Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

FB Duan Dang: Chiến tranh Iran khi nào kết thúc, anh yêu?

- FB Duan Dang -

Chiến tranh Iran khi nào kết thúc, anh yêu?

Gì vậy mẹ, sao nay tự nhiên quan tâm nhân loại vậy? Anh yêu nữa, nghe ớn lạnh!

Ừ thì em hỏi thật mà. Đi uống trà sữa, tụi nó cũng bàn nữa.

Được rồi, chắc giá trà sữa cũng tăng nên lo lắng chứ gì? Ngồi xuống đây. Muốn biết khi nào nó kết thúc, trước tiên em phải hiểu vì sao nó bắt đầu.

Vì sao nó bắt đầu?

Từ nay hãy gọi bổn vương là thầy. Ok? Trình độ như em trong chuyện này thì phải đi từ lớp mẫu giáo mới được. Em có thích đô la Mỹ không?

Đm anh, đương nhiên là thích rồi!

Vì sao em thích đô la?

Vì nó có giá, nó ổn định, đổi lúc nào, ở đâu cũng được.

Đúng rồi! Hãy bắt đầu tuyển tập câu hỏi vì sao. Vì sao nó có giá, ổn định, đổi ở đâu cũng được?

Vì Mỹ mạnh?

Mỹ mạnh là một phần. Nhưng có một thứ cụ thể hơn, một thỏa thuận, một cái bẫy khéo léo được dựng lên từ năm 1974, mà cho đến tận hôm nay toàn bộ kinh tế thế giới vẫn đang chạy bên trong đó.

Bẫy gì?

Petrodollar.

Nghe giống tên trùm cuối vậy.

Vì nó là trùm cuối. Nhưng để hiểu petrodollar, thì phải biết chuyện xảy ra trước đó. Em biết trước 1971, đô la Mỹ được đảm bảo bằng cái gì không?

Không biết. Vàng hả?

Chính xác. Hệ thống Bretton Woods, từ sau Đệ nhị thế chiến quy định mỗi 35 đô la Mỹ có thể đổi lấy 1 ounce vàng. Nghĩa là đô la không phải tờ giấy, nó là vàng được ghi thành giấy cho dễ bỏ túi. Nó gọi là bản vị vàng. Đồng đô la được tin tưởng, vì Mỹ khi đó sở hữu đa số vàng trên thế giới.

Cũng ổn mà!

Ổn, cho đến khi Mỹ in quá nhiều tiền để chi trả cho chiến tranh Việt Nam, cho chương trình Đại xã hội, cho đủ thứ. Vàng trong kho không đủ đảm bảo nữa. Các nước châu Âu nghe được mùi bắt đầu mang đô la đến đổi vàng thật, khiến Tổng thống Nixon lúc bấy giờ hoảng. Và năm 1971, ông ta làm một việc mà cả thế giới không ngờ...

Làm gì?

Bãi bỏ bản vị vàng và thả nổi đô la. Tuyên bố thẳng đô la không còn đổi được vàng nữa. Xong. Đô la từ đó chỉ còn là tờ giấy xanh, lập tức mất giá.

Ủa, vậy sao cả thế giới không bỏ đô la luôn?

Câu hỏi hay, xứng đáng lên lớp một. Họ không thể bỏ được vì Nixon sau đó cử lão cáo già Kissinger, ngoại trưởng lúc đó, bay sang Ả Rập Xê Út, gặp hoàng gia và hai bên ký một loạt thỏa thuận, trong đó có một thỏa thuận bí mật đến tận năm 2016 mới được công khai.

Thỏa thuận gì?

Các thứ công khai thì nghe rất nhàm, hợp tác kinh tế, viện trợ kỹ thuật, trang thiết bị quân sự. Nhưng cái bí mật mới là thứ thay đổi thế giới, Ả Rập dùng toàn bộ doanh thu dầu để mua trái phiếu Mỹ. Đổi lại, Mỹ cam kết bảo kê cho vương triều Saudi. Các thỏa thuận tạo ra một hệ sinh thái mà sau này người ra gọi là petrodollar.

Và từ đó?

Từ đó, đô la không cần vàng nữa. Giá trị nội tại được thay thế bằng giá trị niềm tin. Thương mại dầu mỏ toàn cầu về cơ bản được định giá và thanh toán bằng đô la.

Bắt buộc phải vậy hay sao?

Không nhất thiết bắt buộc tuyệt đối, mà vì cả thế giới đều thấy tiện khi làm vậy. Muốn mua dầu thì cần đô la, muốn có đô la thì phải làm ăn với Mỹ, mua trái phiếu Mỹ, giữ dự trữ bằng đô la. Cả thế giới trở thành con tin của một tờ giấy xanh không có vàng đảm bảo, chỉ có dầu và súng.

Thật thiên tài!

Vì vậy, Kissinger là lão già điếm thúi bị cả thế giới nguyền rủa nhưng nước Mỹ thì vẫn tôn sùng. Nhưng đây mới là phần thú vị, để cái hệ thống này chạy được, Mỹ phải đảm bảo một điều kiện sống còn.

Điều kiện gì?

Vùng Vịnh phải luôn cần Mỹ, cần mãi mãi. Và muốn vậy...

Thì vùng Vịnh không bao giờ được ổn định hoàn toàn?

Đúng rồi. Phần này là thuyết âm mưu, muốn cho vùng Vịnh không ổn định thì phải duy trì hai thằng đầu gấu trong khu vực là Israel và Iran. Một thằng phải nuôi báo cô, một thằng lâu lâu phải chọc điên cho nó sủa.

Vậy chiến tranh bắt đầu vì vậy?

Chưa đâu, còn phải học qua lớp hai nữa. Cái hệ thống petrodollar đến lúc này đã bắt đầu lung lay, khi những thế lực như Trung Quốc bắt đầu hăm he. Các thỏa thuận hợp tác kinh tế công khai ký năm 1974 đó đã không được gia hạn vào tháng 6.2024, bản thân nó không phải thỏa thuận petrodollar, nhưng cái việc Ả Rập Xê Út chủ động không gia hạn lại là tín hiệu biểu tượng. Song song đó, Ả Rập cũng gia nhập BRICS và tham gia dự án mBridge của Trung Quốc, một hệ thống thanh toán quốc tế được thiết kế để bỏ qua hoàn toàn đô la. Trung Quốc bắt đầu thò bàn tay lông lá vào, làm trung gian để Iran và Ả Rập Xê Út bắt tay nhau vào tháng 3.2023.

Trung Quốc muốn Iran và Ả Rập hòa bình để Ả Rập không phụ thuộc Mỹ nữa?

Kế hoạch là như vậy. Nhưng để hiểu Trung Quốc đang chơi ván cờ gì, em cần biết BRICS là cái gì, và tại sao nó khiến Washington mất ngủ.

BRICS là gì?

Ban đầu chỉ là câu lạc bộ của mấy nước lớn không phải phương Tây, tập trung lại uống trà, nói phét, chửi Mỹ cho bỏ ghét. Họp hàng năm, ra tuyên bố chung, rồi ai về nhà nấy. Nhưng từ năm 2023, nó bắt đầu trở thành thứ gì đó có mối đe dọa hơn, một liên minh kinh tế đang cố tình xây dựng hạ tầng tài chính song song với Mỹ.

Song song nghĩa là sao?

Nghĩa là nếu Mỹ kiểm soát SWIFT, hệ thống điện báo tài chính mà mọi giao dịch ngân hàng quốc tế phải chạy qua, thì BRICS đang xây SWIFT của riêng họ. Và vũ khí sắc bén nhất trong tay họ lúc này là cái em vừa nghe tên: mBridge.

Cái mBridge đó là gì?

Hình dung thế này, hiện tại, khi Ả Rập Xê Út bán dầu cho Trung Quốc, tiền phải chạy qua hệ thống ngân hàng quốc tế mà Mỹ có thể theo dõi, phong tỏa, trừng phạt bất cứ lúc nào. mBridge là một nền tảng tiền kỹ thuật số, cho phép Trung Quốc, UAE, Thái Lan, Hồng Kông, và từ năm 2024 có thêm Ả Rập Xê Út, thanh toán trực tiếp với nhau bằng tiền tệ riêng, tức thì, không cần qua bất kỳ hệ thống nào của Mỹ. Không có SWIFT, không có đô la, không có gì để Mỹ kiểm soát. Trong khi đó, thị phần của đô la trong dự trữ ngoại tệ thế giới đã giảm dần.

Nghe ghê vậy. Đô la đang chết hả? Mỹ biết không?

Nó không chết, nhưng nó đang già đi. Mỹ đương nhiên biết rõ. Và Trump thì rất huỵch toẹt, ông dọa bất kỳ nước nào ủng hộ đồng tiền BRICS hoặc tìm cách thay thế đô la, sẽ bị áp thuế.

Vậy chiến tranh Iran liên quan gì?

Tất cả mọi thứ anh vừa nói, petrodollar, BRICS, mBridge, Ả Rập xoay trục đều đang đến hồi cao trào vào giai đoạn 2023-2024. Và Mỹ không thể để mất Ả Rập Xê Út. Không phải vì dầu nữa, vì Mỹ giờ dư dầu rồi. Mà vì nếu Ả Rập và các nước vùng Vịnh tách ra khỏi quỹ đạo của Mỹ thì toàn bộ cái lâu đài xây từ 1974 có nguy cơ bị sụp đổ, kéo theo đó là vị thế siêu cường đơn cực của Mỹ. Vì vậy, Mỹ không thể ngồi yên. Họ thúc đẩy loạt thỏa thuận Abraham để kéo các nước vùng Vịnh trở lại quỹ đạo của mình thông qua Israel. Viên ngọc trên chiếc vương miện của kế hoạch đó là hiệp ước bình thường hóa giữa Israel và Ả Rập Xê Út. Nhưng rồi...

Rồi sao?

Bùm, thỏa thuận bị đình trệ vì Hamas, theo thuyết âm mưu thì dưới sự chỉ đạo của Iran, tấn công Israel vào tháng 10.2023, mục đích là phá hoại nỗ lực hòa bình giữa Israel và các nước Ả Rập. Mọi chuyện bắt đầu kịch tính từ đây...

Nghe hấp dẫn quá, rồi sao nữa?

Thôi, đây là chuyện nghìn lẻ một đêm. Hầu hạ bổn vương cho cho tử tế rồi mới từ từ lên lớp được. Đêm mai, bổn vương sẽ giải thích vì sao đây không chỉ là cuộc chiến đơn thuần mà là cuộc chiến bảo vệ vị thế đồng đô la, là “khoảnh khắc Suez” của nước Mỹ và vì sao bọn châu Âu tụ thủ bàng quan, tọa sơn quan hổ đấu...

Đm anh. Lo mà đi kiếm đô la về cho bà chứ ở đó mà chém gió!

Lê Thọ Bình: UKRAINE - SAI LẦM CỦA MỘT SIÊU CƯỜNG VÀ HIỆU ỨNG DOMINO TOÀN CẦU

 - Lê Thọ Bình -

UKRAINE: SAI LẦM CỦA MỘT SIÊU CƯỜNG VÀ HIỆU ỨNG DOMINO TOÀN CẦU

Lịch sử nhiều lần cho thấy: những sai lầm chiến lược của một siêu cường không chỉ dừng lại ở biên giới của họ, mà có thể làm lệch cả trục vận hành của thế giới. Cuộc chiến Ukraine do Vladimir Putin phát động dường như đang trở thành một ví dụ điển hình cho quy luật đó.

Ban đầu, đây được nhìn nhận như một chiến dịch quân sự nhằm tái khẳng định ảnh hưởng của Nga tại không gian hậu Xô Viết. Nhưng khi cuộc chiến kéo dài ngoài dự tính, nó đã bào mòn nguồn lực, uy tín và quan trọng hơn, làm suy yếu vai trò “người bảo trợ” mà Moscow từng duy trì với các đồng minh.

Hiệu ứng domino bắt đầu lộ rõ.

Tại Trung Đông, sự sụp đổ của chính quyền Bashar al-Assad và việc ông phải sang Nga tị nạn không chỉ là một biến cố nội bộ Syria, mà còn là biểu tượng của một thực tế mới: Nga không còn đủ khả năng bảo vệ các đối tác chiến lược như trước. Điều tương tự cũng thể hiện trong cách Moscow phản ứng dè dặt trước các đòn tấn công nhằm vào Iran – một đồng minh quan trọng khác.

Ở Tây bán cầu, việc Nicolás Maduro bị bắt trong một chiến dịch do Mỹ dẫn dắt càng làm nổi bật khoảng trống quyền lực. Những khu vực từng được coi là “vành đai ảnh hưởng” của Nga nay trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Nhưng có lẽ bức tranh rõ nét nhất lại nằm ở Cuba, biểu tượng lâu đời của trục đối trọng với Mỹ. Quốc đảo này đang rơi vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, thiếu hụt năng lượng, lương thực và dòng tiền. Trong quá khứ, Nga (và trước đó là Liên Xô) từng đóng vai trò “phao cứu sinh”. Nhưng hiện tại, Moscow gần như không còn khả năng hỗ trợ đáng kể. Khi “người chống lưng” suy yếu, những điểm tựa ý thức hệ cũng trở nên lung lay.

Tác động không dừng ở các đồng minh trực tiếp của Nga, mà còn lan tới Trung Quốc. Bắc Kinh không tham chiến, nhưng chắc chắn không thể đứng ngoài hệ quả. Một nước Nga bị sa lầy khiến Trung Quốc mất đi một đối tác chiến lược đủ mạnh để cùng chia sẻ áp lực với phương Tây. Điều này buộc Bắc Kinh phải điều chỉnh: thận trọng hơn trong các bước đi địa chính trị, đồng thời gánh thêm sức ép trong cạnh tranh với Mỹ.

Ở chiều ngược lại, vai trò của Washington, đặc biệt dưới thời Donald Trump, trở nên quyết đoán hơn. Từ Mỹ Latinh đến Trung Đông, các hành động cứng rắn được triển khai trong một không gian chiến lược ít bị kiềm chế hơn bởi đối trọng Nga.

Tất cả những diễn biến đó đều có một điểm chung: chúng khó có thể xảy ra với cường độ như vậy nếu Nga không bị “ghim chân” tại Ukraine. Sự kháng cự của Kyiv, dưới sự lãnh đạo của Volodymyr Zelenskyy, đã biến một cuộc chiến dự kiến ngắn hạn thành một cuộc xung đột tiêu hao kéo dài, kéo theo hệ lụy vượt xa chiến trường.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận thận trọng. Những khủng hoảng tại Syria, Venezuela hay Cuba không chỉ bắt nguồn từ yếu tố bên ngoài, mà còn tích tụ từ các vấn đề nội tại: quản trị yếu kém, kinh tế trì trệ và bất ổn xã hội. Cuộc chiến Ukraine không phải là nguyên nhân duy nhất, nhưng là chất xúc tác mạnh mẽ.

Điều đáng chú ý hơn cả là bài học chiến lược: một quyết định sai lầm của một siêu cường có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền, làm xô lệch cán cân quyền lực và định hình lại trật tự thế giới.

Trong trường hợp này, Ukraine có thể không phải là trung tâm của thế giới – nhưng lại là nơi mà trật tự thế giới đang bị viết lại.

Đỗ Quang Ba: Cảm nhận của bản thân về người Nhật

- Đỗ Quang Ba -

Trong buổi thuyết trình, khi tôi đưa ra cảm nhận của bản thân về người Nhật, tôi có nói: 

Người Nhật khó hội nhập với người nước ngoài.

Mang tiếng là đất nước mở cửa nhưng lại nhiều rào cản. Rào cản ngôn ngữ (Tiếng Nhật) khó học; Văn hoá thì khép kín, tính cách “thảo mai” chỉ mang tính hình thức nên khó xây dựng quan hệ sâu thực chất. 

Tồn tại không ít người Nhật kỳ thị người nước ngoài, đặc biệt là đối với người nước ngoài ở những đất nước lạc hậu, nghèo hơn mình. 

VD: Hàng xóm nhà tôi người Nhật gây ầm ĩ thì chẳng ai nói gì, đến khi mấy anh em người Việt có hơi to tiếng một chút thì phàn nàn, gọi cảnh sát, kiện cáo….

Có người còn hỏi “Ở Việt Nam chúng mày có TV không?; “Ở Việt Nam có được ăn thịt thường xuyên không?” 

Nghe mà đã thấy có một sự khinh bỉ không hề nhẹ! 

Kiểu xem thường người khác và ích kỷ như vậy thì liệu có hoà hợp được không?! Có hội nhập được không?!

Tất nhiên là ở đâu cũng có người lọ người chai, nhưng tôi thấy đa số người Nhật là như vậy. 

Bản thân tôi thì không bị xem thường như vậy. Vì dù gì tôi cũng được xem như người có chút học thức, có chút thu nhập. Nhưng đại đa số các bạn trẻ Việt Nam sang đây du học và lao động là những gia đình ở nông thôn hoặc kinh tế khó khăn bên Việt Nam. 

Sự hiểu biết của những bạn đó có thể có những hạn chế, nhưng thay vì khinh biệt và gây khó dễ, tại sao không thông cảm và thương xót để cùng tạo dựng một mối quan hệ hoà đồng, yêu quý lẫn nhau?!  

Tôi ghét cái văn hoá “ỡm ờ” vòng vo tam quất của người Nhật. 

Thay vì nói KHÔNG thì nói “để tôi suy nghĩ”, “tôi sẽ xem xét”… 

Làm cho người nước ngoài cứ tưởng là vẫn còn cơ hội, hoặc cần phải chờ. 

Rất dễ gây ra hiểu nhầm. 

Người Nhật có tư duy bảo thủ. Nói hoa mỹ thì là tư duy truyền thống khiến chậm thay đổi hoặc bảo thủ trước những ý tưởng mới, ít sáng tạo. 

Trong khi là một đất nước phát triển về công nghệ khoa học nhưng lại rất bảo thủ trong đổi mới và chuyển đổi số. 

Nghe thì hơi lạ, nhưng hiện tại vẫn dùng máy Fax, con dấu, thủ tục giấy tờ thì phức tạp (nộp có bộ hồ sơ xin visa thôi mà cả tập giấy tờ). 

Tôi thấy Nhật Bản “Hi-tech” bên ngoài nhưng “Low-tech” bên trong. 

Ai nói người Nhật thân thiện, nhiệt tình..?! Cái đó chắc là chuyện xưa rồi! 

Văn hoá “không làm phiền” hoặc “sợ bị làm phiền” dẫn đến lạnh nhạt thậm chí là vô cảm (ngay cả trường hợp cần sự giúp đỡ, cần được cứu giúp nhưng vẫn làm ngơ). 

VD: Thấy người gặp nạn, nhìn thấy người bị đuối nước… vẫn tỉnh bơ đi thẳng, coi như không phải việc của mình hoặc sợ bị phiền phức. 

Thấy có đám cháy cũng không ai nhảy vào cứu người mà coi như đó là việc của đội cứu hoả. 

Cái văn hoá “không làm phiền” hoặc “sợ bị làm phiền” cũng đang dẫn đến tình trạng “Hikikomori” (ở yên trong phòng suốt không ra ngoài) trở nên trầm trọng. 

Người Nhật sợ làm phiền người khác nên cũng khó chia sẻ cảm xúc cá nhân. Con người trở nên cô độc và bức bí, nhiều người không có sự chia sẻ dẫn đến tự vẫn. 

Cần nói thêm về một nét văn hoá rất “độc đáo” của người Nhật, đó là “văn hoá ăn vạ”. 

Cái sự ăn vạ của người Nhật là số 2 thì không ai là số 1. Nhiều khi tôi cảm thấy phát sợ. 

VD: Thằng cu em tôi lái xe dừng đèn đỏ, đạp chân phanh không hết nên có chạm nhẹ vào đít xe của người Nhật đi phía trước. 

Chẳng gây ra trầy xước gì đáng kể. Chẳng gây ra va đập gì đáng kể. Thế mà bà ta gọi cả cảnh sát và bảo hiểm tới làm việc. Tưởng thế đã là xong. Vậy mà bà ta vào viện khám từ chân tới cổ, giống kiểu khám gói sức khoẻ tổng quát cao cấp. Và thế rồi tất cả tiền đi khám đó thằng em tôi phải đền trả hết. Còn hàng trăm hàng nghìn kiểu ăn vạ khác nữa. Làm thế liệu có quá đáng lắm không?, liệu còn có tình người hay không?… 

Trong khoảng 2 tiếng đồng hồ, những gì khen Nhật Bản tôi không nêu ra nữa. Nhưng tôi tập trung vào việc chê mà cá nhân tôi cảm nhận thấy! 

Và rồi, cuộc tranh luận nổ ra hết sức gay cấn. 

Nhưng được cái lúc ra về, rất đông người Nhật tiến lại gần tôi nói “おっしゃった通りです” (đúng như những gì anh nói!)

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

FB Nguyễn Thành Công: Họ không bắt đầu là kẻ thù. Họ từng đứng cùng một phía của lịch sử.

- Nguyễn Thành Công -

Họ không bắt đầu là kẻ thù.

Họ từng đứng cùng một phía của lịch sử.

Nếu quay lại trước năm 1979, bạn sẽ thấy một Trung Đông rất khác.

Không có Iran đối đầu Mỹ.

Không có Israel luôn sống trong áp lực từ Tehran.

Thay vào đó là một cấu trúc quyền lực khá rõ ràng – nơi Mỹ, Iran và Israel, mỗi bên một vai trò, nhưng cùng nằm trong một quỹ đạo.

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1953, với sự kiện 1953 Iranian coup d’état. Khi đó, chính phủ dân cử của Thủ tướng Mossadegh bị lật đổ với sự hậu thuẫn của CIA, và Mohammad Reza Pahlavi được đưa trở lại nắm quyền.

Từ đây, Iran trở thành một trong những đồng minh chiến lược quan trọng nhất của Mỹ tại Trung Đông trong suốt thời kỳ Cold War.

Đó không chỉ là quan hệ ngoại giao. Đó là sự gắn kết về lợi ích.

Iran mua lượng lớn vũ khí hiện đại từ Mỹ, trong đó có cả Grumman F-14 Tomcat – một biểu tượng cho mức độ tin cậy mà Washington dành cho Tehran thời điểm đó. Đổi lại, Mỹ có một “cột trụ” vững chắc để kiểm soát khu vực, ngăn ảnh hưởng từ Liên Xô lan xuống phía Nam.

Ở một góc khác, Israel cũng dần gắn chặt với Mỹ, đặc biệt sau Six-Day War. Khi Pháp rút hỗ trợ quân sự, Mỹ lập tức thay thế và trở thành nhà tài trợ lớn nhất, cả về vũ khí lẫn ngoại giao.

Nhưng điều thú vị nhất lại nằm ở mối quan hệ giữa Iran và Israel.

Một bên là quốc gia Hồi giáo.

Một bên là nhà nước Do Thái.

Họ không công khai là đồng minh. Nhưng họ hợp tác.

Iran là một trong những nước Hồi giáo đầu tiên công nhận Israel từ năm 1950. Trong nhiều năm, Tehran bán dầu cho Tel Aviv, đồng thời hai bên duy trì các kênh hợp tác tình báo và quân sự ở mức kín. Không ồn ào, nhưng đủ sâu để tạo thành một mối liên kết chiến lược.

Ba bên – Mỹ, Iran, Israel – không phải là một liên minh chính thức. Nhưng họ cùng đứng trên một mặt trận: kiềm chế Liên Xô, giữ ổn định trật tự khu vực theo hướng có lợi cho mình.

Mọi thứ vận hành khá trơn tru.

Cho đến khi năm 1979 xảy ra.

Iranian Revolution không chỉ là một cuộc thay đổi chính quyền. Nó là một cuộc thay đổi về bản chất của nhà nước Iran. Ruhollah Khomeini trở về, lật đổ chế độ quân chủ, và thiết lập một mô hình hoàn toàn mới: Cộng hòa Hồi giáo.

Từ đây, Iran không còn định nghĩa mình là một phần của trật tự cũ.

Họ định nghĩa mình bằng sự đối lập.

Mỹ bị gọi là “Quỷ dữ lớn”.

Israel bị gọi là “Quỷ dữ nhỏ”.

Không còn quan hệ ngoại giao. Không còn hợp tác. Không còn vùng xám.

Đỉnh điểm của sự đứt gãy là Iran hostage crisis, khi Đại sứ quán Mỹ tại Tehran bị chiếm giữ, 66 con tin bị giam suốt 444 ngày. Sự kiện này không chỉ là một cuộc khủng hoảng – nó là lời tuyên bố rằng một thời kỳ đã kết thúc.

Từ đó, Iran bắt đầu đi theo một con đường khác.

Không đối đầu trực diện theo kiểu truyền thống, mà mở rộng ảnh hưởng thông qua các lực lượng ủy nhiệm. Những cái tên như Hezbollah hay Hamas dần trở thành một phần trong chiến lược khu vực của Tehran. Ảnh hưởng lan ra Iraq, Syria, Yemen…

Ở phía bên kia, Mỹ và Israel không đứng yên.

Washington hỗ trợ Iraq trong cuộc chiến Iran–Iraq (1980–1988), áp đặt các lệnh cấm vận kéo dài nhiều thập kỷ, và rút khỏi thỏa thuận hạt nhân năm 2018. 

Năm 2020, tướng Qasem Soleimani – người đứng sau nhiều hoạt động mở rộng ảnh hưởng của Iran – bị ám sát.

(Ông không phải nguyên thủ quốc gia.

Không phải bộ trưởng quốc phòng.

Nhưng lại là người mà cả Trung Đông phải dè chừng.

Với vai trò chỉ huy lực lượng Quds, đơn vị tinh nhuệ chuyên hoạt động bên ngoài lãnh thổ Iran. 

Soleimani được xem là “kiến trúc sư” đứng sau mạng lưới ảnh hưởng của Tehran tại Iraq, Syria, Lebanon và xa hơn nữa.

Những cái tên như Hezbollah hay các lực lượng dân quân trong khu vực không chỉ là đồng minh, mà là một phần trong chiến lược được ông trực tiếp xây dựng và kết nối.

Ông không xuất hiện nhiều trước truyền thông.

Nhưng lại có mặt ở hầu hết các điểm nóng.

Và đó cũng là lý do vì sao, vào năm 2020, khi Mỹ quyết định không kích và kết thúc cuộc đời ông, đó không đơn thuần là việc loại bỏ một cá nhân.

Đó là một thông điệp.

Rằng cuộc đối đầu này không còn dừng ở cấp độ quốc gia, mà đã chạm tới những người đứng sau bàn cờ.)

Israel cũng tiến hành nhiều chiến dịch nhằm vào các cơ sở hạt nhân và kho vũ khí của Iran, đặc biệt gia tăng cường độ trong những năm gần đây.

Đến giai đoạn 2025–2026, căng thẳng không còn là “chiến tranh trong bóng tối” nữa, mà đã chuyển dần sang những màn đáp trả trực diện hơn, với sự can dự ngày càng rõ của Mỹ.

Trong bối cảnh đó, nhiều người vẫn thích gom tất cả vào một câu ngắn gọn: 

> VÌ DẦU MỎ !!?

Nghe có vẻ hợp lý. Nhưng thực tế lại là một cách hiểu… quá đơn giản.

Nếu chỉ là dầu, thì mọi thứ đã không kéo dài suốt hàng chục năm với mức độ căng thẳng như vậy.

Nếu chỉ là tài nguyên, thì đã không có những cuộc cách mạng, những hệ tư tưởng đối đầu, hay những mạng lưới quyền lực trải dài khắp Trung Đông.

Dầu mỏ có giá trị. Nhưng nó không đủ để giải thích vì sao một quốc gia sẵn sàng đối đầu trực diện với cả một trật tự thế giới.

Thứ đang vận hành cuộc chơi này nằm sâu hơn nhiều:

là cách mỗi bên nhìn thế giới,

là nỗi ám ảnh về an ninh và tồn tại,

là tham vọng ảnh hưởng vượt ra ngoài biên giới.

Và khi những thứ đó va chạm…

tài nguyên chỉ còn là phần nổi của tảng băng.

Nếu chỉ vì dầu, thì thời của Mohammad Reza Pahlavi, khi Iran là đồng minh thân cận, Mỹ đã có thể kiểm soát nguồn năng lượng này mà không cần bất kỳ xung đột nào. Thực tế, Mỹ ngày nay cũng không phụ thuộc lớn vào dầu Trung Đông như nhiều người nghĩ.

Dầu mỏ là một yếu tố quan trọng, nhưng nó không phải là NGÒI NỔ.

Thứ thực sự khiến mối quan hệ này rạn vỡ và kéo dài đến hôm nay nằm ở những tầng sâu hơn:

một cuộc cách mạng thay đổi ý thức hệ,

một nỗi ám ảnh về an ninh,

một tham vọng mở rộng ảnh hưởng,

và một trật tự khu vực mà không bên nào muốn nhường.

Điều khiến câu chuyện này trở nên đáng suy nghĩ không phải là họ đang xung đột.

Mà là họ từng hiểu nhau rất rõ.

Từng hợp tác.

Từng tin tưởng.

Và có lẽ chính vì từng đứng cùng một phía, nên khi quay lưng, họ biết chính xác phải đánh vào đâu để đối phương đau nhất.

Vậy nên câu hỏi cuối cùng không phải là “ai đúng, ai sai”.

Mà là:

Trong một thế giới nơi lợi ích luôn thay đổi…

liệu những kẻ đang đối đầu hôm nay có thực sự là kẻ thù vĩnh viễn, hay chỉ là những đồng minh cũ… chưa đến lúc bắt tay lại?

#lichsu #gocnhin #suthat #trungdong #iran

Đặng Văn Thuận: Vị tư lệnh bóng ma của Hezbollah (Bài 3)

Link: https://www.facebook.com/share/p/1GcEL3ZUeG/

Series kể về chiến dịch Mossad săn lùng Imad Mughniyeh – Vị tư lệnh bóng ma của Hezbollah 

(Bài 3 phần cuối của series)

Có một số chi tiết thú vị về hậu quả sau vụ ám sát. Chính phủ Syria đã cố che giấu vụ việc. Ban đầu họ nhanh chóng mang thi thể đi dọn sạch hiện trường. Họ không muốn thế giới biết rằng một vụ ám sát nhắm vào nhân vật đình đám như vậy đã xảy ra ngay tại thủ đô của họ ngay trước mắt họ. Đó là điều đáng xấu hổ. Nó cho thấy hệ thống an ninh của họ không tốt như họ vẫn tuyên bố.

Hezbollah tổ chức một đám tang lớn cho Mughniyeh. Hàng nghìn người tham dự. Lãnh đạo tổ chức Hassan Nasrallah phát biểu thề rằng Israel sẽ phải trả giá cho những gì họ đã làm. Ông ta tuyên bố rằng không có mục tiêu nào của Israel ở bất cứ đâu trên thế giới còn được xem là nằm ngoài tầm với. Một thời gian sau đó có những lo ngại thực sự về một cuộc tấn công trả đũa quy mô lớn.

Và thực tế đã có một số sự kiện trong những năm sau có thể liên quan. Năm 2012 một chiếc xe buýt chở khách du lịch Israel bị đánh bom ở Bulgaria giết chết năm người Israel và người lái xe Bulgaria. Tình báo Israel đổ lỗi cho Hezbollah và cho rằng đây có thể là hành động trả thù cho Mughniyeh. Năm 2013 một thành viên Hezbollah bị bắt ở Cyprus trong khi dường như đang lên kế hoạch tấn công người Israel. Còn có nhiều sự kiện khác một số được xác nhận một số chỉ là nghi vấn. Nhưng cuộc trả đũa dữ dội mà Hezbollah hứa hẹn thực ra chưa bao giờ thực sự xảy ra. Một số nhà phân tích cho rằng nguyên nhân là cái chết của Mughniyeh đã thực sự làm suy yếu năng lực hoạt động của tổ chức này. Hắn quan trọng đến vậy. Không có hắn họ đơn giản là không thể thực hiện những vụ tấn công tinh vi kiểu mà hắn từng nổi tiếng. Số khác cho rằng Hezbollah đã tính toán rằng cái giá của một cuộc trả đũa lớn sẽ quá cao. Israel rõ ràng sẵn sàng và có khả năng tấn công ngay cả những lãnh đạo được bảo vệ chặt chẽ nhất của họ. Một vụ tấn công lớn có thể kéo theo thêm nhiều vụ ám sát.

Hãy nói về ý nghĩa của chiến dịch này trong bức tranh rộng hơn về tình báo và chống khủng bố. Vụ giết Imad Mughniyeh được xem là một trong những vụ tiêu diệt có chủ đích thành công nhất trong lịch sử và nó minh chứng cho nhiều điều quan trọng.

Thứ nhất nó cho thấy không ai thực sự bất khả xâm phạm. Mughniyeh đã dành 25 năm qua mặt một số cơ quan tình báo quyền lực nhất Trái Đất. Hắn đã thay đổi khuôn mặt tránh xa công nghệ và ẩn náu ở những quốc gia được bảo vệ. Nhưng cuối cùng sự kiên nhẫn và bền bỉ đã chiến thắng. Những người săn lùng hắn không bao giờ bỏ cuộc tiếp tục thu thập thông tin tuyển mộ nguồn tin và chờ đợi thời cơ. Khi thời cơ đến họ đã sẵn sàng.

Thứ hai nó cho thấy giá trị của hợp tác tình báo. CIA và Mossad không phải lúc nào cũng phối hợp ăn ý. Đã có căng thẳng và thiếu tin tưởng trong nhiều năm. Nhưng khi họ kết hợp nguồn lực và năng lực để nhắm vào mục tiêu này họ đã đạt được điều mà riêng lẻ không bên nào có thể làm được. Công nghệ của Mỹ và năng lực triển khai thực địa của Israel bổ sung cho nhau hoàn hảo.

Thứ ba nó cho thấy tầm quan trọng bền vững của tình báo con người. Ngay cả trong kỷ nguyên số tất cả các vệ tinh và hệ thống chặn liên lạc trên thế giới vẫn không đủ để tìm ra Mughniyeh. Hắn quá thận trọng. Cuối cùng chính các nguồn tin con người những người trực tiếp trên thực địa có thể quan sát và báo cáo mới cung cấp thông tin then chốt. Đây là bài học mà các cơ quan tình báo tiếp tục học đi học lại. Công nghệ rất mạnh nhưng không thể thay thế con người ở đúng nơi đúng lúc.

Cái chết của Mughniyeh không phá hủy được Hezbollah. Tổ chức này tiếp tục hoạt động và trong nhiều khía cạnh tiếp tục lớn mạnh. Họ trở thành một nhân tố lớn trong cuộc nội chiến Syria gửi hàng nghìn chiến binh sang ủng hộ chế độ Assad. Họ tiếp tục tích lũy kho tên lửa và vũ khí. Họ vẫn là một lực lượng mạnh trong chính trường Lebanon. Nhưng họ chưa bao giờ thực sự thay thế được Mughniyeh. Một số nhà phân tích lập luận rằng tổ chức này trở nên thận trọng hơn sau khi hắn chết thiên về chính trị hơn ít sẵn sàng thực hiện những vụ tấn công khủng bố đình đám vốn là đặc sản của hắn. Liệu điều đó có phải vì vắng bóng hắn hay vì những nguyên nhân khác khó mà khẳng định. Nhưng đáng chú ý là hồ sơ hoạt động của Hezbollah đã thay đổi sau năm 2008.

Đối với Israel và Mỹ vụ giết Mughniyeh là một chiến thắng lớn nhưng nó không giải quyết được vấn đề Hezbollah. Tổ chức này vẫn là một trong những đối thủ đáng gờm nhất của Israel. Mối đe dọa mà họ tạo ra với kho tên lửa và vũ khí lực lượng chiến binh được rèn luyện tinh nhuệ và sự hậu thuẫn của Iran có thể lớn hơn bao giờ hết. Giết một người đàn ông dù quan trọng đến mức như Mughniyeh không thể thay đổi thực tế căn bản đó. Nhưng đồng thời việc loại hắn ra khỏi bàn cờ đã tạo ra tác động thực sự. Hắn là một nhân vật độc nhất vô nhị. Sự kết hợp giữa thiên tài chiến thuật bảo mật hoạt động và hiệu quả tàn nhẫn của hắn là điều hiếm có. Tìm người thay thế những phẩm chất đó không hề dễ. Và mỗi năm hắn không còn lên kế hoạch tấn công là một năm những vụ tấn công đó không xảy ra.

Còn có một chiều tâm lý cần xét đến. Trong nhiều thập kỷ Mughniyeh tồn tại như một bất khả xâm phạm. Hắn đã trở thành biểu tượng cho thấy khủng bố có thể thành công rằng một người đàn ông kiên quyết có thể thách thức những quốc gia quyền lực nhất thế giới. Cái chết của hắn đập tan huyền thoại đó. Nó gửi đi một thông điệp không chỉ đến Hezbollah mà đến các tổ chức khủng bố khắp nơi: không ai được an toàn.

Vụ giết Mughniyeh cũng làm dấy lên những câu hỏi về đạo đức và pháp lý vẫn còn gây tranh cãi đến nay. Những vụ tiêu diệt có chủ đích luôn gây tranh cãi. Những người phản đối cho rằng chúng là các vụ hành quyết ngoài tư pháp giết người mà không qua xét xử hay trình tự pháp lý. Họ lo ngại về sai lầm về những người vô tội bị giết. Họ đặt câu hỏi liệu những chiến dịch như vậy có thực sự làm giảm khủng bố hay chỉ tạo ra thêm kẻ thù.

Những người ủng hộ lập luận rằng trong các trường hợp như Mughniyeh thực thi pháp luật theo cách thông thường là điều không tưởng. Hắn đang hoạt động ở những quốc gia bảo vệ hắn. Không thể bắt hắn ra hầu tòa trong khi hắn vẫn đang tích cực lên kế hoạch và chỉ đạo các vụ tấn công giết người vô tội. Theo quan điểm này tiêu diệt có chủ đích là lựa chọn thực tế duy nhất. Những cuộc tranh luận này vẫn tiếp tục đến ngày nay. Nhưng trong trường hợp của Mughniyeh hầu hết các nhà quan sát kể cả những người thường phản đối các vụ tiêu diệt có chủ đích đều thừa nhận hắn là một mục tiêu chính đáng. Hồ sơ giết người hàng loạt của hắn đã được ghi chép đầy đủ. Vai trò của hắn trong các hoạt động khủng bố đang diễn ra là rõ ràng và mối đe dọa hắn tạo ra là thực sự và trực tiếp.

Vụ Mughniyeh cũng phù hợp với lịch sử dài hơn của Israel trong việc tiêu diệt có chủ đích những cá nhân bị xem là mối đe dọa. Từ các vụ ám sát lãnh đạo Palestine sau vụ thảm sát Olympics Munich năm 1972 đến những vụ giết hại gần đây hơn nhắm vào các nhà khoa học hạt nhân Iran Israel đã cho thấy sẵn sàng dùng vũ lực chết người chống lại kẻ thù ở bất cứ đâu. Chiến dịch Mughniyeh nhất quán với lịch sử đó nhưng cũng đại diện cho một điều mới: mức độ tinh vi kỹ thuật sự kiên nhẫn đòi hỏi và việc hợp tác với tình báo Mỹ đã làm cho đây là một chiến dịch đặc biệt phức tạp. Nó trở thành khuôn mẫu cho những chiến dịch về sau cho thấy điều gì là có thể khi các cơ quan tình báo đầu tư đủ nguồn lực vào một mục tiêu trong đủ thời gian dài.

Các cựu quan chức tình báo cũng đã lên tiếng về chiến dịch này dù thường là thận trọng. Một cựu sĩ quan CIA mô tả Mughniyeh là tên khủng bố có năng lực nhất chúng tôi từng đối mặt và gọi cái chết của hắn là một đòn mạnh giáng vào năng lực của Hezbollah. Một cựu quan chức Mossad được cho là đã nói rằng việc tìm ra Mughniyeh là cuộc truy lùng dài nhất và khó khăn nhất trong lịch sử của chúng tôi và việc loại bỏ hắn là khoảnh khắc công lý dành cho tất cả các nạn nhân của hắn.

Về phần mình Hezbollah tiếp tục tôn vinh Mughniyeh như một người tử đạo và anh hùng. Họ tổ chức lễ tưởng niệm hằng năm ngày hắn chết. Họ đặt tên đường phố và công trình theo tên hắn. Đối với họ hắn vẫn là biểu tượng kháng cự chống lại Israel và phương Tây. Hình ảnh hắn xuất hiện trên khắp các tấm áp phích và băng rôn ở những khu vực do tổ chức kiểm soát. Sự đối lập trong cách nhìn nhận này nhắc nhở chúng ta rằng khủng bố và chống khủng bố không chỉ là chuyện chiến dịch và tình báo. Đó còn là chuyện của những câu chuyện và biểu tượng. Mughniyeh là tên giết người hàng loạt với người này và là chiến sĩ tự do với người khác. Cái chết của hắn là công lý với người này và là hành động chiến tranh với người khác. Những góc nhìn khác nhau này có lẽ sẽ không bao giờ được dung hòa.

Vẫn còn những bí ẩn chưa có lời giải xung quanh chiến dịch này. Chẳng hạn mức độ tham gia thực sự của CIA vẫn còn gây tranh cãi. Một số tài liệu mô tả đây là sự hợp tác toàn diện với các sĩ quan Mỹ trực tiếp tham gia vào lên kế hoạch và thực thi. Số khác cho rằng vai trò của Mỹ khiêm tốn hơn có thể chỉ cung cấp công nghệ và thông tin tình báo còn để Mossad thực hiện chiến dịch thực tế. Còn có câu hỏi về việc quả bom được gài như thế nào. Tiếp cận được xe của Mughniyeh mà không bị phát hiện hẳn là cực kỳ khó. Hắn được bảo vệ bởi cả lực lượng an ninh Syria lẫn người của chính hắn. Vậy những kẻ gài bom đã tiếp cận chiếc xe bằng cách nào? Họ có người nội ứng không? Những chi tiết này chưa bao giờ được giải thích đầy đủ. Và câu hỏi về thời điểm: tại sao là tháng 2/2008? Cuộc truy lùng Mughniyeh đã kéo dài nhiều thập kỷ. Điều gì đã khiến đây là thời điểm thích hợp để ra tay? Có phải đơn giản là cơ hội cuối cùng đã đến? Hay còn có những nhân tố khác có thể liên quan đến tình hình chiến lược rộng hơn trong khu vực? Những bí ẩn này có thể sẽ không bao giờ được giải đáp hoàn toàn.

Sau khi Mughniyeh bị giết các nhà điều tra phát hiện ra một điều thú vị về cuộc sống của hắn trong những năm cuối. Bất chấp tất cả sự hoang mang và các biện pháp bảo mật hắn dường như đã sống một cuộc sống gần với bình thường hơn bất kỳ ai nghĩ. Hắn dành thời gian bên gia đình. Hắn tham dự các sự kiện xã hội. Hắn đang theo cách của mình cố gắng tận hưởng cuộc sống mà hắn đã gây dựng. Điều này nhân hóa hắn theo một cách kỳ lạ. Hắn không chỉ là một bộ óc khủng bố. Hắn còn là người cha người chồng một con người muốn gặp con cái và tham gia vào những dịp lễ lạt.

Tất nhiên điều đó không bào chữa được bất cứ điều gì hắn đã làm. Hàng trăm người hắn giết cũng có gia đình. Họ cũng muốn sống cuộc sống bình thường và hắn đã tước đoạt điều đó khỏi họ. Nhưng đây là lời nhắc nhở rằng ngay cả những người nguy hiểm nhất cũng vẫn là con người. Họ có động cơ khát vọng và điểm yếu.

Và đôi khi chính những tố chất rất con người đó lại dẫn đến sự sụp đổ của họ. Khát vọng của Mughniyeh muốn tham dự buổi lễ đó ở Damascus muốn hòa vào cộng đồng mà hắn đã góp phần xây dựng có lẽ chính là điều cuối cùng đã cho phép kẻ thù của hắn tìm ra hắn. Bóng ma đến cuối cùng muốn được là con người và chính điều đó đã giết hắn.

Câu chuyện này cũng đặt ra những câu hỏi thú vị về bản chất của công việc tình báo. Những người săn lùng Mughniyeh trong suốt những năm đó điều gì đã thôi thúc họ? Với một số người có lẽ đó là trách nhiệm nghề nghiệp. Đó là công việc của họ và họ muốn làm tốt. Với số khác có thể là cá nhân hơn. Có thể họ biết ai đó đã chết trong một trong các vụ tấn công của hắn. Có thể họ đơn giản không thể chịu đựng ý nghĩ người đàn ông này thoát khỏi tội ác của mình. Những người làm tình báo thường không nói về những động lực như vậy.

Nghề này có truyền thống giữ khoảng cách với cảm xúc. Bạn phải khách quan phân tích và tập trung vào nhiệm vụ chứ không phải cảm xúc. Nhưng tôi nghi ngờ rằng trong một vụ như Mughniyeh cảm xúc đã đóng vai trò lớn hơn bất kỳ ai sẵn sàng thừa nhận công khai. Làm sao có thể khác được? Đây là một người đàn ông đã giết bao nhiêu người đã gây ra bao nhiêu đau khổ. Muốn hắn chết không chỉ là chuyện chiến lược. Đó là bản năng con người.

Và giờ đây nhiều thập kỷ sau câu chuyện của Imad Mughniyeh đã trở thành một phần của lịch sử tình báo và chống khủng bố. Nó được nghiên cứu trong các khóa học và phân tích trong các báo cáo. Nó là đề tài của sách phim tài liệu và các bài báo. Bóng ma không thể bị tìm ra đã trở thành một trong những mục tiêu được ghi chép chi tiết nhất trong lịch sử gián điệp hiện đại.

Và đó là câu chuyện trên đây tôi đã kể lại.

#Mossad #truyentinhbao #spy #diepvien

Đặng Văn Thuận: Vị tư lệnh bóng ma của Hezbollah (Bài 2)

Link: https://www.facebook.com/share/p/1N3iLMZ9E3/

Series kể về chiến dịch Mossad săn lùng Imad Mughniyeh – Vị tư lệnh bóng ma của Hezbollah 

Bài 2 

Bài này nói về cách Mossad cuối cùng đã lần ra hắn.

Sau cuộc chiến năm 2006, tình báo Israel xác định việc tìm kiếm Mughniyeh là ưu tiên hàng đầu. Họ cử những người giỏi nhất vào vụ này. Họ huy động mọi nguồn lực có trong tay, nhưng họ cũng biết rằng họ cần sự trợ giúp. Người đàn ông này đã qua mặt họ quá lâu, họ không thể một mình đối phó. Đây là lúc người Mỹ vào cuộc.

CIA và Mossad có lịch sử hợp tác lâu dài nhưng mối quan hệ đó không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Mỗi bên đều có những điều giữ lại không chia sẻ với bên kia. Có những bất đồng về chiến thuật và ưu tiên. Nhưng khi nói đến Mughniyeh, cả hai cơ quan đều đồng ý rằng hắn phải bị tìm ra và phải bị ngăn chặn. Vì vậy, họ bắt đầu chia sẻ thông tin tình báo cởi mở hơn trước.

Vệ tinh Mỹ cung cấp hình ảnh trên không. Các nguồn tin trên thực địa của Israel cung cấp các mảnh ghép. Cùng nhau, họ bắt đầu tạo dựng một bức tranh đầy đủ hơn về nơi Mughniyeh có thể đang ẩn náu.

Nhưng đây là điều phức tạp khi săn lùng một người như Mughniyeh: không thể chỉ tìm ra hắn một lần rồi lập tức tấn công. Hắn di chuyển quá thường xuyên và quá thận trọng. Phải tìm ra một quy luật. Phải xác định được một thời điểm và địa điểm mà họ có thể chắc chắn hắn sẽ xuất hiện. Điều đó cực kỳ khó bởi, như đã nói, hắn gần như không bao giờ hành động theo thói quen cố định.

Bước đột phá đến từ một nguồn bất ngờ. Trong nhiều năm, Mossad đã tuyển mộ một mạng lưới điệp viên ở Lebanon và Syria. Hầu hết chỉ cung cấp thông tin tình báo cấp thấp, nhưng một trong số họ, danh tính chưa bao giờ được công khai, đã tiếp cận được vòng thân tín của Mughniyeh. Không đủ gần để biết hắn đang ở đâu vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào nhưng cũng vừa đủ để biết những sự kiện hắn có thể tham dự: các cuộc họp, những buổi tụ tập, lễ kỷ niệm, những nơi mà bóng ma có thể thoáng xuất hiện.

Vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008, nguồn tin này báo cáo rằng Mughniyeh đang dành nhiều thời gian hơn ở Damascus, Syria. Điều này đáng chú ý bởi Syria là nơi hắn cảm thấy an toàn. Khác với Lebanon, nơi có nhiều phe phái và những kẻ có thể là mật thám, Syria nằm trong tay chính quyền Assad vốn là đồng minh của Iran và Hezbollah. 

Damascus được xem là một thánh địa. Nhưng ở nơi mà bạn cảm thấy an toàn đôi khi lại khiến bạn trở nên bất cẩn, và đó chính xác là điều dường như đã xảy ra. Mughniyeh bắt đầu buông lơi cảnh giác. Hắn bắt đầu tham dự nhiều sự kiện hơn. Hắn bắt đầu gặp gỡ người khác ở những địa điểm không hoàn toàn an toàn. Và Mossad đang theo dõi.

Nhóm tình báo bắt đầu nhận ra điều gì đó: Mughniyeh có vẻ lui tới thường xuyên ở một khu phố sang trọng tại Damascus tên là Kafr Sousa. Đây là khu ngoại giao, đầy các đại sứ quán và văn phòng của nhiều tổ chức khác nhau, nơi mà những hoạt động bất thường có thể trông không đến nỗi khả nghi. Và có một tòa nhà cụ thể thu hút sự chú ý của họ: một trung tâm văn hóa Iran, nơi là điểm gặp gỡ của các quan chức Iran và Hezbollah. 

Họ bắt đầu theo dõi địa điểm này chặt chẽ, ghi lại ai ra vào, tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào của Mughniyeh. Nhưng họ vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn hắn ở đó. Họ cần thêm thứ gì đó.

Thứ đó đến dưới dạng một buổi lễ kỷ niệm. Đầu năm 2008, sẽ có một buổi tiếp tân đánh dấu ngày kỷ niệm Cách mạng Hồi giáo Iran. Đây là loại sự kiện mà các quan chức cấp cao của Hezbollah có thể tham dự, loại sự kiện mà Mughniyeh có thể cảm thấy thoải mái để lộ mặt, dù chỉ trong chốc lát. Các nhóm tình báo nỗ lực xác nhận liệu Mughniyeh có mặt ở đó hay không. 

Thông qua các nguồn tin, thông qua các liên lạc bị chặn, thông qua mọi phương tiện có trong tay, họ cố gắng xác định xem bóng ma có xuất hiện không. Và cuối cùng, họ có được xác nhận: Imad Mughniyeh dự kiến tham dự một buổi tụ họp tại Damascus vào ngày 12/2/2008.

Giờ đây họ đứng trước một quyết định khó khăn. Họ biết hắn sẽ ở Damascus, nhưng không biết chính xác hắn sẽ ở đâu vào từng thời điểm trong buổi tối hôm đó. Họ không thể đơn giản là ném bom cả khu phố. Họ cần sự chính xác tuyệt đối. Họ cần biết chính xác hắn sẽ ở đâu và vào lúc nào.

Đây là lúc những nghiệp vụ đặc biệt phát huy tác dụng. Các điệp viên Mossad, có thể với sự hỗ trợ của các đặc vụ địa phương, đã xác định được chiếc xe Mughniyeh sẽ sử dụng tối hôm đó. Một số báo cáo nói họ có một nguồn tin nội bộ cho biết chiếc xe đó. Số khác nói họ phát hiện ra qua giám sát. Dù thế nào, họ đã biết đó là chiếc xe nào.

Họ quyết định dùng bom xe. Rủi ro cao: Damascus là thành phố thủ đô đầy nhân viên an ninh. Đưa bom vào thành phố, đặt bom và kích nổ mà không bị bắt là điều cực kỳ khó, nhưng đây cũng là cách đáng tin cậy nhất để tiêu diệt Mughniyeh.

Một cuộc tấn công bằng drone hay tên lửa có thể trượt mục tiêu, có thể gây thương vong ngoài ý muốn quá nhiều, hoặc có thể bị quy trách nhiệm công khai cho Israel, dẫn đến những hệ quả ngoại giao. Một quả bom xe, ngược lại, có thể đổ lỗi cho bất kỳ kẻ thù nào trong số vô số kẻ thù mà Mughniyeh đã gây ra trong suốt cuộc đời.

Theo nhiều báo cáo, chiến dịch này là nỗ lực phối hợp giữa CIA và Mossad. Người Mỹ được cho là đã cung cấp công nghệ chế tạo quả bom: một thiết bị tinh vi được thiết kế để kích nổ từ xa với độ chính xác tuyệt đối. Phía Israel đảm nhận năng lực triển khai trực tiếp tại Damascus.

Quả bom được giấu trong lốp dự phòng gắn ở phía sau một chiếc Mitsubishi Pajero mà tình báo xác định là xe Mughniyeh sẽ dùng. Một số tài liệu nói thiết bị được cài đặt từ vài tuần trước. Số khác nói chỉ ngay trước đêm hành động. Dù thế nào, thiết bị đã ở vị trí và sẵn sàng.

Đêm ngày 12/2/2008, Mughniyeh tham dự buổi lễ tại Damascus. Theo các báo cáo, hắn có vẻ vui vẻ. Hắn đã sống sót quá lâu. Hắn đã qua mặt người Mỹ. Hắn đã qua mặt người Israel. Hắn đã trở thành huyền thoại trong thế giới của mình. Sau tất cả những năm tháng đó, có lẽ hắn đã cho phép bản thân tin rằng mình bất khả xâm phạm.

Khoảng 10 giờ 30 tối hôm đó, Mughniyeh rời buổi tụ họp và đi bộ ra xe. Hắn bước vào chiếc Pajero và chuẩn bị lái đi. Đường phố yên tĩnh. Chỉ là một đêm bình thường ở Damascus. Chỉ là một đêm nữa của một bóng ma từng thoát chết bao nhiêu lần. Rồi quả bom phát nổ.

Vụ nổ dữ dội nhưng có kiểm soát. Nó phá hủy chiếc xe và giết chết Mughniyeh ngay tại chỗ. Hắn không kịp biết chuyện gì đã xảy ra. Sau 25 năm qua mặt những cơ quan tình báo hàng đầu thế giới, sau bao lần thay đổi khuôn mặt, không dùng điện thoại, không ngủ hai đêm ở cùng một chỗ, sau tất cả những điều đó, bóng ma đã chết.

Tin tức về cái chết của hắn gây chấn động khắp Trung Đông và vang xa hơn thế. Hezbollah ban đầu từ chối xác nhận. Rồi khi họ xác nhận, họ tuyên bố trả thù. Các quan chức Iran gọi đây là hành động chiến tranh. Syria mở điều tra nhưng không bao giờ xác định được kẻ thủ ác. Còn ở Israel và Mỹ, có một sự thỏa mãn thầm lặng rằng một trong những người đàn ông nguy hiểm nhất trên Trái Đất cuối cùng đã không còn nữa.

Nhưng chính xác chiến dịch đó đã diễn ra như thế nào? Hãy phân tích kỹ hơn vì các khía cạnh kỹ thuật rất đáng chú ý.

Quả bom được cho là được cài bên trong lốp dự phòng gắn ở phía sau chiếc Pajero, kiểu thiết kế phổ biến trên loại xe đó, nơi lốp dự phòng lộ ra bên ngoài và dễ tiếp cận. Bằng cách giấu chất nổ bên trong phần đệm của lốp, những kẻ gài bom đảm bảo sức nổ sẽ hướng về phía trước vào ghế lái. Cơ chế kích nổ dường như dựa trên liên lạc vệ tinh.

Một người điều hành, có thể cách đó hàng nghìn kilômet, đang theo dõi hiện trường thông qua hình thức giám sát nào đó. Khi Mughniyeh bước vào xe và được xác nhận đang ngồi sau vô lăng, tín hiệu được gửi đi. Bom phát nổ chỉ trong vài giây.

Mức độ chính xác này đòi hỏi năng lực tình báo và kỹ thuật đặc biệt. Phải biết xe nào hắn sẽ dùng. Phải tiếp cận được chiếc xe đó. Phải cài bom mà không bị phát hiện. Phải có hệ thống giám sát thời gian thực tại hiện trường. Và phải có hệ thống liên lạc có thể gửi tín hiệu kích nổ tức thì. Chỉ một số ít cơ quan tình báo trên thế giới có thể thực hiện điều như vậy. Và vào đêm hôm đó, họ đã làm được.

(Còn tiếp)

#Mossad #truyentinhbao #spy #diepvien

Đặng Văn Thuận: Vị tư lệnh bóng ma của Hezbollah (Bài 1)

Link: https://www.facebook.com/share/p/1CRzTggd8G/

Series kể về chiến dịch Mossad săn lùng Imad Mughniyeh – Vị tư lệnh bóng ma của Hezbollah 

Tháng 3 này khá bận nên mình chỉ công bố ít ít thông tin về Mossad và các chiến dịch của họ mà bên mình đã giải mật.

Bài 1.

Trong hơn hai thập kỷ, gã này đã giết nhiều người Mỹ hơn bất kỳ ai trước ngày 11/9. CIA muốn hắn chết. FBI đưa hắn vào danh sách truy nã gắt gao nhất. Sáu cơ quan tình báo khác nhau trên thế giới đồng thời săn lùng hắn. Vậy mà không ai tìm ra hắn. Hắn thay đổi khuôn mặt bằng phẫu thuật thẩm mỹ. Hắn không bao giờ dùng điện thoại. Hắn không bao giờ ngủ hai đêm liên tiếp ở cùng một chỗ. Ngay cả gia đình hắn cũng không còn nhận ra mặt hắn nữa. Người Mỹ gọi hắn là tên khủng bố nguy hiểm nhất trên Trái Đất. Israel thì gọi hắn bằng cái tên khác: mục tiêu số một. Và trong suốt 25 năm, những điệp viên giỏi nhất thế giới không thể tiếp cận hắn dù chỉ một lần.

Rồi một đêm ở Damascus, Syria, năm 2008, bóng ma ấy cuối cùng đã mắc sai lầm, và Mossad đang theo dõi. Đây là câu chuyện về cuộc truy lùng dài nhất trong lịch sử tình báo Israel – cuộc săn đuổi Imad Mughniyeh, người mà họ gọi là bóng ma.

Vậy chính xác hắn là ai, và tại sao có quá nhiều quốc gia muốn hắn chết? Để hiểu điều đó, ta phải quay trở lại từ đầu. Trở về thời điểm Hezbollah còn đang trong giai đoạn hình thành, và một chàng trai trẻ đến từ miền nam Lebanon chuẩn bị trở thành một trong những tên khủng bố đáng sợ nhất mà thế giới từng biết đến.

Imad Mughniyeh sinh năm 1962 tại một ngôi làng nhỏ tên là Tayr Dibba ở miền nam Lebanon. Tuổi thơ của hắn không có gì đặc biệt. Hắn lớn lên trong một gia đình bình thường, đi học và trông chẳng khác gì những đứa trẻ khác trong làng. Nhưng Lebanon những năm 1960–1970 không phải là nơi bình yên. Đất nước bị chia rẽ. Các nhóm tôn giáo khác nhau tranh giành quyền lực. Người tị nạn Palestine lập các trại tị nạn khắp nơi và căng thẳng leo thang từng ngày.

Khi Mughniyeh còn là thiếu niên, hắn đã làm một việc sẽ thay đổi cuộc đời hắn mãi mãi: gia nhập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO). Đây là nhóm vũ trang do Yasser Arafat lãnh đạo, đang chiến đấu chống lại Israel. Mughniyeh trở thành thành viên của đơn vị tinh nhuệ mang tên Lực lượng 17 – thực chất là đội bảo vệ cá nhân của Arafat, nhưng họ làm nhiều hơn thế nhiều. Họ thực hiện các chiến dịch, thu thập thông tin tình báo và huấn luyện chiến đấu. Và Mughniyeh rất giỏi. Thực sự rất giỏi. Hắn học cách lên kế hoạch tấn công. Hắn học cách tránh bị phát hiện. Hắn học cách vận chuyển vũ khí và con người mà không bị bắt. Nhưng quan trọng nhất, hắn học cách biến mất.

Ngay từ hồi đó, khi còn là một thanh niên đầu đôi mươi, Mughniyeh đã hiểu một điều mà hầu hết mọi người không nhận ra: trong thế giới của điệp viên và cơ quan tình báo, kỹ năng có giá trị nhất không phải là biết cách chiến đấu, mà là biết cách trở nên vô hình.

Năm 1982, Israel xâm lược Lebanon. PLO bị đẩy ra khỏi đất nước và Arafat buộc phải bỏ chạy. Nhưng Mughniyeh không đi. Hắn ở lại, và từ thời điểm đó, mọi thứ đối với hắn đều thay đổi.

Cũng vào thời gian này, một tổ chức mới đang hình thành ở Lebanon. Iran vừa trải qua cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979 và muốn trải rộng ảnh hưởng khắp Trung Đông. Họ cử các thành viên của Vệ binh Cách mạng sang Lebanon để huấn luyện các chiến binh và xây dựng một tổ chức mới. Tổ chức đó về sau sẽ trở thành Hezbollah.

Mughniyeh nhận ra cơ hội. Hắn rời những gì còn lại của PLO và gia nhập nhóm mới này. Nhưng hắn không phải là một thành viên bình thường. Nhờ quá trình rèn luyện, kỹ năng và trí tuệ của mình, hắn nhanh chóng leo lên các vị trí cao hơn. Chỉ trong vài năm, hắn đã điều hành các chiến dịch quân sự của tổ chức, lên kế hoạch tấn công và xây dựng bộ máy an ninh. Nhưng điều thú vị nằm ở đây: khác với các thủ lĩnh khủng bố khác thích được chú ý, Mughniyeh làm điều ngược lại. Hắn xóa sổ bản thân. Hắn ngừng xuất hiện ở nơi công cộng, không cho ai chụp ảnh, thường xuyên thay đổi ngoại hình và xây dựng nhiều lớp bảo mật xung quanh bản thân. Hầu hết các thành viên Hezbollah thậm chí không biết hắn là ai. Họ biết có ai đó ở cấp cao nhất đang đưa ra quyết định, lập kế hoạch và điều hành mọi thứ, nhưng họ chưa bao giờ thấy mặt hắn, không biết tên hắn. Hắn là một bóng ma, ngay cả trong chính tổ chức của mình.

Bây giờ hãy nói về những gì Mughniyeh thực sự đã làm, vì danh sách các vụ tấn công được cho là do hắn chủ mưu thực sự gây kinh hoàng. Tháng 4/1983, một chiếc xe tải chở đầy thuốc nổ lao thẳng vào Đại sứ quán Mỹ ở Beirut, Lebanon. Vụ nổ giết chết 63 người, trong đó có 17 người Mỹ. Trong số những người thiệt mạng có nhiều sĩ quan CIA, bao gồm toàn bộ nhóm CIA phụ trách Trung Đông. Đây là một trong những vụ tấn công chết chóc nhất nhằm vào giới ngoại giao Mỹ trong lịch sử, và các cơ quan tình báo tin rằng Mughniyeh đã lên kế hoạch cho nó.

Nhưng hắn chưa dừng lại. Sáu tháng sau, tháng 10/1983, hai chiếc xe tải chở chất nổ tấn công mục tiêu gần như cùng lúc. Một chiếc lao vào doanh trại nơi lính thủy quân lục chiến Mỹ đang ngủ. Chiếc kia tấn công doanh trại quân đội Pháp gần đó. Vụ tấn công nhằm vào người Mỹ giết chết 241 quân nhân. Vụ tấn công nhằm vào người Pháp giết chết 58 binh sĩ. Đó là ngày có số thủy quân lục chiến Mỹ thiệt mạng nhiều nhất trong một ngày kể từ Trận Iwo Jima trong Thế chiến thứ hai. Hãy ngẫm kỹ điều đó. Một người đã lên kế hoạch một vụ tấn công giết chết nhiều lính thủy quân lục chiến trong một ngày hơn bất kỳ trận đánh nào kể từ Thế chiến thứ hai.

Sau các vụ đánh bom đó, lính Mỹ và Pháp rút khỏi Lebanon. Và Mughniyeh đã đạt được điều hắn muốn. Hắn đã chứng minh rằng khủng bố có thể phát huy tác dụng. Hắn đã chỉ ra rằng có thể tấn công những quốc gia quyền lực nhất thế giới và khiến họ tháo chạy. Điều này khiến hắn trở nên cực kỳ nguy hiểm, đồng thời biến hắn thành anh hùng đối với những người muốn chống lại phương Tây.

Nhưng Mughniyeh vẫn chưa thỏa mãn. Trong những năm tiếp theo, hắn trở thành kẻ chủ mưu đằng sau hàng loạt vụ bắt cóc con tin ở Lebanon. Người phương Tây bị bắt ngay trên đường phố và bị giam giữ nhiều năm. Nhà báo, giáo viên, doanh nhân, thậm chí cả trưởng trạm CIA tại Beirut – William Buckley – cũng bị bắt cóc. Buckley bị tra tấn hơn một năm trước khi chết trong khi bị giam giữ. Mughniyeh đứng sau tất cả những vụ đó.

Hắn cũng trở thành người thiết kế các vụ cướp máy bay. Năm 1985, chuyến bay TWA 847 bị không tặc trên đường từ Athens đến Rome. Máy bay bị buộc hạ cánh xuống Beirut, nơi hành khách bị giữ làm con tin 17 ngày. Trong thời gian đó, những tên không tặc đã đánh đập và giết chết Robert Stetham, một thợ lặn của Hải quân Mỹ đang có mặt trên chuyến bay. Chúng vứt thi thể anh ta xuống đường băng trước sự chứng kiến kinh hoàng của cả thế giới. Và người đã lên kế hoạch cho tất cả những điều đó chính là Imad Mughniyeh.

Đến giữa những năm 1980, Mughniyeh đã trở thành tên tội phạm bị truy nã số một thế giới. CIA đang tuyệt vọng tìm kiếm hắn. FBI đưa hắn vào danh sách đen. Tình báo Pháp muốn trả thù cho những người lính của họ. Và Israel, vốn đang dõi theo Hezbollah ngày một lớn mạnh, biết rằng người đàn ông này là chìa khóa của tất cả. Nhưng không ai tìm ra hắn. Và càng tìm kiếm, hắn càng như tan biến vào không khí.

#Mossad #truyentinhbao #spy #diepvien