì ta buồn.

Bình giải: Hai nhà cửa chính đối xung tất một nhà suy. “Lỗ Ban Kinh” chép: “Hai nhà không nên cửa đối cửa, tất một nhà thoái.” Đây gọi là “Đối môn sát” hay “Chu Tước sát”. Có thể treo Bát Quái Kính (mang tính phản xạ), nhưng treo “Thiên Quan Tứ Phúc” sẽ ôn hòa hơn.

7. Hoa tươi đặt nhiều trong nhà, hoa vượng người không vượng.

Bình giải: Phòng ngủ không nên đặt quá nhiều chậu cây; ban đêm thải CO₂ nhiều, không lợi sức khỏe.

8. Gương chiếu thẳng đại sàng, ngày ngày lo thuốc thang.

Bình giải: Giường đối gương ảnh hưởng an thần. Đầu giường kỵ đặt gương, bàn trang điểm không nên chiếu thẳng giường.

9. Trước nhà có đường phản cung, hy vọng thường hư không.

Bình giải: “Phản cung sát” – đường cong hình cánh cung ôm ngược vào nhà. Chủ bệnh tật, tài vận suy, con cháu phản nghịch, lục thân bạc duyên.

10. Trước hẹp sau rộng, đại khí vãn thành.

Bình giải: Cổ thư nói: “Tiền trạch hẹp, hậu trạch rộng, phú quý như sơn.” Hình thế này tụ khí tốt, hậu vận phát.

11. Nhà tại ngã ba chữ Đinh (T), chủ đại hung.

Bình giải: Gọi là “Lộ xung” hay “Lộ tiễn”. Có thể hóa giải bằng trồng cây, xây tường chắn hoặc đặt “Thái Sơn Thạch Cảm Đương”.

12. Sau nhà không có chỗ dựa, phúc khí không đủ.

Bình giải: Hậu phương là Huyền Vũ, cần có sơn hoặc vật cao làm chỗ tựa (“Huyền Vũ có tựa”).

13. Thanh Long Bạch Hổ như đẩy xe, điền sản khó giữ.

Bình giải: “Sa chủ nhân đinh, thủy chủ tài.” Hai bên trước nhà (Thanh Long – Bạch Hổ) nếu có thủy thế trực tiết như đẩy xe thì tài tán.

14. Phía Đông mở cửa sổ, Tử khí Đông lai.

Bình giải: Cửa sổ là khí khẩu; mở hướng Đông lợi tụ tài.

15. Tường rào mở cửa sổ, Chu Tước khai khẩu.

Bình giải: Tường bao không nên cao hơn nhà, càng không nên mở cửa sổ, gọi là Chu Tước khai khẩu, bất lợi gia chủ.

16. Bếp và nhà vệ sinh cùng cung vị, trong nhà tất có hung.

Bình giải: Thủy Hỏa tương xung, thành thế “Hỏa Thủy vị tế”, dễ sinh bệnh tai.

17. Nhà không có ngưỡng cửa, tiền tài chảy ra ngoài.

18. Tường rào gắn lưới sắt, dễ vướng quan tai.

19. Nhà nhìn thấy mộ phần, con cháu phải tìm đường sống.

20. Gương quá nhiều, dễ chiêu tà.

21. Đại môn đối nhà hoang, trong nhà hay khóc lóc.

22. Nhà có thai phụ không nên sửa chữa, động thổ, đóng đinh lên tường, dễ ảnh hưởng thai.

23. Phòng khách ở trung cung, gia vận hưng long.

24. Phòng ngủ chính, phòng ngủ phụ không nên đặt bài vị thần quỷ, dễ gia trạch bất an.

25. Vợ chồng đã kết hôn: Tây Bắc (Càn vị) không treo ảnh nữ hay đặt đào hoa; Tây Nam (Khôn vị) không treo ảnh nam hay đặt đào hoa, kẻo dễ ngoại tình.

26. Không nên bày tượng chim thú tùy tiện, dễ chiêu hung sát.

27. Tivi, máy tính không đặt trong phạm vi 3m đầu giường, dễ đa mộng, choáng đầu.

28. Đại môn đối ống khói, chủ đại hung.

29. Không cất giữ hung khí trong nhà (dao găm, kiếm…), dễ có huyết quang.

30. Cây lớn rỗng ruột trước cửa, tai họa liên miên.

31. Trước nhà vườn lớn chủ cát; sau nhà vườn lớn chủ hung.

32. Trần nhà quá thấp, ở lâu sinh áp lực.

33. Hai bên cửa chất đá lớn, nhất là đá có vân đỏ, dễ có thương vong.

34. Góc Tây Nam không đặt đá lớn hay non bộ, dễ hại người.

35. Sau rộng trước hẹp quá một phần ba là hung trạch, hại con cái.

36. Nền móng lộ thiên, gia cảnh nghèo khó.

37. Trước cửa đắp nền quá cao, ở giữa cao khiến nước chảy hai bên, dễ tuyệt tự.

38. Dây leo quấn nhà, tình cảm sinh sóng gió. Song sắt quá dày, vận thế khó vượng.

39. Sân vườn cỏ dại um tùm là tượng suy vận.

40. Tường trắng ngói lam như nhà có tang. Nhà nhỏ cửa lớn dễ phá tài, sinh khẩu thiệt.

41. Trước cửa rác rưởi, vận xui liên miên. Đầu giường để gạt tàn thuốc, dễ sinh họa hại thân.

42. Gần tháp cao, trong nhà dễ sinh họa. Phía Tây mở cửa sổ lớn là Bạch Hổ khai khẩu.

43. Sofa phòng ngủ nếu có 2 chiếc không nên đặt cạnh nhau; dễ sinh khẩu thiệt, vợ chồng bất hòa.

44. Lư hương không cao quá rốn tượng thần; thấp không quá chân thần. Quá cao khó thấy tài; quá thấp như “đạp lư hương”, không phát.

45. Sân trồng quá nhiều nho, vạn niên thanh, hoa cỏ rậm rạp – “hoa vượng nhân bất vượng”, gia vận suy.

46. Phòng khách quá nhỏ, tài lộc hạn chế.

47. Cửa trong nhà đối xung, sinh khẩu thiệt; vợ chồng hay tranh cãi.

48. Từ cửa vào nền nhà bước bước cao dần, hậu vận sinh phú hào.

49. Sau nhà có hố lớn chủ hung; dựa đại lộ lớn chủ trưởng bối không thọ.

50. Nhà trước sau phải vuông vức. Tây Nam quá rộng dễ hiếm con; Đông Nam quá rộng dễ chiêu rể ở rể hoặc ít con trai.

Chút kiến thức Phong Thủy chia sẻ tới bạn đọc, hi vọng sẽ hữu ích cho mọi người!

Chia sẻ cộng đồng, Công đức vô lượng!

Hà Tùng Xuyên Thiên

KS. Lê Quốc Ca: GỬI MỘT NGƯỜI LÀM NGHỀ THẦY GIÁO, NHƯNG TƯ DUY LÊCH CHUẨN

GỬI MỘT NGƯỜI LÀM NGHỀ THẦY GIÁO, NHƯNG TƯ DUY LÊCH CHUẨN.

(Tôi không muốn nêu tên – chỉ phê bình góp ý với bạn ấy thôi.)

Những phát ngôn của người thầy giáo khi nhận xét bài viết của người khác không đơn thuần là sự bất đồng quan điểm, mà phản ánh một vấn đề nghiêm trọng về nhận thức, phương pháp phê bình và đạo đức đối thoại. Từ việc quy kết cá nhân, đánh tráo khái niệm cho tới việc sử dụng ngôn ngữ miệt thị và chấm dứt tranh luận bằng cảm xúc ghê tởm, người thầy đã tự bộc lộ sự phá sản của tư duy phản biện – điều vốn là cốt lõi của nghề giáo.

Trước hết, toàn bộ lập luận của người thầy không nhằm phản biện nội dung bài viết, mà tập trung công kích người viết thông qua xuất thân, quá khứ và đời sống cá nhân: từ việc “một anh nông dân nghèo được sang Nga ăn học miễn phí” đến chuyện “được ưu ái, lấy vợ Hà Nội gốc”. Đây là một ngụy biện công kích cá nhân  điển hình, trong đó giá trị của một lập luận bị phủ nhận không phải bằng lý lẽ, mà bằng cách hạ thấp người phát ngôn. Với một người thầy giáo, việc sử dụng loại ngụy biện sơ đẳng này cho thấy sự yếu kém trong nhận thức logic và sự lẫn lộn giữa phê bình tư tưởng với phán xét con người.

Nghiêm trọng hơn, người thầy ngầm thiết lập một thứ đạo đức mang tính ban ơn: ai từng được hưởng lợi từ “sai lầm của chế độ” hoặc từ chính sách nhà nước thì không có quyền nhắc lại, phê phán hay suy ngẫm về những sai lầm ấy. Đây là một lập luận nguy hiểm, bởi nó biến quyền tự do tư tưởng thành nghĩa vụ trung thành, và biến lịch sử thành một món nợ ân tình. Trong cách nghĩ này, ký ức cá nhân không còn là dữ liệu để phản tư xã hội, mà trở thành thứ cần bị kiểm duyệt bằng “lòng biết ơn”.

Sự mâu thuẫn trong nhận thức của người thầy càng bộc lộ rõ khi ông thừa nhận rằng “chế độ nào, đất nước nào chẳng có những sai lầm”, nhưng lại phản ứng gay gắt với việc người khác “nhai lại” những sai lầm đó. Nếu sai lầm đã được “biết và sửa chữa thành công”, thì việc nhắc lại để suy ngẫm, đối chiếu và rút kinh nghiệm không những không đáng xấu hổ, mà còn là điều cần thiết. Việc vừa thừa nhận sai lầm, vừa phủ nhận quyền nhắc lại sai lầm cho thấy một tư duy chấp nhận sự thật ở mức khẩu hiệu, nhưng từ chối sự thật ở mức đối thoại.

Ở phát ngôn tiếp theo, sự suy thoái nhận thức chuyển hẳn sang sự sụp đổ của văn hóa tranh luận. Việc viện dẫn khẩu hiệu “xếp lại quá khứ hướng tới tương lai” để dập tắt tranh luận là một sự đánh tráo khái niệm có chủ ý. “Xếp lại quá khứ” không đồng nghĩa với “bịt miệng ký ức”, càng không thể được dùng như một lý lẽ để phủ nhận quyền phân tích lịch sử của cá nhân. Trong khoa học và giáo dục, không có tương lai nào được xây dựng trên sự lãng quên cưỡng bức.

Đặc biệt đáng báo động là cách người thầy sử dụng ngôn ngữ mang tính sinh lý và miệt thị: “ợ lên nhai lại”, “mùi thum thủm”, “buồn nôn”. Đây không còn là ngôn ngữ của lý trí, mà là ngôn ngữ của sự ghê tởm, một phản xạ cảm xúc thay thế cho lập luận. Khi một người thầy dùng cảm giác buồn nôn của mình để kết luận giá trị của một quan điểm, thì đó là dấu hiệu rõ ràng của việc lý trí đã nhường chỗ cho bản năng.

Câu nói “Không muốn trao đổi thêm nữa!” không phải là sự dừng lại trung lập, mà là một hành vi rút lui kèm theo phủ định nhân phẩm đối thoại. Người thầy không chỉ từ chối tranh luận, mà còn tự đặt mình vào vị thế chân lý, đồng thời hạ thấp đối phương xuống mức “không đáng được lắng nghe”. Đây là biểu hiện điển hình của tư duy độc thoại và quyền lực, hoàn toàn đối lập với tinh thần đối thoại bình đẳng mà giáo dục chân chính phải nuôi dưỡng.

Tóm lại, qua chuỗi phát ngôn này, người thầy giáo đã bộc lộ không chỉ sự hạn chế trong nhận thức phê bình, mà còn là sự đổ vỡ của chuẩn mực sư phạm và văn hóa trí thức. Một người thầy có thể sai, có thể bất đồng, thậm chí có thể từ chối tranh luận. Nhưng khi thay lý lẽ bằng miệt thị, thay phản biện bằng cảm xúc ghê tởm, và thay giáo dục bằng áp đặt đạo đức, thì người thầy ấy đã tự đánh mất tư cách của người dẫn dắt nhận thức, và trở thành minh chứng cho chính điều mà giáo dục cần phê phán.

Link: https://www.facebook.com/share/17tQurJt3g/

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Elon Musk đưa ra dự ngôn về sự chuyển đổi văn minh silicon

Tại Diễn đàn Davos đầu năm 2026, Elon Musk đưa ra dự ngôn về sự chuyển đổi văn minh silicon. Ông khẳng định lợi thế của Trung Quốc không nằm ở chip bán dẫn mà là nền tảng năng lượng ổn định cùng hạ tầng sản xuất cực kỳ khổng lồ của quốc gia này.

Sự kiện Diễn đàn Davos diễn ra vào những ngày đầu năm 2026 đã trở thành tâm điểm của giới công nghệ toàn cầu khi tỷ phú Elon Musk đưa ra những nhận định đầy sức nặng về tương lai nhân loại. 

Theo Elon Musk, thế giới hiện đang đứng trước một ngưỡng cửa lịch sử: sự chuyển đổi từ văn minh gốc carbon sang văn minh gốc silicon. Ông nhấn mạnh rằng khoảng thời gian cửa sổ cho sự thay đổi mang tính bước ngoặt này chỉ còn lại đúng hai nghìn ngày, tương đương với khoảng năm năm nữa. Đây không chỉ là một lời cảnh báo mà còn là một bản lộ trình cho cuộc chạy đua công nghệ khốc liệt giữa các cường quốc.

Trong bài phát biểu của mình, Elon Musk đã vạch ra một trình tự thời gian đầy kinh ngạc cho sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Ông dự báo rằng ngay trong năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu này, trí tuệ của AI sẽ chính thức vượt qua những cá nhân thông minh nhất của loài người. 

Đến năm 2029, sức mạnh trí tuệ của máy móc sẽ vượt xa tổng hòa trí tuệ của toàn bộ nhân loại và đến năm hai nghìn không trăm ba mươi, các robot Optimus của Tesla sẽ đảm nhận toàn bộ các công việc từ sản xuất tại nhà máy đến dịch vụ trong các gia đình. Tuy nhiên, đằng sau sự thăng hoa của trí tuệ nhân tạo là một nhu cầu khổng lồ về năng lượng mà không phải quốc gia nào cũng có thể đáp ứng.

Elon Musk chỉ ra rằng mối lo ngại lớn nhất hiện nay không phải là thuật toán AI mà là nguồn năng lượng để duy trì chúng. Trung tâm dữ liệu xAI hiện tại tiêu thụ lượng điện tương đương với một thành phố quy mô trung bình mỗi ngày. 

Tại Mỹ, các công ty công nghệ đang phải đối mặt với tình trạng lưới điện cũ kỹ, nơi mà việc xin cấp một Gigawatt điện có thể phải chờ đợi tới mười tám tháng. Chính trong bối cảnh này, át chủ bài thực sự của Trung Quốc đã lộ diện. Theo Elon Musk, lợi thế của Trung Quốc không nằm ở chip bán dẫn như nhiều người vẫn lầm tưởng, mà nằm ở năng lực nền tảng: hạ tầng năng lượng khổng lồ và ổn định.

Các con số thống kê từ năm 2025 đã chứng minh rõ nét ưu thế này của Trung Quốc. Tổng lượng điện tiêu thụ của toàn xã hội Trung Quốc đã đạt mức mười phẩy bốn nghìn tỷ kWh, gấp ba lần so với Mỹ. 

Đáng chú ý, tại tỉnh Giang Tô của Trung Quốc, lượng điện tiêu thụ của ngành sản xuất điện tử đã lần đầu tiên vượt qua ngành công nghiệp nặng truyền thống như thép và hóa chất. Điều này cho thấy cấu trúc kinh tế của Trung Quốc đã chuyển dịch mạnh mẽ sang các ngành công nghệ cao. 

Với 46 đường dây truyền tải điện siêu cao áp đã hoàn thành, Trung Quốc đã xây dựng được một "đường cao tốc năng lượng" có khả năng truyền tải ba trăm bảy mươi triệu kW, mang nguồn điện sạch đến khắp mọi miền đất nước.

Sự khác biệt về hạ tầng năng lượng giữa Trung Quốc và Mỹ là vô cùng lớn. Trong khi lưới điện của Mỹ vẫn đang loay hoay với những trang thiết bị từ thế kỷ hai mươi và những tranh chấp về lợi ích, Trung Quốc đã hoàn thiện hệ thống khép kín gồm điện siêu cao áp, quang điện và lưu trữ năng lượng. 

Tính đến năm 2025, Trung Quốc đã chiếm gần một nửa tổng lượng lắp đặt điện gió và điện mặt trời mới của toàn cầu. Đây chính là bệ đỡ vững chắc cho văn minh gốc silicon mà Elon Musk đã đề cập, bởi nếu không có điện, mọi hệ thống AI hay robot hiện đại nhất cũng chỉ là những công trình vô dụng.

Về vấn đề chip bán dẫn, Elon Musk cũng có một cái nhìn đầy tỉnh táo. Ông nhận định rằng khi quy trình sản xuất chip tiến gần đến giới hạn vật lý của Định luật Moore, Trung Quốc đã chọn một lối đi riêng. Thay vì chỉ tập trung vào máy quang khắc truyền thống, các nhà khoa học Trung Quốc đã đột phá bằng công nghệ tự khắc thực, cho phép xây dựng các mạch điện một nanomet. 

Đồng thời, các dòng chip tiêu chuẩn xe hơi như của Black Sesame đã thâm nhập thành công vào thị trường toàn cầu sau khi vượt qua các vòng kiểm tra khắt khe. Điều này chứng minh rằng sự phong tỏa công nghệ chỉ có thể gây ra những trì hoãn tạm thời chứ không thể ngăn cản bước tiến của Trung Quốc.

Bên cạnh năng lượng, nền tảng sản xuất của Trung Quốc cũng là một yếu tố quyết định. Với mật độ robot công nghiệp đạt mức gần ba trăm chín mươi hai chiếc trên mỗi vạn người vào năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm - cao gấp hai phẩy ba lần so với Mỹ - Trung Quốc đang dẫn đầu trong việc ứng dụng AI vào quy trình sản xuất thực tế. Khả năng "dùng robot chế tạo robot" và tối ưu hóa quy trình bằng trí tuệ nhân tạo đang giúp Trung Quốc duy trì lợi thế chi phí và hiệu suất, ngay cả khi chi phí lao động truyền thống có xu hướng giảm.

Kết lại bài phát biểu, Elon Musk cho rằng cuộc đua văn minh silicon không chỉ là cuộc đua về phần mềm hay linh kiện, mà là cuộc đua về sự bền bỉ của hạ tầng và khả năng thích ứng của hệ thống sản xuất. Trung Quốc đã sớm nhận ra điều này và đã chuẩn bị sẵn sàng một nền tảng vững chắc để đón đầu kỷ nguyên AI. 

Trong bối cảnh thế giới cũ đang dần khép lại trong vòng năm năm tới, việc nắm giữ át chủ bài năng lượng và sản xuất thông minh chính là chìa khóa để chiếm lĩnh tiên cơ trong một thời đại mà mọi thứ sẽ bị đảo lộn hoàn toàn bởi sức mạnh của silicon.

Nguồn: Genk