Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

Lương Hải: Mỹ “giương Đông, kích Tây”… “Trục thánh chiến” của Hồi giáo cực đoan Shia với đầu sỏ là IRGC tại Iran “sập bẫy”!

 Mỹ “giương Đông, kích Tây”… “Trục thánh chiến” của Hồi giáo cực đoan Shia với đầu sỏ là IRGC tại Iran “sập bẫy”!

- Lương Hải -

   Trước tiên, với LH … đây là cuộc chinh phạt của Hoa Kỳ và Do Thái với toàn bộ “trục thánh chiến” của Hồi giáo cực đoan Shia - với đầu sỏ là chế độ thần quyền tại Iran đang do IRGC dùng bạo lực để kiểm soát và lũng đoạn đất nước Iran, để có nguồn tài chính nuôi cả “trục thánh chiến”!

    Trong cuộc chinh phạt này, chỉ cần Hoa Kỳ và Do Thái “ra đòn” là đủ … toàn bộ đồng minh phương Tây của Mỹ chỉ cần làm một việc là phòng tránh tối đa sự thù hận tôn giáo với 2 tỷ người hồi giáo toàn cầu - một viễn cảnh sẽ gây ra hỗn loạn và rất nguy hiểm cho sự ổn định của phương Tây … thậm chí nếu đồng minh phương Tây nào của Mỹ có nhiều người hồi giáo - đặc biệt là dòng Shia sinh sống, thì còn có thể “phản đối cuộc chiến” …!

   Mở màn cuộc chinh phạt, như LH đã nói từ lâu … “vũ khí hạt nhân” luôn là lý do chính - nó không phải là “ảo”, mà nó là một tham vọng lớn, có thật và đang diễn ra - một “giấc mơ” của cả thế giới hồi giáo cực đoan Shia, trong đó đứng đầu là chế độ đang chiếm đoạt đất nước Iran, “giấc mơ” để đưa “trục thánh chiến” của nó thống trị Trung Đông (và làm “bàn đạp” để tràn ra thế giới - khi đó cả thế giới cũng sẽ gặp nguy hiểm), nên giấc mơ này sẽ mãi chỉ là giấc mơ … bởi Hoa Kỳ và Do Thái sẽ không bao giờ để nó thành hiện thực!

   Bất kể, đầu sỏ của hồi giáo cực đoan Shia tại Iran “muốn đốt cháy giai đoạn” bằng cách chấp nhận cung cấp dầu theo ý của Tàu, cũng như hỗ trợ Nga hết mình trong cuộc xâm lược Ukraine để sớm có được VKHN… nhưng Nga, Tàu vừa muốn “câu nhử”, vừa không hề dám qua mặt Mỹ để giúp Iran (IRGC) sở hữu vũ khí hủy diệt!

   Chính vì hồi giáo cực đoan Shia vẫn luôn bám víu vào giấc mơ VKHN bằng mọi giá đã khiến cả Trung Đông và thế giới kinh sợ … vì đó đã tự dâng cho Hoa Kỳ và Do Thái lý do hoàn hảo để tấn công xóa sổ nó bất cứ khi nào muốn!

    Từ lý do đó, Hoa Kỳ cũng có thể phong tỏa bất cứ lúc nào muốn với eo biển Hormuz… tuy nhiên, để có đủ lý do thu phục Đắc - Nhân - Tâm cho một cú phong tỏa một eo biển quốc tế đã qui định trong UNCLOS 1982 như Hormuz, người Mỹ đã “tương kế tựu kế”:

   Ban đầu, Mỹ để cho Iran (IRGC) “giở trò” trước để tạo “bức xúc quốc tế” và tạo “tiền lệ”, cho Iran thoải mái “manh động” chặn tất cả tàu thuyền của các nước đi qua eo biển Hormuz (thậm chí là đòi mãi lộ 2 triệu USD/1 tàu), và chỉ duy nhất tàu thuyền Iran (và một số tàu của Tàu) được đi thoải mái … khiến giá dầu leo thang, và thế giới “lên cơn sốt”!

   Cũng là để có thời gian để Mỹ và Israel phá hủy toàn bộ lực lượng của chế độ Iran! 

   Và chỉ khi đó, Hoa Kỳ mới lập tức điều chiến hạm tiến vào phong tỏa, kiểm soát eo biển Hormuz với lý do “tự do hàng hải” không để Iran (IRGC) thao túng eo biển quốc tế chiến lược Hormuz… đồng thời Hoa Kỳ tuyên bố “tàu thuyền của các nước được đi lại thoải mái, chỉ tàu ra vào Iran bị chặn”!

    Để phong tỏa eo biển Hormuz… ban đầu Mỹ dọa tấn công nhà máy điện và cầu… Iran (IRGC) tưởng thật, liền lùa ép người dân ra “che đạn” trên các cây cầu và các nhà máy điện!!!

  (Với IRGC, sau vụ thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình, lại tiếp đến vụ “lùa ép dân ra “che đạn” này đã tự phơi bày dã tâm xem thường mạng sống của người dân Iran như cỏ rác, của nó)!

  Nhưng… Mỹ lại bất ngờ “tiến vào chiếm quyền kiểm soát eo biển Hormuz”… khiến Iran (IRGC) chưng hửng, trở tay không kịp!!!

    Theo LH, “trở tay không kịp” là bởi Iran (IRGC) nghĩ rằng … tấn công nhà máy điện và cầu vừa “dễ ăn”, vừa đỡ tốn kém, vừa khiến đối phương nhanh “chết” hơn rất nhiều… so với “chiếm quyền kiểm soát” eo biển Hormuz với đầy thủy lôi gài dưới biển - và cả “trục thánh chiến” của Iran đang mai phục quanh bờ, thì sẽ tốn công và nguy hiểm… Iran (IRGC) chắc chắn nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ không dám làm điều đó!

   Cũng bởi nhân tâm và trình độ của Iran (IRGC) chỉ có vậy, nên nó chỉ nghĩ được như vậy!

  Nó đâu biết rằng … người Mỹ không tàn bạo như nó để có thể sẵn sàng tấn công bất chấp dân lành… trình độ của người Mỹ cũng khác nó rất xa để mà có thể sợ mấy trái thủy lôi cổ lỗ nằm dưới biển Hormuz, mà nó cố gài để “chặn tàu bè các nước thì ít mà chủ yếu muốn chặn tàu Mỹ thì nhiều”!!!… hay mấy nhóm phiến quân trốn chui nhủi trong vách núi (Vùng Vịnh không có rừng rậm để trốn)!!! … những thứ mà Hoa Kỳ dễ dàng “thổi bay xuống địa ngục” - như “ông trùm cao bồi” D. Trump đã công khai răn đe!

    Khi Hoa Kỳ phong tỏa eo biển Hormuz … Iran (IRGC) sẽ mất trắng những nguồn thu quan trọng nhất để sinh tồn và nuôi toàn bộ “trục thánh chiến” - từ tiền bán dầu đến tiền “mãi lộ” (2 triệu USD/1 tàu/ hàng trăm tàu một ngày) dự tính khoảng 400 - 500 triệu USD/ ngày … trong khi bản thân Nga, Tàu cũng sẽ “bỏ của chạy lấy người”… nền kinh tế Iran đang tan nát sẽ sớm sụp đổ… kéo cả chế độ hồi giáo cực đoan Shia tại Iran và lực lượng vệ binh cách mạng hồi giáo (IRGC) cùng “trục thánh chiến” của nó tại Yemen, Lebanon… sụp đổ và tan rã!

   Đến giờ phút này của cuộc chinh phạt của Mỹ và Do Thái với hồi giáo cực đoan dòng Shia… LH có thể khẳng định rằng hồi giáo cực đoan dòng Shia đã “sập” vài cái “bẫy” của người Mỹ… và nó sẽ bị xóa sổ!

    LH cũng xin nói thêm là trước đó Hoa Kỳ đã xóa sổ các tổ chức Hồi giáo cực đoan dòng Sunni (dù ôn hòa hơn dòng Shia) - với các trung tâm “đầu sỏ” nằm ở Syria, Iraq, Afghanistan mà chúng ta đều đã biết!

   Với bản thân đất nước Iran… bởi là quốc gia hội tụ đông nhất thế giới của dòng Hồi giáo cực đoan Shia - chiếm tới 90-95% tổng dân số… và chính giấc mơ bành trướng của hồi giáo cực đoan Shia đã đẩy hậu duệ của Cựu Đế chế Ba Tư vào vòng xoáy quyết chiến với kẻ thống trị Hoa Kỳ, trong tình trạng mà nó còn đang rất “non” và “xanh”, chưa kịp “chín” (chưa kịp có VKHN chẳng hạn) thì đã bị Hoa Kỳ “lôi cổ” ra “sàn đấu” … thì tuổi gì để mà chống cự với Hoa Kỳ!?

   Bởi nên bản thân hồi giáo cực đoan Shia tại Iran từ vài thập niên trước đã bị Hoa Kỳ và Pháp (LH sẽ nói về câu chuyện Pháp với Iran sau) “khoanh vùng” và hoạch định để chỉ đóng vai phụ - làm “sân sau” cho Đối Trọng Tàu (và một phần là cả cựu Đối Trọng Liên Xô - Nga sau này)… trong cuộc chơi Đối Trọng để thống trị của Đế chế thống trị thứ 6 Hoa Kỳ mà LH đã nói rất nhiều - cuộc chơi đã được những “bộ não” thống trị trong đồi Capitol thiết lập kịch bản từ lâu!

  Venezuela sụp đổ, Iran (IRGC) sụp đổ… cả 2 nguồn sống chính của con Gà Tàu… đều bị chặn đứng!

Lương Hải


Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

FB. SARAH KIM: 🔴Cắm cờ trên Lugansk: Putin và ván bài lật ngửa xóa sổ 30 năm lừa dối!

🔴Cắm cờ trên Lugansk: Putin và ván bài lật ngửa xóa sổ 30 năm lừa dối! 

Tháng 4 năm 2026, lịch sử quân sự thế giới ghi nhận một cột mốc rúng động: Những mét vuông đất cuối cùng tại tỉnh Lugansk chính thức nằm dưới sự kiểm soát 100% của quân đội Nga. Nhưng nếu chỉ nhìn vào bản đồ tác chiến với những mảng màu đỏ loang lổ, chúng ta sẽ bỏ lỡ một bàn cờ chính trị vĩ đại và tàn khốc hơn thế nhiều.

Việc chiếm trọn Lugansk và giữ vững hơn 116.000 \bm{km^2} lãnh thổ (xấp xỉ 19,25% diện tích Ukraine) không đơn thuần là một cuộc xâm chiếm đất đai. Đó là một bản di chúc chính trị được thực hiện bằng máu và thép, là lời hồi đáp sau 30 năm uất hận của điện Kremlin, và trên hết, đó là màn "báo thù" muộn màng nhưng sòng phẳng cho Yevgeny Primakov – người thầy, người khổng lồ cô độc đã tiên tri về sự phản bội của phương Tây từ ba thập kỷ trước.

1. Di sản của Primakov và "Cú Quay Đầu" Khinh Miệt

Để hiểu tại sao Putin quyết tử cho dải đất miền Đông, phải hiểu về nỗi đau của Primakov năm 1999. Khi ấy, vị Thủ tướng Nga đang trên chuyên cơ bay sang Mỹ để xin một khoản vay sinh tồn cho đất nước đang kiệt quệ. Giữa bầu trời Đại Tây Dương, ông nhận tin NATO dội bom Nam Tư – một đồng minh thân thiết của Nga.

Primakov đã ra lệnh cho phi công quay đầu máy bay ngay lập tức. Đó là một hành động dũng cảm nhưng đầy bất lực. Nga lúc đó quá yếu để ngăn cản những đường bay của tên lửa Tomahawk.

Bài học lịch sử: 

Trong chính trị quốc tế, sự chân thành đôi khi là hiện thân của sự ngây thơ chết người. Giống như Napoléon từng bị đánh lừa bởi ảo tưởng về một liên minh với Nga trước khi bước vào cuộc chiến 1812, nước Nga thập niên 90 đã tin vào lời hứa "không tiến về phía Đông dù chỉ một inch" của NATO. Kết quả? NATO nuốt trọn Đông Âu, tiến sát Baltic và áp sát Ukraine.

Vladimir Putin, người học trò xuất sắc nhất của Primakov, đã nhìn thấy vị thầy của mình ra đi với nỗi trăn trở về một nước Nga bị dồn vào chân tường. Và năm 2026, ông đã chọn cách trả lời không phải bằng một cú quay đầu máy bay, mà bằng một cú đấm thép nghiền nát mọi phòng tuyến.

2. Chiếm 20% Lãnh Thổ: Một "Nhát Chém" Triệt Hạ Sinh Kế

Con số 116.165 \bm{km^2} không phải là những vùng thảo nguyên hoang vu. Đó là những "mạch máu" tinh túy nhất của Ukraine:

• Donbass (Donetsk & Lugansk): Vựa than đá và trung tâm luyện kim – "động cơ" công nghiệp nặng.

• Zaporizhzhia: Nguồn năng lượng sống còn với nhà máy điện hạt nhân lớn nhất châu Âu.

• Kherson: "Cửa ngõ" nông sản và tuyến đường huyết mạch ra Biển Đen.

Việc Nga kiểm soát trọn vẹn Lugansk vào tháng 4/2026 là mảnh ghép cuối cùng để khóa chặt nền kinh tế Ukraine. Ukraine hiện tại giống như một cơ thể bị cắt mất 1/5 diện tích nhưng lại chiếm tới hơn 50% năng lực sản xuất GDP trước chiến tranh.

👉🏻Putin không chỉ chiếm đất, ông đang biến phần còn lại của Ukraine thành một "gánh nặng tài chính" cho phương Tây. 

Khi mất đi năng lực tự sản xuất, Ukraine trở thành một quốc gia sống bằng "ống thở" viện trợ. Đây là đòn trả đũa cay nghiệt nhất: Phương Tây muốn dùng Ukraine để làm suy yếu Nga, nhưng giờ đây họ phải gánh một vực thẳm tài chính không đáy.

3. "Cuộc Di Cư Của Tâm Hồn" và Sự Sụp Đổ Của Giấc Mơ Mỹ

Đất đai chỉ là cái xác, con người mới là linh hồn. Khi Nga kiểm soát 100% Lugansk và dải đất phía Nam, họ không chỉ lấy đất, họ đang thực hiện một cuộc "tái cấu trúc nhân khẩu học". Hàng triệu người tại các vùng này đã nhận hộ chiếu Nga. Đây không còn là sự chiếm đóng tạm thời, mà là sự hòa huyết về mặt pháp lý và văn hóa.

Hãy nhìn lại sự kiện "Anschluss" (Sáp nhập Áo vào Đức năm 1938). 

Khi một thực thể chính trị thay đổi cấu trúc dân cư và lòng dân, mọi nỗ lực tái chiếm của đối phương sẽ trở thành một cuộc chiến chống lại chính người dân bản địa. Đó là "bức tường lòng dân" mà Putin đang xây dựng.

Sự kiện 2026 cũng đánh dấu sự thất bại của mô hình an ninh phương Tây. 20% lãnh thổ bị mất là minh chứng cho việc "Lời hứa của Washington không thể thắng được hỏa lực của Moscow". Nó gợi nhắc lại Sự kiện Kênh đào Suez (1956) hay Sài Gòn (1975) – nơi các đồng minh nhận ra giá trị thực sự của những tờ giấy cam kết khi "nước xa không cứu được lửa gần".

4. Bức Tường Phòng Thủ Và Cái Giá Của "Sự Trung Lập Bị Khước Từ"

Tại sao Nga lại dồn quân như một "trận cuồng phong" để dứt điểm Lugansk? Về mặt quân sự, Lugansk sạch bóng quân đối phương đồng nghĩa với việc Nga có một hậu phương an toàn tuyệt đối.

Quan trọng hơn, đây là việc hiện thực hóa "Học thuyết Primakov": Thiết lập một vùng đệm an ninh đủ sâu bằng hàng triệu quả mìn và hệ thống "răng rồng". 116.165 \bm{km^2} này chính là "Vết sẹo vĩnh cửu trên khuôn mặt châu Âu", chấm dứt kỷ nguyên Nga cố gắng hòa nhập với phương Tây.

Sự tương xứng lịch sử: 

Hãy nhìn về Ba Lan trong thế kỷ 18 – một quốc gia hào sảng nhưng bị các đế chế xung quanh xâu xé vì những toan tính địa chính trị sai lầm. 

Nếu Ukraine chọn con đường trung lập như Phần Lan trong Chiến tranh Lạnh, liệu họ có mất 1/5 cơ thể? Ukraine đã chọn làm tiền đồn cho phương Tây, và cái giá phải trả là sự tan vỡ của hình hài đất nước.

👉🏻Sự Kết Thúc Của Kỷ Nguyên Ngây Thơ

.    Năm 1999, Primakov quay đầu máy bay để bảo vệ danh dự.

.   Năm 2026, Putin chiếm trọn Lugansk để bảo vệ sự tồn vong.

Phải chăng xương máu của người lính Nga đổ xuống tại Avdiivka hay Bakhmut không chỉ để cắm một lá cờ, mà để xóa đi dấu vết của 30 năm bị sỉ nhục? 

Cuộc chiến này là bản báo thù cho một "cú lừa" lịch sử. Nga đã dùng 1/5 cơ thể của Ukraine để xây dựng một pháo đài ngăn cách mình với một thế giới mà họ không còn tin tưởng.

Sự sụp đổ của Lugansk là tiếng chuông báo tử cho trật tự cũ. Phương Tây có thể tiếp tục bơm tiền, nhưng họ không thể "nhổ" được lá cờ Nga đã cắm sâu vào những vùng đất chiến lược này.

👉🏻Lịch sử vốn dĩ tàn nhẫn và không có chỗ cho sự yếu đuối! 

Nước Nga của năm 2026 đã học được bài học đắt giá nhất từ người thầy Primakov: "Trong một thế giới của những con sói, nếu bạn không có răng nanh, bạn sẽ là miếng mồi." 

Phương Tây có đồng hồ, nhưng người Nga có thời gian. Và vào tháng 4/2026, kim đồng hồ của lịch sử đã chính thức dừng lại ở Lugansk, báo hiệu một kỷ nguyên mà nước Nga không còn cần sự công nhận của phương Tây để tồn tại. Kỷ nguyên của sự ngây thơ đã vĩnh viễn khép lại.

🤝 Tới đây, Nếu bạn tìm thấy ở đây một góc nhìn khác về dòng chảy lịch sử — nơi những con số không chỉ là thống kê mà là hơi thở của thời đại — hãy đồng hành cùng tôi bằng một nút Follow. 

Đừng giữ những góc nhìn này cho riêng mình, hãy Share bài viết để chúng ta cùng tạo nên một cộng đồng độc giả có chiều sâu giữa kỷ nguyên thông tin. 

#ukraine #Putin #nga #chientranh #tintuc 

#tinnong #tin #dautu #SARAH KIM 

- ẢNH MINH HOẠ-

FB.Rùa Tiên Sinh (Bùi Anh Chiến): Trung Quốc ở Trung Đông

Trung Quốc ở Trung Đông. 

- Bùi Anh Chiến -

Hải quân Mỹ đã bắt đầu các hoạt động tuần tra và phong tỏa cảng biển Iran, Iran vẫn im lặng, không có hành động dù ngoài dọa 😏.

Để thấy bức tranh địa kinh tế ở trung đông, chúng ta phải nhìn vào số tiền đầu tư khổng lồ của Trung Quốc vào khu vực này.

Từ năm 2005 đến nay, Trung Quốc đã chi hơn 269 tỷ USD cho đầu tư và các hợp đồng xây dựng trên khắp Trung Đông.

Ả Rập Xê Út là nước nhận nhiều nhất với 82 tỷ USD, tiếp theo là UAE với 48 tỷ USD, và Iraq với 40 tỷ USD.

Riêng tại Iran, các khoản đầu tư và hợp đồng xây dựng của Trung Quốc đã đạt 25 tỷ USD.

Trong khi đó, thương mại giữa Trung Quốc và Trung Đông đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 2017, đạt 317 tỷ USD vào năm 2024.

Động lực của Trung Quốc đầu tư vào vùng vịnh chính là tham vọng đánh bật Mỹ khỏi các ràng buộc kinh tế và từng bước xâm nhập hải quân vào vùng vịnh. Dầu giá rẻ của Iran chính là điểm mấu chốt cho chiến lược chuỗi ngọc trái trên biển đi vòng qua Ấn Độ Dương.

Sự phụ thuộc kinh tế của Trung Quốc gắn chặn vào tính ổn định của Trung Đông đặc biệt thông qua các hỗ trợ kinh tế cho Iran, trở thành đối trọng của Mỹ trong khu vực. Nhưng Trung Đông không phải Đông Bắc Á, nơi Trung Quốc có thể 1 tay che trời, khi Nhật Bản khá hiền lành và Hàn Quốc chưa đủ quyết tâm, và Bắc Triều Tiên quá nghèo để nuôi bất kỳ một lực lượng ủy nhiệm nào trong khu vực.

Trung Quốc không nhìn thấy Trung Đông có một nước coi sự tồn tại của mình vượt qua hết các vấn đề đạo đức thông thường, đó chính là Israel. 

Israel giàu như Nhật Bản, nhưng còn mạnh hơn và sát phạt hơn nhiều, Trung Quốc đầu tư vào Iran là đang gián tiếp đe dọa sự tồn vong của Israel.

Ngăn chặn Trung Quốc và chuyển dòng đầu tư của nước này từ lợi nhuận thành thất bại chiến lược là con bài đa mục tiêu của cả Mỹ và Israel. Nó vừa ngăn chặn Trung Quốc xâm nhập vào Trung Đông, vừa tách Trung Quốc tiến gần hơn đến việc biến Iran thành một dạng tiền đồn quân sự và đồng minh địa kinh tế - chính trị lớn. Chiến tranh Iran không chỉ đơn thuần là cuộc chinh phạt để phi quân sự hóa, phi hạt nhân hóa Iran, nhìn rộng ra nó là một cuộc chơi về việc biến đầu tư của Trung Quốc thành cát trên sa mạc. Trung Quốc đang nhìn Trung Đông với con mắt thua lỗ nặng .

Từ Syria, Nam Mỹ, Panama, Cuba, đến các quốc đảo ở Tây Thái Bình Dương, Mỹ đang bẻ từng móng vuốt của Trung Quốc. Khoản lỗi của Trung Quốc ở Iran không thể lấy lại, nó cũng như ở Panama - Cuba hay Venezuela vậy.

Nhưng Rùa em phân tích trong các buổi livetream, Trung Quốc có thừa tiền và tham vọng, nhưng Trung Quốc lại thiếu quyết tâm để sử dụng nguồn lực quân sự, để giữ các thành quả kinh tế ở các khu vực chiến lược và ngoại vi. Giầu nhưng chưa mạnh chính là yếu tố Mỹ nhìn thấy ở Trung Quốc,  đầu tư hàng trăm tỷ USD nhưng không có khả năng bảo vệ nó, Trung Quốc xây thì lâu, còn Mỹ phá thì rất nhanh, mà khốn nạn thay, Mỹ nó lại rất có kinh nghiệm về chuyện phá hoại, Mỹ nó phá Trung Quốc tinh vi đến mức Trung Quốc không tìm ra cách lên án nó, Trung Quốc cũng không thể và không dám đối đầu trực tiếp với Mỹ. Về cơ bản trong chính trị cường quốc, ông chỉ có tiếng nói mà không có răng thì ông thua 50% rồi, ông có công cụ mềm, nhưng thiếu công cụ cứng để áp đặt bằng sức mạnh, thì ông vẫn thua trong việc cạnh tranh ở hải ngoại. Sức mạnh cứng không phải giải phát tối ưu cho mọi hoàn cảnh, nhưng nó có thể định đoạt chiến lược khi đúng thời điểm, điều này Mỹ làm được, còn Trung Quốc vẫn chưa đủ tầm, Nga có quân sự, có máu nhiều nhưng lại quá nghèo để theo đuổi tham vọng chính trị. 

Trung Quốc giàu mà không mạnh, Nga mạnh nhưng nghèo. Mỹ thì có cả hai - vừa mạnh vừa giàu. Gọi nó là Siêu Cường cũng không có gì phải đắn đo. Giàu + mạnh thì nó có quyền lực thực sự để sẵn sàng cưỡng chế từ kinh tế đến quân sự cho đối thủ, bằng hình thức này hay hình thức khác, thì áp lực của Mỹ trên mọi ngóc ngách trên địa cầu này vẫn tồn tại, cho dù nó vô hình nhưng nó luôn hiện hữu ở ngay đó, đúng thời điểm và đúng vị trí - tầm mức.

Tôi không nói Mỹ đạo đức hơn các quốc gia khác, hay họ tốt đẹp, dân chủ, tôi chỉ nói với vị thế của Siêu Cường, nó sẽ sẵn sàng làm bất kỳ điều gì để duy trì vị thế đó, đạo đức chỉ là cái bấu víu mơ hồ với những kẻ yếu đuối mà thôi.

Nếu Việt Nam trở thành cường quốc số 1 khu vực, chúng ta có sẵn sàng đạp đổ các khái niệm mơ hồ về đạo đức chính trị để giữ vững vị thế của mình không? Tôi nghĩ rằng chúng ta lúc đó còn sát phạt hơn Mỹ, còn tinh vi hơn Mỹ ấy chứ, nhưng điều đó còn xa lắm.

Nhưng con đường để trở thành đại cường quốc khu vực như Israel, là nột chặng đường dài được dẫn dắt bằng tầm nhìn chiến lược thực tế và ý chí sắt đá của cả dân tộc. Chúng ta phải làm gì để trở thành một đại cường khu vực? Còn cần nhiều việc để làm lắm.

FB. Vô Danh: KHI LỊCH SỬ LÊN TIẾNG

KHI LỊCH SỬ LÊN TIẾNG

Đảng Dân Chủ và hai trăm năm chính sách làm suy yếu nước Mỹ

“Trong chính trị, không gì xảy ra tình cờ. Nếu nó xảy ra, bạn có thể cá rằng nó đã được hoạch định từ trước.”

— Franklin D. Roosevelt

Có một câu nói của Tổng thống Donald Trump khiến Washington rung chuyển, giới truyền thông cuồng nộ, và hàng triệu người Mỹ — cả ủng hộ lẫn phản đối — phải dừng lại suy nghĩ: “Sau Iran, Đảng Dân Chủ chính là kẻ thù lớn nhất của nước Mỹ.”

Phản ứng tức thì, như mọi lần, là những tràng lên án. CNN gọi đó là “ngôn ngữ cực đoan phá hoại nền dân chủ.” New York Times viết xã luận so sánh Trump với các nhà độc tài.

Các chính trị gia Dân Chủ — từ Thượng viện đến Hạ viện — đua nhau lên sóng truyền hình

thể hiện sự phẫn nộ. Nhưng trong tất cả những tiếng ồn đó, có một câu hỏi không ai dám đặt ra:

Nếu ta gạt bỏ cảm xúc, gạt bỏ lòng trung thành đảng phái, và chỉ nhìn vào hồ sơ lịch sử — vào những gì các đời Tổng thống Dân Chủ thực sự đã làm, những hậu quả đo lường được của các chính sách họ ban hành — thì liệu câu nói của Trump có hoàn toàn vô căn cứ không?

Bài viết này không phải lời tuyên truyền. Nó là một cuộc điều tra — kiểu điều tra mà các sử gia thực thụ tiến hành khi họ mở những trang sách cũ, lật lại những con số bị chôn vùi, và để sự thật tự cất tiếng nói. Chúng ta sẽ đi từ buổi đầu lập quốc, xuyên qua hai cuộc thế chiến, qua Chiến tranh Lạnh, và đến tận ngày hôm nay — để trả lời một câu hỏi duy nhất: các chính sách của Đảng Dân Chủ, xét tổng thể, đã phục vụ hay phá hoại nước Mỹ?

Và nếu câu trả lời khiến bạn khó chịu, xin nhớ: lịch sử không có nghĩa vụ làm hài lòng ai cả.

Cái nôi của sự áp bức

Hãy bắt đầu từ nơi mọi thứ bắt đầu. Đảng Dân Chủ, trong hình hài hiện đại, ra đời dưới bàn tay Andrew Jackson — vị tướng, vị Tổng thống, và cũng là chủ nhân của hơn 150 con người bị xiềng xích tại đồn điền Hermitage. Jackson không chỉ sở hữu nô lệ; ông bảo vệ thể chế nô lệ như một quyền thiêng liêng của tiểu bang, và ông đã dùng quyền lực Tổng thống để ký Đạo luật Di dời Thổ dân năm 1830 — văn kiện dẫn đến Con Đường Nước Mắt, cuộc diệt chủng thầm lặng mà hàng chục ngàn người Cherokee, Choctaw, Seminole phải trả bằng mạng sống.

Đó là người sáng lập. Còn những người kế thừa thì sao? 

James K. Polk phát động chiến tranh Mexico không phải vì tự do — mà để mở rộng địa bàn cho nô lệ. 

Franklin Pierce xébỏ Thỏa hiệp Missouri, mở cửa cho nô lệ tràn vào những vùng đất mới. 

Và James Buchanan — vị Tổng thống cuối cùng trước Nội chiến — đứng nhìn quốc gia vỡ vụn mà không nhấc một ngón tay; ông thậm chí còn ủng hộ phán quyết Dred Scott, phán quyết tuyên bố người da đen “không có quyền mà người da trắng phải tôn trọng.”

Trong khi đó, bên kia chiến tuyến, Đảng Cộng Hòa được thành lập năm 1854 với một sứ mệnh duy nhất rõ như ban ngày: chấm dứt nô lệ. Abraham Lincoln hy sinh mạng sống minh trên bàn thờ lý tưởng đó. Bốn triệu con người được giải phóng. Nhưng Đảng Dân Chủ không chịu thua. Sau Nội chiến, chính các nghị sĩ Dân Chủ miền Nam xây dựng luật Jim Crow, đẻ ra Ku Klux Klan, và duy trì chế độ apartheid kiểu Mỹ suốt gần một thế kỷ.

Hãy để sự thật đó ngấm thật sâu: đảng mà ngày nay tự nhận là bảo hộ của người thiểu số chính là đảng đã nô dịch, tra tấn, treo cổ, và tước đoạt nhân phẩm của chính những cộng đồng đó trong hơn 150 năm. Đây không phải ý kiến cá nhân. Đây là điều được ghi trong lịch mọi cuốn sách giáo khoa trên nước Mỹ. Và nếu ai đó bảo bạn rằng “hai đảng đã hoán đổi” để xóa sạch lịch sử — hãy hỏi họ: chính xác thì vào ngày nào, tháng nào, năm nào, Đảng Dân Chủ chính thức xin lỗi vì chế độ nô lệ?

Câu trả lời là: chưa bao giờ.

Woodrow Wilson và cỗ máy nhà nước

Nhảy qua nửa thế kỷ, chúng ta đến với Woodrow Wilson — nhà trí thức, giáo sư Princeton, người được giới tiến bộ tôn vinh như bậc thánh. Nhưng Wilson, dưới vỏ bọc “tiến bộ,” đã làm ba điều thay đổi nước Mỹ mãi mãi — và không theo hướng tốt đẹp.

Điều đầu tiên: ông tái phân biệt chủng tộc trong chính phủ liên bang. Nhân viên da đen bị tách khỏi đồng nghiệp da trắng, bị đẩy vào các phòng riêng, bị hạ cấp. Wilson chiếu phim “The Birth of a Nation” — bộ phim ca ngợi Ku Klux Klan — ngay tại Nhà Trắng, và tuyên bố rằng phân biệt chủng tộc là “vì lợi ích của người da màu.” Vị Tổng thống “tiến bộ” nhất thời đại lại là kẻ kéo lùi quyền dân sự hàng thập kỷ.

Điều thứ hai: Wilson ký sinh ra thuế thu nhập liên bang và Cục Dự trữ Liên bang — hai công cụ quyền lực mà các nhà lập quốc không bao giờ hình dung, và chắc chắn sẽ phản đối kịch liệt. Từ đó, chính phủ có phương tiện để hút máu người dân và kiểm soát nền kinh tế theo ý muốn chính trị. Mọi bành trướng nhà nước sau đó — từ New Deal đến Great Society đến Obamacare — đều đứng trên nền móng mà Wilson đã xây.

Và điều thứ ba: Wilson kéo nước Mỹ vào Thế chiến I — cuộc chiến mà Mỹ không có lợi ích sống còn — rồi thất bại thảm hại trong việc xây dựng trật tự hậu chiến. Hiệp ước Versailles, đứa con tinh thần của ông, tạo ra một châu Âu bất ổn đến mức gieo mầm cho chính Thế chiến II. Sự kiêu ngạo của Wilson — tin rằng mình có thể tái thiết kế cả thế giới — trở thành khuôn mẫu tai hại cho mọi cuộc phiêu lưu quân sự thất bại của các Tổng thống Dân Chủ sau này.

Roosevelt và huyền thoại New Deal

Không có huyền thoại nào được bảo vệ cẩn thận hơn huyền thoại Franklin Delano Roosevelt. Câu chuyện chính thống — được dạy trong mọi trường học, được nhắc lại trong mọi bộ phim tài liệu — kể rằng FDR “cứu nước Mỹ khỏi Đại Suy thoái.” Câu chuyện ấy đẹp. Và câu chuyện ấy, khi đối chiếu với dữ liệu, rạn nứt từ mọi phía.

Năm 1939 — sáu năm sau khi New Deal bắt đầu — tỷ lệ thất nghiệp Mỹ vẫn ở mức 17.2%.

Đọc lại cho kỹ: sau sáu năm chi tiêu chính phủ ồ ạt, gần một phần năm lực lượng lao động Mỹ vẫn thất nghiệp. Kinh tế Mỹ chỉ thực sự hồi sinh nhờ cỗ máy chiến tranh — nhờ bom đạn và tàu chiến, không phải nhờ các chương trình xã hội. Milton Friedman, Thomas Sowell, và hàng loạt nhà kinh tế học đã chứng minh rằng nhiều chính sách New Deal kéo dài Đại Suy thoái thay vì chữa trị nó: giá cả bị cố định, lương bị kiểm soát, lương thực bị phá hủy trong khi người dân chết đói, và thuế suất cao đến 94% bóp nghẹt mọi mầm mống đầu tư tư nhân.

Nhưng di sản đáng lo ngại nhất của FDR không nằm ở kinh tế. Nó nằm ở hai quyết định mà lịch sử không bao giờ được phép quên.

Quyết định thứ nhất: giam giữ 120.000 công dân Mỹ gốc Nhật trong các trại tập trung, không qua xét xử, không có tội danh, chỉ vì họ mang dòng máu Nhật Bản. Sắc lệnh Hành pháp 9066 là vi phạm hiến pháp trắng trợn nhất trong thế kỷ 20 — và nó mang chữ ký của một Tổng thống Dân Chủ.

Quyết định thứ hai: Hội nghị Yalta. Tại đó, FDR — đang bệnh nặng, suy kiệt, chỉ còn vài tháng để sống — trao toàn bộ Đông Âu cho Stalin như một món quà. Hàng trăm triệu người Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Romania bị bán đứng cho chế độ cộng sản. 45 năm Chiến tranh Lạnh, hàng triệu sinh mạng, hàng nghìn tỷ đô la chi phí quân sự — tất cả bắt nguồn từ cái bắt tay của FDR với kẻ đồ tể ở Yalta. Và người ta vẫn gọi ông là “vĩ đại.”

Lyndon Johnson: khi thiện chí phá hủy cả một thế hệ

Nếu FDR mở rộng nhà nước, thì Lyndon Baines Johnson biến nó thành một con quái vật.

Chương trình “Great Society” của ông — được bán cho người dân như cuộc chiến chống nghèo đói — nghe thật cao quý. Nhưng các con số kể một câu chuyện khác hoàn toàn.

Trước năm 1964, tỷ lệ nghèo ở Mỹ đã giảm đều đặn từ 32.2% xuống còn 19% — không cần bất kỳ chương trình liên bang nào. Thị trường tự do, tăng trưởng kinh tế, và sáng kiến cá nhân đang làm tốt công việc của chúng. Nhưng LBJ không thể chờ đợi. Ông xây dựng một hệ thống phúc lợi khổng lồ, và hệ thống ấy — thay vì giải phóng người nghèo — đã nhốt họ vào cái bẫy phụ thuộc. Khi chính phủ thưởng cho các gia đình không có cha, khi trợ cấp bị cắt nếu người mẹ kết hôn, khi làm việc chăm chỉ bị phạt bằng mất phúc lợi — thì kết quả là gì?

Kết quả, như nhà kinh tế học Walter Williams đau đớn ghi nhận: tỷ lệ gia đình da đen có đầy đủ cha mẹ sụp đổ từ 78% năm 1960 xuống dưới 35% ngày nay. Một cộng đồng từng sống sót qua nô lệ, qua Jim Crow, qua phân biệt chủng tộc có hệ thống — cuối cùng bị phá vỡ không phải bởi sợi xích, mà bởi tấm séc phúc lợi. Đó là thành tựu thật sự của Great Society.

Và rồi có Việt Nam. Kennedy gửi cố vấn quân sự đầu tiên. Johnson leo thang lên nửa triệu quân, dựa trên Sự kiện Vịnh Bắc Bộ — mà sau này được xác nhận là bị phóng đại, nếu không muốn nói là bịa đặt. 58.220 thanh niên Mỹ trở về trong quan tài. Hàng triệu người Việt Nam thiệt mạng. Nước Mỹ bị xé toạc. Đây là cuộc chiến của Đảng Dân Chủ từ khởi đầu đến cao trào — dù truyền thông sau này làm đủ mọi cách để gắn nó vào tên Nixon.

Jimmy Carter và món quà dành cho Ayatollah

Nếu phải chọn một nhiệm kỳ Tổng thống làm bản cáo trạng hoàn hảo cho năng lực quản trị của Đảng Dân Chủ, Jimmy Carter sẽ thắng mà không cần bỏ phiếu.

Kinh tế? Lạm phát 13.5%. Lãi suất 21.5%. Thất nghiệp 7.5%. Cái gọi là “Chỉ số Khổ đau”

đạt kỷ lục lịch sử. Người Mỹ xếp hàng dài cả dặm để mua xăng. Giá cả leo thang hàng tháng. Giấc mơ Mỹ, với hàng triệu gia đình trung lưu, trở thành cơn ác mộng Mỹ.

Nhưng thảm họa thực sự của Carter nằm ở đối ngoại, và nó ám ảnh nước Mỹ cho đến tận ngày hôm nay. Ông phản bội Quốc vương Iran — đồng minh chiến lược của Mỹ suốt ba thập niên— dưới danh nghĩa “nhân quyền.” Kết quả: Cách mạng Hồi giáo 1979, sự ra đời của nước Cộng hòa Hồi giáo Iran, và 44 năm khủng bố nhà nước. 52 nhà ngoại giao Mỹ bị bắt làm con tin 444 ngày. Chiến dịch giải cứu thất bại nhục nhã giữa sa mạc. Liên Xô xâm lược Afghanistan — vì Kremlin nhìn vào Nhà Trắng và thấy sự bất lực hiện thân.

Hãy suy nghĩ thật kỹ về điều này: Iran mà Trump gọi là “kẻ thù số 1 của nước Mỹ” ngày nay — chính là sản phẩm trực tiếp của Jimmy Carter. Không có sự phản bội Shah, sẽ không có Ayatollah Khomeini. Không có Khomeini, sẽ không có Hezbollah, không có Hamas được tài trợ bởi Tehran, không có chương trình hạt nhân Iran, và không có bốn thập niên máu lửa ở Trung Đông. 

Khi Trump đặt Iran và Đảng Dân Chủ cạnh nhau trong cùng một câu, ông không chỉ nói tu từ — ông đang nói lịch sử.

Bill Clinton: nụ cười Hollywood và ba viên đạn vào tim nước Mỹ

Clinton là bậc thầy chính trị — duyên dáng, thông minh, và nguy hiểm theo cách mà chỉ những người rất thông minh mới có thể nguy hiểm. Ông cười tươi trên sóng truyền hình trong khi ký ba văn kiện đặt bom hẹn giờ vào nền kinh tế và an ninh quốc gia Hoa Kỳ.

Viên đạn thứ nhất: NAFTA. Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, ký năm 1994, mở cửa cho hàng trăm nghìn việc làm sản xuất chảy máu sang Mexico. Toàn bộ Rust Belt — từ Michigan đến Ohio, từ Pennsylvania đến Wisconsin — bị bỏ rơi. Những thành phố từng nhộn nhịp trở thành thị trấn ma. Những gia đình ba đời làm thép, làm ô tô, đột nhiên thấy nhà máy đóng cửa, đồng nghiệp thất nghiệp, con cái không có tương lai. Và người ký

NAFTA? Một Tổng thống Dân Chủ — phản bội chính cơ sở cử tri công nhân của đảng mình.

Viên đạn thứ hai: bãi bỏ Glass-Steagall. Đạo luật này — được dựng lên sau Đại Suy thoái để ngăn các ngân hàng đánh bạc với tiền gửi của người dân — bị Clinton xóa bỏ năm 1999. Phố Wall hân hoan. Các ngân hàng “quá lớn để phá sản” ra đời. Bong bóng tín dụng phình to. Chín năm sau, nền kinh tế toàn cầu sụp đổ trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008 — và mọi chuyên gia đều trỏ ngược về quyết định của Clinton như ngòi nổ ban đầu.

Viên đạn thứ ba: đưa Trung cộng vào WTO. Clinton vận động không mệt mỏi để Trung cộng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2001, với niềm tin ngây thơ — hoặc tính toán nguy hiểm — rằng thương mại sẽ “dân chủ hóa” Bắc Kinh. Hai thập kỷ sau, Trung cộng không dân chủ hơn một mảy may. Nhưng họ đã trở thành đối thủ chiến lược hàng đầu của Mỹ, ăn cắp hàng trăm tỷ đô la sở hữu trí tuệ, thao túng tiền tệ, xây quân đội hiện đại, và xây đảo nhân tạo trên Biển Đông. Ai mở cửa cho con rồng? Bill Clinton.

Barack Obama và tám năm “chuyển hóa”

Obama hứa “chuyển hóa căn bản nước Mỹ” — và ở điểm này, ông nói thật. Tám năm của ông thực sự thay đổi nước Mỹ. Vấn đề là: thay đổi theo hướng nào?

Về kinh tế, thời Obama chứng kiến cuộc phục hồi yếu nhất sau suy thoái kể từ Thế chiến II. GDP tăng trưởng trung bình 2.1% mỗi năm — so với 3.5% trung bình lịch sử. 

Ông là vị Tổng thống đầu tiên trong lịch sử hiện đại không một năm nào đạt tăng trưởng 3%. Nợ quốc gia tăng gần gấp đôi — từ 10.6 nghìn tỷ lên 19.9 nghìn tỷ USD. Ông nhận một nền kinh tế đang gặp khó khăn và trả lại một nền kinh tế phục hồi ì ạch nhất có thể.

Obamacare? “Nếu bạn thích bác sĩ của mình, bạn có thể giữ bác sĩ của mình” — câu nói được PolitiFact — một tổ chức kiểm chứng thiên tả — bình chọn là Lời Nói Dối Của Năm 2013. 

Phí bảo hiểm tăng 25% chỉ riêng năm cuối nhiệm kỳ. Mức khấu trừ tăng gấp đôi.

Hàng triệu người mất bảo hiểm cũ. Và lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, chính phủ liên bang bắt buộc mọi công dân phải mua một sản phẩm thương mại — hoặc bị phạt tiền.

Không phải tự do. Không phải lựa chọn. Mà là cưỡng bức.

Nhưng thiệt hại nặng nề nhất của Obama nằm ở đối ngoại. Ông rút quân khỏi Iraq tạo ra khoảng trống quyền lực — và ISIS lao vào lấp đầy, chiếm gần một phần ba lãnh thổ Iraq và Syria, chặt đầu con tin Mỹ trên video phát trực tuyến. “Lằn ranh đỏ” của ông về vũ khí hóa học tại Syria bị Assad vi phạm công khai — và Obama không làm gì cả. Trong phút chốc, đồng minh mất niềm tin, kẻ thù mất sợ hãi, và uy tín siêu cường Mỹ — thứ tài sản quý giá nhất trong chính trị quốc tế — bốc hơi.

Và rồi, tác phẩm ngoại giao “đỉnh cao”: thỏa thuận hạt nhân Iran. Obama trao cho Tehran 150 tỷ USD — trong đó có 1.7 tỷ bằng tiền mặt, chở bằng máy bay, trong đêm — để đổi lấy một thỏa thuận cho phép Iran tiếp tục làm giàu uranium và có con đường hợp pháp đến vũ khí hạt nhân chỉ trong vài năm. Tiền ấy đi đâu? Một phần tài trợ Hezbollah, Hamas, phiến quân Houthi, và quân đội Assad. Máu của những người vô tội ở Syria, Yemen, Lebanon, Israel — có dấu vân tay của Barack Obama trên đó.

Joe Biden: khi mọi thứ sụp đổ cùng lúc

Và cuối cùng, chúng ta đến với Joe Biden — vị Tổng thống mà nhiệm kỳ của ông đọc như một bản tổng hợp mọi sai lầm Dân Chủ trước đó, được lặp lại trong phiên bản tồi tệ hơn, nhanh hơn, và phá hoại hơn.

Ngay ngày đầu tiên nhậm chức, Biden ký hàng loạt sắc lệnh đảo ngược chính sách biên giới của Trump: dừng xây tường, chấm dứt “Remain in Mexico,” thu hẹp thẩm quyền ICE.

Kết quả? 8 đến 10 triệu người nhập cư bất hợp pháp tràn qua biên giới phía Nam trong bốn năm — con số chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Không phải khủng hoảng — mà là cuộc xâm lăng được mời gọi.

Kinh tế? Gói chi tiêu American Rescue Plan trị giá 1.9 nghìn tỷ USD — được bơm vào nền kinh tế khi phục hồi đã bắt đầu — đẩy lạm phát lên 9.1%, mức cao nhất 40 năm. Giá thực phẩm tăng hơn 20%. Giá nhà vượt tầm với của cả một thế hệ. Và ai chịu thiệt nặng nhất?

Không phải giới tỷ phú Dân Chủ ở Martha’s Vineyard. Mà là người nghèo, người già sống bằng thu nhập cố định, gia đình trung lưu vắt kiệt từng đồng — chính những người mà Đảng Dân Chủ nói họ bảo vệ. Lạm phát là thứ thuế tàn nhẫn nhất trên đời — vì nó không cần Quốc hội phê duyệt, và nó đánh mạnh nhất vào người yếu nhất. Afghanistan? 

Cuộc rút quân tháng 8 năm 2021 là vết nhơ lớn nhất trên uy tín quân sự

Mỹ kể từ Sài Gòn 1975. Taliban tiếp quản cả nước trong vài ngày. 13 quân nhân Mỹ hy sinh trong vụ đánh bom tự sát. Hàng ngàn công dân Mỹ và đồng minh bị bỏ lại. Và 85 tỷ USD thiết bị quân sự hiện đại — súng, xe bọc thép, trực thăng Black Hawk — rơi vào tay khủng bố. Hình ảnh người Afghanistan bám càng máy bay C-17, rồi rơi xuống chết — hình ảnh ấy sẽ đi vào lịch sử như biểu tượng của thời đại Biden.

Năng lượng? Biden hủy đường ống Keystone XL ngay ngày đầu, đóng băng cho thuê khai thác trên đất liên bang, siết quy định khí thải. Giá xăng từ 2.39 USD/gallon nhảy lên trên 5 USD. Trong khi Mỹ tự trói tay chân, Putin và OPEC kiểm soát thị trường năng lượng toàn cầu. Một quốc gia ngồi trên kho năng lượng lớn nhất hành tinh — bị chính chính phủ của mình bắt phải đi xin dầu từ Venezuela và Saudi Arabia. Phi lý? Không. Đó là chính sách Dân Chủ.

Mô hình hay sự trùng hợp?

Đến đây, người đọc có quyền hỏi: đây chỉ là tập hợp ngẫu nhiên những sai lầm riêng lẻ, hay có một mô hình hành vi nhất quán?

Câu trả lời, khi nhìn xuyên suốt hai thế kỷ, rõ ràng đến không thể phủ nhận. Ba dòng chảy lặp đi lặp lại qua mọi đời Tổng thống Dân Chủ:

Dòng chảy thứ nhất là sự bành trướng không ngừng của nhà nước. Từ thuế thu nhập liên bang của Wilson, đến New Deal của FDR, đến Great Society của LBJ, đến Obamacare của Obama, đến các gói chi tiêu hàng nghìn tỷ của Biden — mỗi thế hệ Dân Chủ đều tìmcách phình to bộ máy chính phủ, tăng chi tiêu, tăng kiểm soát, tăng phụ thuộc. Nợ quốc gia đi từ 0 đến 34 nghìn tỷ USD — và phần lớn gánh nặng đến từ những chương trình mà Đảng Dân Chủ tạo ra rồi không bao giờ chịu cắt.

Dòng chảy thứ hai là sự yếu hèn trước kẻ thù bên ngoài. Yalta với FDR. Việt Nam với Kennedy và Johnson. Iran với Carter. ISIS với Obama. Afghanistan với Biden. Cứ mỗi lần một Tổng thống Dân Chủ đối mặt với kẻ thù của nước Mỹ — từ Stalin đến Khomeini, từ ISIS đến Taliban — kẻ thù ấy mạnh lên, nước Mỹ yếu đi, và thế giới nguy hiểm hơn.

Dòng chảy thứ ba là chia rẽ để trị. Chủ nô với nô lệ. Da trắng với da đen qua Jim Crow. Giàu với nghèo qua chiến tranh giai cấp. Và ngày nay — chính trị bản sắc: chia người Mỹ theo chủng tộc, giới tính, xu hướng tính dục, rồi gán cho mỗi nhóm nhãn “nạn nhân” hoặc “kẻ áp bức.” 

Đảng Dân Chủ chưa bao giờ đoàn kết nước Mỹ. Họ sống nhờ sự chia rẽ — vì một dân tộc đoàn kết sẽ không cần họ.

Vậy sao một nửa nước Mỹ vẫn chưa thấy?

Nếu hồ sơ tồi tệ đến vậy, tại sao Đảng Dân Chủ vẫn giành được gần nửa phiếu bầu? Đây là câu hỏi hay nhất mà bất kỳ ai đọc bài này đều có quyền đặt ra. Và câu trả lời, đáng buồn thay, không nằm ở sự thông minh của Đảng Dân Chủ — mà nằm ở sự kiểm soát.

Kiểm soát thông tin: Hơn 90% phóng viên tại CNN, MSNBC, New York Times, Washington Post bỏ phiếu Dân Chủ. Khi những người gác cổng thông tin đều đứng cùng một phía, dư luận không được phản ánh — mà được chế tạo. Một nửa nước Mỹ sống trong hệ sinh thái thông tin nơi mà Đảng Dân Chủ luôn đúng, Trump luôn sai, và bất kỳ ai đặt câu hỏi đều bị dán nhãn “cực đoan.”

Kiểm soát giáo dục: Trong các khoa nhân văn và xã hội tại đại học Mỹ, tỷ lệ giảng viên Dân Chủ so với Cộng Hòa lên đến 10:1 hoặc cao hơn. Khi thế hệ trẻ được đào tạo bởi một bên tư tưởng duy nhất suốt bốn năm, họ ra trường không phải với tư duy phản biện — mà với niềm tin. Và niềm tin thì không cần bằng chứng.

Kiểm soát phụ thuộc: Hơn 60 triệu người Mỹ nhận phúc lợi liên bang trực tiếp. Ai sẽ bỏ phiếu chống lại đảng hứa tăng phúc lợi? Ai cắn bàn tay cho mình ăn? Đảng Dân Chủ không chiến thắng bằng lý lẽ — họ chiến thắng bằng cách tạo ra hàng chục triệu người phụ thuộc vào họ để tồn tại. Và đó, thưa quý vị, không phải dân chủ. Đó là quản trị đồn điền kiểu mới — nơi xiềng xích là vô hình, nhưng sự trói buộc thì có thật.

Tổng thống Trump là người dùng ngôn ngữ mạnh. Ông không nói vòng vo. Ông không dùng uyển ngữ ngoại giao. Và vì vậy, khi ông gọi Đảng Dân Chủ là “kẻ thù,” một nửa nước Mỹ sốc. Nhưng nửa còn lại — nửa đã mất việc vì NAFTA, mất bảo hiểm vì Obamacare, mất con vì fentanyl tràn qua biên giới mở, mất tiền tiết kiệm vì lạm phát Biden, mất niềm tin vì truyền thông nói dối — nửa ấy nghe Trump và gật đầu. Không phải vì họ thù hận. Mà vì họ đã sống qua hậu quả.

Hai trăm năm. Từ nô lệ đến Jim Crow. Từ Yalta đến Sài Gòn. Từ con tin ở Tehran đến thi thể ở Kabul. Từ nhà máy đóng cửa ở Detroit đến giá xăng 5 USD ở California. Bạn có thể ghét cách Trump nói. Bạn có thể phản đối ngôn từ của ông. Nhưng khi bạn đọc hết những gì lịch sử ghi lại — không phải phiên bản CNN kể, không phải phiên bản giáo sư Harvard dạy, mà phiên bản nguyên bản, chưa qua biên tập — thì bạn sẽ phải đối mặt với một sự thật không dễ chịu:

Có lẽ Trump không cực đoan khi nói điều đó. Có lẽ ông chỉ là người duy nhất dám nói to điều mà lịch sử đã thì thầm suốt hai trăm năm.

Link: https://www.facebook.com/share/p/18hpJE7ta6/

Báo Một Thế Giới: ĐỪNG CỐ GIẤU SAI LẦM CŨ BẰNG CÁCH TẠO RA SAI LẦM MỚI

ĐỪNG CỐ GIẤU SAI LẦM CŨ BẰNG CÁCH TẠO RA SAI LẦM MỚI

Dư luận đang đặc biệt quan tâm về dự án Sân bay Long Thành với tổng mức đầu tư lên đến 16 tỉ USD có quá lãng phí, cũng như sự thiếu vắng tuyến metro kết nối…

Ngày 26/02/2026 Phóng viên Thẩm Hồng Thụy báo Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Nguyễn Thiện Tống - nguyên Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường ĐH Bách khoa TP.HCM, người đã từng có ý kiến phản biện đặt ra nhiều vấn đề đối với dự án Sân bay Long Thành từ hơn 10 năm trước.

* Xin chào Phó giáo sư - Tiến sĩ (PGS-TS) Nguyễn Thiện Tống. Xin cho biết ông có suy nghĩ gì khi nghe/xem ý kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập đến dự án Sân bay Long Thành trong phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam sáng ngày 25.2.2026?

- PGS-TS Nguyễn Thiện Tống: Điều đó rất hay. Hồi đó, nhiều người cũng nói như vậy rồi. Báo cáo tiền khả thi không đầy đủ, thiếu rất nhiều sự phân tích, đặc biệt là phân tích về tài chính, kinh tế. Họ đánh lừa mọi người bằng cách lấy ra một hạng mục nhà ga hành khách rồi phân tích các lợi ích của nó.

Nhà ga hành khách nào cũng có lời. Những hạng mục có thể lỗ như đường băng và những hạng mục đầu tư khác, họ lấy cái lời nội bộ của cái này bù qua cái kia. Họ không phân tích tổng thể để xem dự án Sân bay Long Thành về tài chính khả thi hay không. Có đủ số liệu thì bọn tôi cũng tính toán được hết. Nhìn chung thì dự án Sân bay Long Thành tính cách nào cũng lỗ về tài chính, không cách gì lời được hết. Vấn đề nữa là đầu tư quá lãng phí, quá nhiều tiền vào Long Thành. Nếu làm theo cách đầu tư thực sự tiết kiệm, chi phí ít hơn, may ra có thể tạm gọi là hòa vốn về tài chính.

Còn về mặt lợi xã hội, nếu lỗ về tài chính ít mà lợi lớn về xã hội thì vẫn có thể đầu tư. Cái thiếu nghiêm túc của báo cáo tiền khả thi là không có đầy đủ thông tin, dữ liệu. Khi tôi đặt vấn đề ra thì tránh né không ai trả lời hết. Kể cả báo cáo khả thi để khởi công giai đoạn 1, thiếu rất nhiều điều, như tài chính là lấy vốn từ đâu. ACV phải trả lời là có lời về tài chính hay không? Hiện nay người ta tránh né không trả lời. Nhưng ACV phải chịu trách nhiệm vì là chủ đầu tư, phải trả lời.

Vì thế, khi tôi nghe Tổng Bí thư Tô Lâm đặt ra vấn đề 16 tỉ USD xây dựng Sân bay Long Thành so với những nơi khác người ta làm ít tiền hơn, tôi đã đăng lên trang Facebook một phần tóm tắt của bài tôi viết về vấn đề lãng phí của dự án Sân bay Long Thành. Trong đó, tôi so sánh với sân bay tương tự là sân bay thứ 2 của Sydney, có năng suất từ 80 - 100 triệu hành khách một năm. Đất Úc rất rộng, nhưng họ sử dụng chưa tới 1.800ha. Họ xây 2 đường băng chỉ 3.700 mét thôi, và tổng diện tích nhà ga hành khách 689.000m2. Còn Long Thành sử dụng đến 5.000ha đất, xây 4 đường băng mà mỗi đường dài 4.000 mét và 4 nhà ga hành khách với tổng diện tích 1.500.000m2.

Như thế với năng suất 100 triệu hành khách/năm, nếu sân bay Long Thành được thiết kế với 2 đường cất hạ cành dài 3.700 mét mỗi đường, với tổng diện tích nhà ga hành khách 840.000m2 và diện tích sân bay 1.800ha thì có thể tránh được lãng phí trên 9 tỉ USD. 

* Hơn 10 năm trước ông nói rằng “vội xây Sân bay Long Thành là có tội với đất nước” khi thực hiện phản biện khoa học về dự án. Ý của chữ “vội” có phải, ông muốn nên có nghiên cứu kỹ hơn về dự án trước khi quyết định xây dựng hay không?

- PGS-TS Nguyễn Thiện Tống: Chính thức là tôi phản đối. Tôi nói “vội” là gì, là phải nghiên cứu cho kỹ để có quyết định xây hay không xây. Phân tích của tôi và nhiều người nữa, dự án không có lợi. Bởi vì người ta vội quá thì mình cũng phải nói một cách vừa phải thôi. Chỉ can gián vừa phải chứ mình nói ngược lại hoàn toàn thì e rằng không được lắng nghe. Riêng cái chuyện suy nghĩ lại cho kỹ mà cũng không làm, cứ đẩy qua cho mau, làm như là cần kíp lắm. Tôi đã nói là không cần gấp như vậy, có thể chậm thời gian lại. Có 2 lý do: Chậm thời gian lại thì những dự báo, số liệu về Sân bay Tân Sơn Nhất hiện rõ ra, chính xác hơn. Cái dự báo họ làm số liệu rất sơ sài, khi đó Sân bay Tân Sơn Nhất mới tầm 10 triệu hành khách thì làm sao mà dự báo đến bốn, năm mươi triệu khách về tương lai một cách chính xác được. Cái thứ 2, vội vã sẽ tạo gánh nặng thêm cho nợ công.

* Vậy thưa ông, đến thời điểm này Sân bay Tân Sơn Nhất sau khi mở rộng với Nhà ga T3, có đáp ứng nổi nhu cầu và sự tăng trưởng về hành khách hay không?

- PGS-TS Nguyễn Thiện Tống: Có thể nói một cách dè dặt, tôi nghi ngờ ACV cố tình dìm Tân Sơn Nhất xuống, và nhiều người hùa vào, cho rằng sân bay gì mà vá víu. Cái đó là sai. Không ai xây một sân bay cho một sản lượng rất lớn mà lúc bắt đầu rất ít khách. Nó phải dần dần. Cái ý mà tôi muốn nói thêm nữa là, họ lấy cái cớ rất sai rằng Sân bay Tân Sơn Nhất có thiết kế 25 triệu khách một năm mà thôi. Nếu vậy thì chúng ta thay đổi cái thiết kế lên 50 triệu khách, 60 triệu khách. Thật sự cái khống chế là 2 đường băng cất hạ cánh. Họ vẫn lấy những lập luận để đánh lừa người ta, rằng 2 đường băng cách nhau 385 mét cho nên không thể cất, hạ cánh độc lập; rằng cất, hạ cánh độc lập phải trên 1.000 mét. Không độc lập nhưng mà tần suất chuyến bay, sản lượng trong 1 giờ người ta mô phỏng và so sánh được hết.

Khi đó tôi nói thế này, cái chật chội ở Sân bay Tân Sơn Nhất, rõ ràng nhất là nhà ga hành khách, Tết lúc đông người, rồi trạm kiểm soát passport, cổng an ninh… Thế thì mở rộng nhà ga ra. Diện tích nhà ga Sân bay Tân Sơn Nhất lúc đó chưa tới 150.000m2, thế thì tăng lên. Vừa rồi bên chỗ công ty Pháp cũng đề xuất tăng thêm 200.000m2 nhà ga nữa, và tốn kém 1 tỉ USD. ACV xây có 110.000m2 thôi và tốn kém chưa tới 500 triệu USD. Trong khi báo cáo dự án xây dựng Sân bay Long Thành cho rằng mở rộng năng suất Tân Sơn Nhất thêm 25 triệu hành khách một năm, tốn 9 tỉ rưỡi USD, cộng với nhiều thứ khác nữa. Cái con số láo toét đánh lừa Quốc hội, đánh lừa cả nước, ai chịu trách nhiệm đây? ACV đưa cho Bộ GT-VT, đưa cho ông Đinh La Thăng báo cáo, chẳng qua ông ấy dựa vào nhóm chuyên môn thôi.

Thiếu sót ở đây là các “quân sư quạt mo”. Họ không đứng tên ra, mà để cho nhà chính trị đứng tên. Một báo cáo của sân bay thứ 2 ở Sydney, có 5-7 người chuyên môn đứng tên. Vậy ai là người đề xuất dự án Sân bay Long Thành? Điều tra ra hết. Đáng ra trong báo cáo về Sân bay Long Thành, những người chuyên môn ký trước, và người ký cuối cùng là Bộ trưởng.

Diện tích nhà ga Tân Sơn Nhất hiện nay 260.000m2. Theo tôi, chỉ cần 500.000m2 thôi, xây thêm 200.000m2 bên mặt bắc nữa là cân pha sân bay, máy bay xuống rẽ hai bên thì nó bớt dồn vào một bên. Chỉ cần làm thêm đường lưu thông nội bộ.

Hiện nay họ nói là 50 triệu khách một năm. Nhưng bọn tôi làm, tối thiểu là 60 triệu khách một năm. Trung bình chuyến bay theo nghiên cứu của Pháp là 300.000 chuyến/năm, phía Anh nói là 400.000 chuyến/năm. Chưa kể nếu ta tận dụng giờ bay ban đêm nhiều hơn thì năng suất trên 60 triệu hành khách/.

Thêm nữa, Sân bay Biên Hòa có thể cải tạo thành sân bay lưỡng dụng. Sân bay Biên Hòa diện tích cũng gần bằng Tân Sơn Nhất, có 2 đường cất, hạ cánh rồi, chỉ tốn kém xây nhà ga. Tính toán đúng mức chỉ cần tốn 1-1,5 tỉ USD là dư sức tăng công suất Sân bay Biên Hòa lên 30-40 triệu hành khách một năm, gộp với Tân Sơn Nhất dư sức cho 100 triệu hành khách/năm.

* Dự kiến tháng 6.2026 Sân bay Long Thành bắt đầu đón chuyến bay thương mại đầu tiên. Nhưng với lượng khách như hiện nay, với nhà ga T3 mới vào hoạt động, Sân bay Tân Sơn Nhất hoàn toàn có thể đáp ứng. Ông có nghĩ có khả năng cao là cố tạo sức ép để đưa hành khách phải qua Long Thành hay không, vì thực tế là chẳng ai muốn bay từ Sân bay Long Thành trong tình trạng kết nối giao thông như hiện nay?

- PGS-TS Nguyễn Thiện Tống: Tôi cho rằng đừng cố gắng sửa chữa sai lầm rồi giấu cái sai lầm cũ bằng cách tạo ra sai lầm mới. Mặc dù tôi vẫn nói rằng nếu giải quyết giao thông đi Long Thành thì metro là cái là ưu tiên nhất, nhưng mà tốn rất nhiều tiền. Nếu Sân bay Tân Sơn Nhất vẫn phải duy trì thì người từ TP.HCM sử dụng Tân Sơn Nhất, còn Sân bay Long Thành để các nơi khác, như từ ĐBSCL đi lên. Mình làm cho thuận từ ĐBSCL đi lên Long Thành thì tại sao gần nhất là Sân bay Cần Thơ lại không phát triển?

Một điều rất sai lầm của ACV hay họ cố ý, là đáng ra chỉ nên xây một đường băng ở Sân bay Long Thành thôi, thì họ lại xây thêm đường băng thứ hai. Bao giờ trục trặc đường băng thứ nhất mới cần đường băng thứ hai. Giả sử trục trặc thì hạ cánh ở Sân bay Tân Sơn Nhất. Cho nên không cần làm đường băng thứ hai tại Long Thành. Làm mà không có dùng, rất là lãng phí. Thời gian lâu ngày nó sẽ bị xuống cấp.

* Có một câu hỏi mà người dân bình thường cũng có thể đặt ra là khi làm dự án Sân bay Long Thành không hiểu vì sao đơn vị lập dự án, cơ quan duyệt dự án có tính đến lượng khách khổng lồ từ siêu đô thị TP.HCM nhưng lại không tính đến tuyến metro kết nối, như tại nhiều quốc gia đã làm?

- PGS-TS Nguyễn Thiện Tống: Theo tôi có 2 lý do. Thứ nhất là họ muốn giấu tổng chi phí cho dự án Sân bay Long Thành. Tôi có viết điều đó. Mới chỉ bàn tiền xây sân bay thôi, còn tiền xây đường metro kết nối nữa, rất nhiều tiền. Ngay cả tiền giải tỏa đất sân bay, họ cũng không tính vào kinh phí dự án sân bay. Họ lấy ngân sách Nhà nước làm đề án riêng giải tỏa đất sân bay. 16 tỉ USD đó là tính chi phí xây dựng sân bay thôi. Nếu cộng với metro vài tỉ USD thành ra 20 tỉ USD hơn thì chi phí quá lớn, nên họ giấu. Thứ hai, chúng ta không có ngân sách, nợ công rất nhiều. Cái lý do không có tiền là đủ để bác dự án Sân bay Long Thành rồi. Tôi đã nêu những bài học như vậy của Bồ Đào Nha, vì không có ngân sách nên họ không xây dựng sân bay mới mà chỉ đầu tư phát triển sân bay Lisbon cũ. Theo tôi, bây giờ phải chấp nhận sai lầm và sáng suốt suy nghĩ lại dự án Sân bay Long Thành.

* Qua dự án Sân bay Long Thành, theo ông vấn đề lớn nhất của nó là gì?

- PGS-TS Nguyễn Thiện Tống: Vấn đề lớn nhất của dự án Sân bay Long Thành là quy trình quyết định (decision making process), làm thế nào, qua những bước nào, ai duyệt như thế nào, đầy đủ những gì thì mới được quyết định. Người đứng ra báo cáo cho Quốc hội hồi đó là ông Đinh La Thăng, nhưng câu hỏi là ai lập báo cáo gửi cho ông ấy, phải có người ký, gửi báo cáo cho ông ấy chứ. Cho nên, quy trình để quyết định phải làm rõ ràng trách nhiệm của từng cấp, từng nơi. Với trách nhiệm người ta sẽ không dám làm bậy. Nếu làm bậy, người ta phải chịu tội vì cái làm bậy đó. Đó là điều cần thiết nhất. Điều đó áp dụng cho tất cả mọi dự án.

* Xin cảm ơn Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống!

***

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống được ghi nhận trong tốp 50 kiều bào tiêu biểu, thể hiện sự trân trọng dành cho những cống hiến của ông trong lĩnh vực khoa học và giáo dục. PGS-TS Nguyễn Thiện Tống là nguyên Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường ĐH Bách khoa TP.HCM. Ông là một trong những người Việt Nam trẻ nhất được nhận bằng tiến sĩ (TS) tại Australia, thạc sĩ của Đại học Harvard và cũng là một trong số ít nhà khoa học đầu ngành hiện nay về kỹ thuật hàng không tại Việt Nam.

* NGUỒN: https://1thegioi.vn/dung-co-giau-sai-lam-cu-bang-cach-tao-ra-sai-lam-moi-246737.html?fbclid=IwY2xjawRKVL1leHRuA2FlbQIxMABicmlkETEwWjRtdGpkcGxwVEdQV0JDc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHoqgemwXxQvTDD3aFNLSCRWALLiMHjYGdBTQpFigT1tz56oXRUyd3CRnMYi2_aem_HTUJLycaG-nn2WUplmRkJQ 

* ẢNH:

1- Toàn cảnh sân bay Long Thành đang thi công. Nguồn ACV.

2- Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống 

3- Sân bay Long Thành đón chuyến bay đầu tiên cuối năm 2025



HỒ VĂN LANG

1 câu chuyện hay và đáng suy ngẫm. Nhân vật trong bài từng được đăng trên báo chí Việt Nam nhưng chưa thấy ai kể hay như bài trên trang này: No Cap Archives (không đề tên tác giả). 

Việc đem 1 con người nguyên thủy ra khỏi rừng (sau 8 năm) đã giết chết anh ta. 

Họ mang anh ta ra khỏi rừng nhưng không thể lấy rừng ra khỏi anh ta.

" Nọc độc" của xã hội con người, của " nền văn minh" đã giết chết anh ta.

Như vậy, việc bứng anh ta khỏi môi trường sống quen thuộc không phải sự cứu giúp, mà là 1 tội ác không mong muốn. 

Râu Vinh 

--------

HỒ VĂN LANG 

Vào năm 1972, khi Chiến tranh Việt Nam đang ở đỉnh điểm, một quả bom rơi xuống làng của ông Hồ Văn Thanh.

Cú nổ xé toạc ngôi nhà của ông. Khi khói tan, vợ ông và hai người con đã thiệt mạng.

Bị nỗi kinh hoàng và chấn thương tâm lý bao trùm, Hồ Văn Thanh ôm lấy đứa con trai còn sống sót – một đứa trẻ sơ sinh tên Hồ Văn Lang – và chạy vào rừng.

Ông không ngừng chạy. Ông chạy qua những cánh đồng lúa đang cháy, qua những tiếng thét kinh hoàng, sâu vào khu rừng rậm dày đặc thuộc huyện Tây Trà, miền Trung Việt Nam.

Ông tin rằng thế giới đang tận cùng. Rằng mọi người đều đã chết. Rằng cách duy nhất để bảo vệ con trai ông là biến mất hoàn toàn.

Và họ đã làm vậy. Trong suốt 40 năm.

Hồ Văn Thanh và con trai đã xây dựng một cuộc sống trong rừng sâu, thách thức mọi hiểu biết của chúng ta về khả năng sinh tồn của con người.

Họ dựng một ngôi nhà trên cây cách mặt đất khoảng năm mét để tránh thú dữ – hổ, rắn, heo rừng. Họ làm quần áo từ vỏ cây, đập cho đến khi mềm mại đủ để mặc.

Họ săn chuột, khỉ và rắn bằng những mũi tên tự chế và dao làm từ mảnh bom đạn chiến tranh vương vãi khắp khu rừng – những tàn dư của cuộc chiến đã đẩy họ vào đây.

Họ không có đồng hồ, không có lịch, không có khái niệm về năm tháng trôi qua. Thời gian đã dừng lại ở năm 1972.

Với Hồ Văn Lang, khu rừng chính là toàn bộ vũ trụ. Cha ông là người duy nhất còn lại trong đó.

Lang lớn lên từ một đứa trẻ sơ sinh thành một người đàn ông 42 tuổi mà không biết gì về thế giới bên ngoài. Ông chưa từng nhìn thấy một người phụ nữ nào – kể từ khi mẹ ông qua đời khi ông còn là trẻ sơ sinh. Ông không có khái niệm về quốc gia, chính phủ, tiền bạc hay công nghệ.

Ngôn ngữ của ông là một thứ phương ngữ đơn giản, khàn khàn, chỉ hai cha con ông hiểu được. Ông sống trong một hiện tại vĩnh cửu, không lo lắng về tương lai cũng không day dứt về quá khứ.

Khu rừng là tất cả.

Năm 2013, những người hái lượm địa phương đang ở sâu trong rừng thì phát hiện ra điều không thể tin nổi: hai bóng người đang di chuyển giữa những tán cây.

Họ trông giống người, nhưng không hoàn toàn như vậy.

Người dân làng báo cho chính quyền. Một đội cứu hộ được cử đến điều tra.

Khi cuối cùng họ tìm thấy Hồ Văn Thanh và Hồ Văn Lang, họ gặp một người cha và người con đã trở thành thứ gì đó ở giữa con người và linh hồn của rừng.

Lang lúc đó 42 tuổi nhưng mang đôi mắt ngạc nhiên rộng mở như một đứa trẻ. Ông mặc khố làm từ vỏ cây. Tóc ông dài và rối bù. Ông di chuyển với sự im lặng và uyển chuyển của một con thú rừng.

Ông không biết bóng đèn điện là gì. Hay ti vi. Hay gương soi.

Khi đội cứu hộ đưa hai cha con về làng, những hình ảnh đã lan truyền khắp thế giới. Đây là một người đàn ông đã sống cả cuộc đời mình ngoài nền văn minh – một “Tarzan” có thật.

Quá trình chuyển tiếp sang cuộc sống hiện đại là một cú sốc lớn.

Lang hiền lành, tính tình tốt bụng, thường hay mỉm cười. Nhưng ông luôn bối rối.

Tại sao mọi người lại làm việc để đổi lấy “những mảnh giấy” (tiền bạc) trong khi họ có thể vào rừng tìm thức ăn?

Tại sao mọi người lại vội vã đến vậy?

Tại sao có quá nhiều tiếng ồn – xe hơi, xe máy, ti vi, radio – liên tục?

Nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Alvaro Cerezo đã sống một tuần với Lang trong rừng trước khi ông hoàn toàn chuyển sang cuộc sống làng mạc. Cerezo vô cùng kinh ngạc trước những gì ông chứng kiến.

“Lang là con người thuần khiết nhất mà tôi từng gặp,” Cerezo nói. “Ông ấy không biết cách nói dối. Ông ấy không biết tham lam. Ông ấy không biết hận thù.”

Lang đã sống cả cuộc đời trưởng thành của mình trong trạng thái ngây thơ tuyệt đối. Khu rừng đã bảo vệ tâm hồn ông khỏi mọi thứ khiến con người trở nên cứng rắn – phản bội, tham lam, hận thù, hoài nghi.

Các nhà khoa học và nhân chủng học vô cùng hứng thú. Đây là một “bảng trắng” – một con người không bị ảnh hưởng bởi xã hội hiện đại, chủ nghĩa tư bản hay công nghệ.

Nhưng thế giới muốn biết: ai thực sự tự do? Người đàn ông sống trong ngôi nhà trên cây với không gì cả, hay phần còn lại của chúng ta, bị xiềng xích bởi điện thoại và nợ nần?

Câu chuyện có một bước ngoặt bi thảm.

Khu rừng đã bảo vệ tâm hồn Lang, nhưng cơ thể ông không được chuẩn bị cho thế giới hiện đại.

Trong 40 năm, ông sống trong một môi trường vô trùng và cô lập. Hệ miễn dịch của ông chưa từng tiếp xúc với virus hiện đại, thực phẩm chế biến hay chất ô nhiễm.

Bỗng nhiên, ông ăn đường, cơm trắng, thực phẩm công nghiệp. Ông tiếp xúc với hóa chất công nghiệp, khói xe và khói thuốc lá từ người dân làng.

Cơ thể ông không chịu nổi.

Năm 2021, chỉ tám năm sau khi được “cứu thoát”, Hồ Văn Lang qua đời vì ung thư gan ở tuổi 49.

Nhiều người quen biết ông tin rằng thế giới hiện đại đã giết chết ông. Căng thẳng, chế độ ăn kém, mất đi ngôi nhà yên bình trong rừng – tất cả đã quá sức chịu đựng.

Người đàn ông đã sống sót 40 năm trong một trong những khu rừng thù địch nhất trên Trái Đất lại không thể sống sót tám năm trong nền văn minh.

Câu chuyện của Hồ Văn Lang buộc chúng ta phải đặt ra những câu hỏi khó chịu.

Việc đưa ông trở về với nền văn minh là một cuộc cứu hộ – hay chúng ta đã cướp mất thứ gì đó từ ông?

Trong rừng, ông tự do. Ông săn bắt khi đói. Ông ngủ khi mệt. Ông sống không lo lắng, không so sánh, không bị đè nặng bởi những kỳ vọng khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại.

Trong nền văn minh, ông bối rối, choáng ngợp và cuối cùng bị bệnh tật.

Alvaro Cerezo đã nói rất đúng: “Lang không biết căng thẳng là gì. Ông ấy không biết lo lắng cho ngày mai nghĩa là gì. Ông ấy sống hoàn toàn trong hiện tại.”

Chúng ta gọi đó là “nguyên thủy”. Nhưng có lẽ đó mới là cách sống tiến bộ nhất.

Chúng ta đã xây dựng những tòa nhà chọc trời và tàu vũ trụ. Chúng ta đã kết nối toàn bộ thế giới bằng công nghệ. Nhưng chúng ta lại lo âu, trầm cảm và cô đơn hơn bao giờ hết.

Lang chỉ kết nối với cha mình, thế mà ông dường như hiện diện hơn bất kỳ ai trong chúng ta.

Di sản của ông là một lời nhắc nhở ám ảnh: khi sở hữu cả thế giới, chúng ta có thể đã đánh mất sự kết nối với Trái Đất.

Ông đã chạy vào rừng cùng đứa con sơ sinh trong Chiến tranh Việt Nam. Họ sống trong ngôi nhà trên cây suốt 40 năm. Khi xuất hiện năm 2013, con trai ông chưa từng nhìn thấy một người phụ nữ nào. Tám năm sau, thế giới hiện đại đã giết chết ông.




NHẬT KÝ LÝ BẰNG VIẾT VỀ 2 CÂU THƠ GIANG TRẠCH DÂN TẶNG ĐOÀN VIỆT NAM THAM DỰ HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ

NHẬT KÝ LÝ BẰNG VIẾT VỀ 2 CÂU THƠ GIANG TRẠCH DÂN TẶNG ĐOÀN VIỆT NAM THAM DỰ HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ

Copy từ Facebook nhà văn Phạm Viết Đào

Tác giả: Lý Bằng | 

Biên dịch : Nguyên Hải

“Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu [Tạm dịch : Qua hoạn nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù] ”. Đây là câu thơ của Lỗ Tấn.[1] 

Mặc dù Lê Đức Anh không có mặt trong Hội nghị Thành Đô nhưng 2 câu thơ trên nhằm DẰN MẶT LÊ ĐỨC ANH !

Sẽ viết rõ trong bài sau...

[Năm 1986]

Ngày 26 tháng 12, Thứ Sáu, trời âm u, có mưa. Tại Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam [ĐCSVN], Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Đảng, thay cho nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời hồi tháng 7.

[Năm 1989]

Ngày 26 tháng 8, Thứ Bảy, trời âm u, có mưa

Hôm nay Việt Nam tuyên bố đã “rút toàn bộ quân đội” từ Campuchia. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề Campuchia, cũng quét sạch trở ngại cho việc bình thường hóa mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam.

Bước ngoặt trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam —Hội nghị Thành Đô

[Năm 1990]

Ngày 6 tháng 6, Thứ Tư, trời hửng.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh hội kiến Đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nguyễn hy vọng thực hiện bình thường hóa quan hệ hai nước, hai đảng và mong muốn sớm đi thăm Trung Quốc.

Ngày 26 tháng 8, Chủ Nhật, trời âm u có mưa.

Tôi nói với đồng chí Giang Trạch Dân về việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam [ĐCSVN] Nguyễn Văn Linh và những người lãnh đạo chủ yếu phía Việt Nam đến thăm Trung Quốc với tính chất nội bộ, đồng chí Giang Trạch Dân tỏ ý hoàn toàn tán thành.

Ngày 27 tháng 8, Thứ Hai, trời mưa.

Tôi đã báo cáo đồng chí Đặng Tiểu Bình về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến Nguyễn Văn Linh. Xét thấy Á Vận Hội sắp cử hành tại Bắc Kinh, mà lần gặp gỡ này bàn đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước Trung-Việt, là chuyện trọng đại, để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm thu xếp tại Thành Đô.

Ngày 30 tháng 8, Thứ Năm, trời hửng.

Việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đi Thành Đô hội đàm với Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, đã gửi lời mời cho phía Việt Nam. Giờ đây hãy xem Việt Nam trả lời thế nào.

Ngày 2 tháng 9, Chủ Nhật, trời hửng.

Ba giờ rưỡi chiều, tôi đáp chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ đến sân bay Thành Đô. Chúng tôi đi ô tô, sau 20 phút đến Nhà khách Kim Ngưu, Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang chờ. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chuyên cơ khác đến Thành Đô sau tôi nửa giờ. Buổi tối từ 8 giờ rưỡi đến 11 giờ, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi ý kiến về phương châm hội đàm với phía Việt Nam ngày mai.

Ngày 3 tháng 9, Thứ Hai, Thành Đô, trời hửng.

Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng đồng chí tiếp tục nghiên cứu phương châm hội đàm với phía Việt Nam chiều nay.

Buổi chiều khoảng 2 giờ, Tổng Bí thư Trung ương ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn TƯ ĐCSVN Phạm Văn Đồng đến Nhà khách Kim Ngưu. Giang Trạch Dân và tôi đón họ tại nhà trệt số 1. Nguyễn Văn Linh mặc âu phục màu cà phê, có phong thái học giả. Đỗ Mười còn khỏe mạnh, tóc bạc phơ, mặc âu phục màu lam. Hai người này đều ở độ tuổi 73-74, còn Phạm Văn Đồng hai mắt bị đục thủy tinh thể, thị lực rất kém, mặc bộ đại cán màu lam, giống cán bộ lão thành Trung Quốc.

Buổi chiều, hội đàm bắt đầu, trước tiên Nguyễn Văn Linh phát biểu một bài dài. Tuy đã tỏ ý muốn giải quyết thật nhanh vấn đề Campuchia và nói thành lập Hội đồng Tối cao Campuchia là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, không nên loại bỏ bất cứ bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào việc nội bộ của Campuchia. Xem ra trên vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh chỉ muốn tỏ thái độ về nguyên tắc, mà đặt trọng điểm vào mặt bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

Hội đàm kéo dài một mạch đến 8 giờ tối. 8 giờ rưỡi mới bắt đầu tiệc chiêu đãi tối. Trên bàn ăn, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân từng người làm việc với Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười.

Ngày 4 tháng 9, Thứ Ba, trời âm u.

Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Đến giờ này, nên nói là các vấn đề hội nghị nêu ra đã đạt được sự đồng thuận tương đối trọn vẹn, quyết định dự thảo biên bản hội nghị.

Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung Quốc-Việt Nam làm lễ ký biên bản ở nhà trệt số Một nhà khách Kim Ngưu, Tổng Bí thư và Thủ tướng mỗi bên đều ký. Đây là bước ngoặt có tính lịch sử trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Ngay tại lễ ký, đồng chí Giang Trạch Dân tặng các đồng chí Việt Nam câu thơ “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu [Tạm dịch : Qua hoạn nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù] ”. Đây là câu thơ của Lỗ Tấn.[1] Các đồng chí Việt Nam tỏ ý vui mừng với việc tặng thơ này.

4 giờ chiều, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, Khoảng 6 giờ 10 đến nơi.

Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội VII

Năm 1991]

Ngày 29 tháng 6, Thứ Bảy.

Đại hội VII ĐCSVN bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng là Cố vấn. Tinh thần cơ bản của Đại hội VII ĐCSVN là kiên trì chủ nghĩa xã hội, cải cách kinh tế, chủ trương hữu nghị Việt Nam-Liên Xô, Việt Nam-Trung Quốc. Tinh thần này có lợi cho việc cải thiện quan hệ Trung-Việt.

Ngày 30 tháng 7, Thứ Ba, Bắc Kinh, trời hửng. 

Buổi chiều tôi hội kiến với Đại biểu đặc biệt Trung ương ĐCSVN Lê Đức Anh và Hồng Hà. Họ yêu cầu tổ chức cuộc gặp cấp cao Trung-Việt. Tôi nói là để cho nhân dân hai nước có chuẩn bị, để các nước khác trong ASEAN không đến nỗi có lo ngại, Trung Quốc-Việt Nam trước tiên nên tiến hành gặp gỡ cấp Thứ trưởng và Bộ trưởng Ngoại giao. Còn nói về gặp gỡ cấp cao, phía Trung Quốc cho rằng trên nguyên tắc không có vấn đề gì. Ngày mai Tổng Bí thư Giang Trạch Dân sẽ chính thức trả lời họ. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Trung-Việt, có thể trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, các đơn vị đối tác của hai bên sẽ bàn bạc giải quyết, Trung Quốc đều có thái độ tích cực đối với các vấn đề nối lại thương mại, bưu chính, hàng không, quyết toán ngân hàng, khôi phục giao thông trên bộ.

Thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam 

Ngày 5 tháng 11, Thứ Ba, trời hửng.

5 giờ chiều, đồng chí Giang Trạch Dân và tôi làm nghi thức đón Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc tại quảng trường Đông Môn bên ngoài Đại lễ đường Nhân dân. Tiếp đó chúng tôi hội đàm. Trên vấn đề Đài Loan, Đỗ Mười có thái độ rõ ràng. Đồng chí Giang Trạch Dân nói, sau khi mối quan hệ hai nước trải qua một khúc quanh co, hôm nay người lãnh đạo hai nước Trung-Việt có thể ngồi với nhau làm cuộc gặp gỡ cấp cao, điều này có ý nghĩa quan trọng. Đây là cuộc gặp kết thúc quá khứ, mở ra tương lai, đánh dấu sự bình thường hóa mối quan hệ hai nước, nó ắt sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển mối quan hệ giữa hai nước. Đỗ Mười nói, việc bình thường hóa mối quan hệ Việt-Trung phù hợp nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, cũng có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực này và thế giới. Tiếp đó vào tiệc chiêu đãi.

Ngày 6 tháng 11, Thứ Tư, trời hửng.

Buổi chiều, tôi hội đàm với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, không khí hội đàm rất tốt. Trước hết tôi nói, sáng nay Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Tổng Bí thư Đỗ Mười đã tiến hành cuộc hội đàm rất tốt, hai bên đã gắng sức trao đổi mọi ý kiến. Võ Văn Kiệt có thái độ đúng trên vấn đề Đài Loan. Trong hội đàm, tôi đã nêu ra các vấn đề nợ, biên giới, nạn dân v.v… Hai bên đồng ý sau này sẽ bàn lại. Về việc Việt Nam đề xuất vay tiền cho các dự án mới, tôi nhận lời trước hết sẽ khảo sát các dự án của Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, tôi nói hiệp định giải quyết chính trị toàn diện vấn đề Campuchia đã ký tại Paris, việc thi hành hiệp định này còn cần tới sự tiếp tục cố gắng của các bên.

Ngày 7 tháng 11, Thứ Năm, trời hửng.

Buổi chiều, hiệp định thương mại Trung-Việt và hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc ở biên giới hai nước được ký tại Nhà khách quốc tế ở Điếu Ngư Đài. Lãnh đạo Đảng và Chính phủ hai nước dự lễ ký kết. Sau đó tôi và đồng chí Giang Trạch Dân nói lời tạm biệt với Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi thăm Quảng Châu, Thâm Quyến.

—————

Bài viết trích từ nhật ký của cựu Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng. Nhật ký của Lý Bằng được in thành sách dưới tên “Hòa bình Phát triển Hợp tác — Lý Bằng ngoại sự nhật ký”, Tân Hoa xuất bản xã.

Nguồn: 李鹏日记披露1990年代中越关系正常化始末 2012年05月03日 人民网 李鹏

[1] Giang Trạch Dân nói câu thơ này là của Giang Vĩnh (1681-1762), nhà thơ đời Thanh. Giang Trạch Dân quê ở Giang Loan, Vụ Nguyên (nay thuộc Giang Tây), mà Giang Vĩnh là danh nhân lịch sử vùng này, chắc hẳn ông biết rõ về Giang Vĩnh. Như vậy có thể Lỗ Tấn đã mượn câu thơ ấy của Giang Vĩnh đưa vào bài thơ “Đề Tam Nghĩa Tháp ” Lỗ Tấn làm năm 1933. Ông Cổ Tiểu Tùng Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây cũng nói như Giang Trạch Dân (ND).