Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

Edwards Deming

 Edwards Deming

Copy từ Facebook Lê Công Thành

1. Có một nghịch lý mà lịch sử quản trị hiếm khi kể thẳng: người đàn ông làm thay đổi nền công nghiệp Nhật Bản không phải người Nhật, và đất nước sinh ra ông thì bịt tai trước ông suốt bốn mươi năm.

W. Edwards Deming đặt chân đến Tokyo năm 1950 với danh xưng nhà thống kê. Ông rời khỏi đó với vầng hào quang của một vị thánh - ít nhất trong mắt những nhà sản xuất từng đứng giữa đống gạch vụn còn ngổn ngang sau bom đạn. Nước Mỹ thời ấy say men chiến thắng, và kẻ say thì không bao giờ tự hỏi mình đang lảo đảo ở đâu. Nhật Bản, ngược lại, sở hữu thứ mà mọi đế chế đều đánh rơi khi leo tới đỉnh: sự khao khát tuyệt vọng của kẻ tay trắng.

Deming dạy họ một điều tưởng hiển nhiên nhưng đủ sức lật úp mọi giáo điều quản trị đương thời - rằng chất lượng không phải cái đích cắm sẵn ở cuối đường, mà là chính bước chân đang đi. Ngừng cải tiến tức là bắt đầu mục ruỗng. Không có đường thẳng nào nối từ thành công hôm nay đến thành công ngày mai. Giữa hai điểm ấy là một khoảng trống mà chỉ sự khiêm nhường mới lấp nổi.

Câu chuyện ấy, thoạt nghe, thuộc về thế kỷ hai mươi. Nhưng cái bóng của nó dài hơn người ta tưởng. Bởi ở bất kỳ thời đại nào, luôn có một nước Mỹ đang ngủ quên trên chiến thắng cũ, và luôn có một Nhật Bản đang mở mắt giữa đống tro.

2. Thí nghiệm nổi tiếng nhất của Deming không cần phòng lab, không cần thiết bị đắt tiền. Chỉ cần một thùng hạt, một cái khay, và sáu người công nhân sẵn sàng làm theo lệnh.

Thùng hạt trộn lẫn trắng và đỏ. Trắng là sản phẩm đạt, đỏ là phế phẩm. Nhiệm vụ: múc sao cho chỉ được hạt trắng. Họ cố gắng. Họ tập trung. Họ tỉ mỉ đến từng cái nhúng tay. Nhưng lần nào khay cũng lấm tấm đỏ. Không phải vì họ vụng về. Mà vì trong thùng vốn dĩ đã có hạt đỏ - và không ai, dù tận tụy đến mấy, có thể vắt ra kết quả tinh khiết từ một hệ thống đã nhiễm bẩn sẵn.

Thí nghiệm ấy là bản cáo trạng lặng lẽ nhất từng được viết cho toàn bộ triết lý quản trị dựa trên thưởng-phạt cá nhân. Deming không cần lên giọng. Ông chỉ cần để những hạt đỏ tự nói thay mình.

Khi nhân viên mắc sai lầm, phản xạ đầu tiên của người quản lý gần như luôn là: “Tại sao anh làm ẩu?” Deming đề nghị một câu hỏi khác - khó chịu hơn, nhưng trung thực hơn: “Quy trình nào đã cho phép sai sót này lọt lưới?” Câu hỏi thứ nhất truy tìm thủ phạm. Câu hỏi thứ hai truy tìm nguyên nhân gốc. Khoảng cách giữa hai câu hỏi ấy chính là khoảng cách giữa một tổ chức chỉ biết chỉ tay và một tổ chức biết cúi xuống.

Một người giỏi đặt vào hệ thống tồi sẽ thua hệ thống. Mỗi lần. Không ngoại lệ. Muốn thay đổi kết quả, hãy thôi sửa con người - hãy sửa cái thùng chứa hạt đỏ.

3. Deming không phát minh ra chu trình Plan–Do–Check–Act. Ông thừa hưởng nó từ Shewhart, người thầy mà ông nhắc đến với sự kính trọng hiếm thấy ở một trí thức tầm cỡ. Nhưng Deming là người biến nó từ công cụ thống kê thành triết lý sống - một vòng xoáy không có điểm dừng, nơi mỗi chu kỳ khép lại đồng thời mở ra chu kỳ tiếp theo ở tầng cao hơn.

Bản chất của PDCA không nằm ở bốn chữ cái. Nó nằm ở hình tròn - ở cái ý tưởng giản dị mà tàn nhẫn rằng không có trạng thái hoàn thành, chỉ có trạng thái đang-trở-thành. Người Nhật gọi tinh thần ấy là Kaizen: không cần bước nhảy vọt, chỉ cần hôm nay nhỉnh hơn hôm qua một chút. Cái một-chút ấy, tích lũy qua đủ tháng năm, tạo ra khoảng cách mà không cú nhảy đơn lẻ nào bắt kịp.

Đây là phương pháp khoa học khoác áo doanh nhân. Giả thuyết - thí nghiệm - quan sát - điều chỉnh. Không hào nhoáng, không kịch tính, không thiên tài cô đơn bừng tỉnh giữa đêm khuya. Chỉ là kỷ luật của việc thử-và-sai có chủ đích, lặp đi lặp lại, kiên nhẫn đến nhàm chán, cho tới khi sự tầm thường rút lui nhường chỗ cho sự xuất sắc.

Agile, Scrum, “fail fast, learn fast” - những thuật ngữ thời thượng của thung lũng Silicon - đều là cháu chắt của vòng tròn ấy, dù phần lớn người sử dụng chúng không biết ông tổ mình là ai. Và cái mà Deming sợ nhất không phải sai lầm - sai lầm còn sửa được. Ông sợ sự trì trệ - cái trạng thái mà một tổ chức ngừng đặt câu hỏi với chính mình, rồi bắt đầu nhầm tưởng thành công hôm nay là giấy bảo hành cho ngày mai.

4. Trong mười bốn nguyên tắc quản trị của Deming, điểm thứ tám ít mang tính kỹ thuật nhất, nhưng lại khiến những người ngồi trên ghế quyền lực mất ngủ nhiều nhất: Xua đuổi nỗi sợ hãi.

Ba chữ ấy giản dị đến mức dễ bị lướt qua. Nhưng Deming hiểu rằng nỗi sợ là thứ thuốc độc không màu không mùi, ngấm vào mạch máu tổ chức từ bên trong. Nơi nào nhân viên sợ sếp, sợ sai, sợ cái bóng của phong bì sa thải - nơi ấy sai sót không biến mất, chúng chỉ được chôn sâu hơn. Số liệu không phản ánh thực tế mà phản ánh điều cấp trên muốn nghe. Báo cáo trở thành tiểu thuyết. Và cả tổ chức bắt đầu vận hành trên một phiên bản hư cấu của chính mình.

Chất lượng thật - không phải thứ được in trên băng rôn hay đóng khung treo tường - chỉ nảy sinh trong không khí tin cậy. Deming ghê tởm những khẩu hiệu rỗng tuếch kiểu “Không sai sót” treo khắp nhà máy, trong khi công nhân không có đủ công cụ lẫn quyền hạn để biến lời hứa ấy thành hiện thực. Khẩu hiệu không tạo ra chất lượng. Khẩu hiệu tạo ra áp lực. Và áp lực không có lối thoát thì chỉ đẻ ra hai thứ: sự dối trá, hoặc sự cay đắng.

Cụm từ “an toàn tâm lý” mà giới công nghệ hôm nay rao giảng như thể vừa khai quật được châu Mỹ, thực ra đã được Deming đào móng từ nửa thế kỷ trước. Một tổ chức thông minh không phải nơi mọi người luôn đúng - mà là nơi ai đó dám nói rằng có điều gì đang sai, và không phải trả giá cho sự thành thật ấy.

5. Deming qua đời năm 1993, ở tuổi chín mươi ba, bàn tay vẫn còn đang viết. Tại Nhật Bản, giải thưởng quản trị danh giá nhất mang tên ông. Chân dung ông treo trang trọng giữa trụ sở Toyota - một người Mỹ, giữa lòng biểu tượng công nghiệp Nhật Bản, như một minh chứng lặng lẽ rằng tri thức không mang quốc tịch, và lòng biết ơn đôi khi bền bỉ hơn cả thù hận mà chiến tranh để lại.

Di sản ông để lại không phải một bộ công cụ mà ai cũng có thể bê nguyên về áp dụng. Đó là một lối nghĩ - rằng quản trị đích thực không dựa trên kiểm soát, mà dựa trên tri thức và sự tôn trọng con người. Rằng chất lượng không phải chuyện của phòng kiểm định ở cuối dây chuyền. Nó được tạo ra - hoặc bị bóp chết - ngay tại phòng giám đốc.

Nhưng di sản nào cũng mang trong nó một vết nứt chưa ai hàn kín, và di sản Deming cũng vậy. Ông cực lực phản đối hạn ngạch, phản đối việc cai trị bằng con số, phản đối KPI - bởi tin rằng chúng biến người lao động thành kẻ gian lận bất đắc dĩ, hy sinh chất lượng để chạy theo chỉ tiêu. Nhưng thế giới ông rời đi lại là thế giới vận hành gần như hoàn toàn bằng những con số ấy. “Cái gì đo được thì quản được” - câu thần chú đối nghịch đã thắng trên chiến trường thực hành, dù chưa hẳn đã thắng trên mặt trận chân lý.

Có lẽ đó là câu hỏi mà Deming cố tình bỏ lại cho hậu thế: Liệu có thể xây dựng một tổ chức không dựa trên nỗi sợ, không dựa trên hạn ngạch, không dựa trên dây cương kiểm soát - mà vẫn đứng vững giữa thế giới nơi mọi thứ đều bị cân đo đong đếm? Hay chính cái không-thể-trả-lời của câu hỏi ấy mới là thứ giữ cho vòng tròn PDCA không bao giờ ngừng quay?

Đỗ Cao Sang: TÊN NGƯỜI - NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ

TÊN NGƯỜI - NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ

- Đỗ Cao Sang -

Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào chỉ ra cụ thể về lịch sử hình thành tên người. Mỗi chúng ta đều có một cái tên nhưng rất nhiều người không hiểu rõ ràng về ý nghĩa của chính tên mình, đặc biệt là người phương Tây. Môn nghiên cứu tên người đã được hình thành với tên gọi là danh tính học giúp ta phần nào hiểu những điều bí ẩn và ý nghĩa của các tên gọi.

Theo từ nguyên học, các tên dùng trên thế giới hiện nay đều có nghĩa. Điều này chứng tỏ rằng các tên gọi đều có gốc gác là những từ vựng bình thường. 

Mặc dù các nền văn hoá đều có việc đặt tên nhưng phong tục dùng tên của các dân tộc trên thế giới rất khác nhau. Có những nơi, như  ở Indonesia, tên chỉ là dấu hiệu để phân biệt người này với người khác. Trái lại, ở Trung Quốc, tập quán đặt tên và văn hoá tên gọi vô cùng phức tạp. Ngoài tên gọi thông thường, đàn ông Trung Quốc thường có nhiều tên gọi được đặt theo từng giai đoạn tuổi tác khác nhau. Đặt tên cho con cái ở TQ nói riêng và các nước ảnh hưởng văn hoá TQ ở Châu á nói chung đã trở thành vấn đề trọng đại trong mỗi gia đình.

Mục đích đầu tiên của tên là phân biệt các cá nhân với nhau.

Hãy tưởng tượng thế giới này sẽ ra sao khi người ta không có tên gọi riêng. Thay vì nói : “David là bác sỹ”, người ta phải làm cả một câu: “Người đàn ông cao, đẹp trai sống ở đường Regent là bác sỹ”.

Ngoài ra, với từng dân tộc khác nhau, tên người còn có những ý nghĩa khác. ở Trung quốc, tên người phản ánh cả dòng họ, chi phái trong một tổ tông. Với một số dân tộc Châu Phi, tên người còn cho phép phân biệt thứ tự ai ra đời trước trong một gia đình chung cha mẹ.

Hãy xem cấu trúc tên của người Châu Âu.

Mỗi người sau khi sinh ra sẽ được đặt cho một cái tên, gọi là given name. Trái với family name, given name không kế thừa qua các đời. Tại Châu Âu và Bắc Mỹ, given name được đặt trước family name (hay còn gọi là surname hay last name). Người ta gọi tên đó là first name hay fore-name. Đôi khi họ còn gọi là Christian name.

Với những nước nói tiếng Anh, tên lót, hay tên giữa (middle name) được coi là một given name thứ hai. Hầu như ai cũng có ít nhất một middle name. Khi phải diễn tả tên đầy đủ, người ta đặt nó vào giữa first name và family name (hay last name/surname). Một số người viết middle name của họ ở dang viế tắt trước first name như George W. Bush. Đôi khi người ta còn thích dùng middle name hơn cả first name. cho nên khi giao tiếp, chúng ta cần chú ý đến sở thích dùng tên của người đối thoại với mình để có cách gọi phù hợp. Hãy hỏi rõ, bạn muốn tôi gọi bạn là gì nhỉ, trước mỗi cuộc gặp gỡ. 

Vậy family name (còn gọi là surname) là gì?

Là tên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không nên nhầm lẫn mà so sánh nó với cái gọi là họ ở văn hoá gọi tên Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam. Vì người con gái Phương Tây có thể thay đổi familyname của mình bằng family name của chồng.

ở Châu Âu, familyname được sử dụng từ thế kỷ 12th, nhưng vài thế kỷ sau nó mới trở nên phổ biến. Mục đích nguyên thuỷ, ban đầu của surname là phân biệt rõ hơn người này với người khác.

Số là vào thế kỷ 13th ,có đến một phần ba số đàn ông Châu Âu dùng firstname là John, William, Richard. Để phân biệt các cá thể khác nhau, người ta phải nói thêm cho rõ. Chẳng hạn, có nhiều William khác nhau, thì họ nói “William con trai ông John (the son of John)” hay tiếng Anh viết kiểu sở hữu cách là “John’s son”. Thế là dần dần cái tên Johnson ra đời. Tương tự như vậy với Anderson, Thomson, Marison, Edison, Harrison,…Ngoài ra người ta còn có thể nói “William làm đầu bếp (Cook)” hay “William có mái tóc nâu (Brown)”… Thế là tên Cook, Browm… cũng ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Các surname từ đó được truyền từ đời cha mẹ sang đời con cái.

Có thể chia surname theo bốn nhóm sau:

- Surname có gốc gác từ given name như Johnson, Williams, và Thomson…Phần lớn chúng được đặt theo tên cha nhưng đôi khi cũng có trường hợp lấy theo tên mẹ.

- Surname có gốc gác nghề nghiệp như Smith (thợ rèn), Clark(người thu ngân), Wright (nhà viết kịch).

- Surname có gốc tích là địa danh cư trú của người mang tên đó như Hill, Woods, Ford....

- Surname có gốc gác là tên riêng (nickname) như Longman, Young, White,...

Như đã nói, tên người đều có ý nghĩa và nguồn gốc cả. Có những cái tên có ý nghĩa rõ ràng như Thanh, Nguyệt, Phong. Có nhiều tên được đặt theo kỷ niệm hoặc sự kiện riêng có của mỗi người như Trường Sơn, Hoà Bình...Nhưng điều khó khăn chính là truy nguyên và tìm ý nghĩa tên của người phương Tây.

Sau đây là những ví dụ điển hình nhất:

Madona có gốc Latin, nghĩa là “my lady”.

Mark theo tên của thánh Mark, gốc là Marcus, tác giả của bản sách phúc âm thứ hai trong kinh Tân ước. Ông là thánh bảo hộ của thành Venice. Hai người có tên này nổi tiếng trong lịch sử là Mark Antony (người tình của Cleopatra) trong lịch sử La mã cổ đại và nhà văn Mark Twain.

George có gốc ngôn ngữ Latin chắp từ hai từ có nghĩa là earth và work.

Vì chúa Jesus tên thật là Christ nên ở Châu âu rất nhiều người cũng đặt tên theo vị thánh này. Tương tự như Maria, Joseph…. Cũng phải nói thêm rằng ở văn hoá phương Tây, người ta yêu kính ai thì đặt tên con mình theo người đấy. Điều này khác hẳn ở VN và TQ, người ta sợ nhất là đặt trùng tên với người hơn tuổi hoặc đã mất trong dòng họ, coi đó là việc bất kính. Đặt tên “phạm huý” nghĩa là có tên giống vua chúa, hay hoàng thân quốc thích… đều mang tội nặng, thậm chí có thể bị xử chết.

Nguồn gốc việc ra đặt tên cho trẻ em cũng lắm điều thú vị. Với quốc gia nào cũng vậy, người ta thường đặt tên con mình theo những người nổi tiếng, những chính trị gia, những ngôi sao màn bạc tên tuổi. đương nhiên ai cũng tránh tên những nhân vật phản diện nổi lên trong phim ảnh, sách báo mà xã hội đều biết. Chẳng hạn, ở VN, chẳng ai đặt tên con mình là Sở vì chẳng ai yêu thích gì tên lật lọng Sở Khanh trong truyện Kiều. Hay là gần đây, người ta cũng ít đặt tên con mình là Chí, chỉ vì sợ cái tên Chí Phèo ám ảnh. Còn ở nước Anh, hiện nay có đến năm ngàn trẻ em tên là Backham (tên của cầu thủ người Anh hào hoa, tài ba bậc nhất giới thể thao).

Ngoài ra, mỗi dân tộc đều trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm riêng và yếu tố này cũng ảnh hưởng nhiều đến việc đặt tên người, người ta có thể nghiên cứu lịch sử các dân tộc qua tên người. Với nước Nga, cái tên Cachiusa rất phổ biến sau đại chiến thế giới lần thứ 2 vì trong thời kỳ này, bài hát về cô gái Cachiusa nào đó đã gây xúc động không ít tâm hồn người dân Nga. Nó nổi tiếng và phổ biến chẳng khác nào “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của VN vậy. Trước những năm 80, thời kỳ mưa bom bão đạn, nhạt muối vơi cơm, rất nhiều trẻ em VN mang tên Trường Sơn, Chiến Thắng, Nhất Thống, Hoà Bình… Những cái tên chứa đầy dấu ấn, kỷ niệm, phản ánh ước mơ, khát khao cháy bỏng của nhân dân ta mà đến bây giờ còn gây không ít xúc động.

Như vậy tìm hiểu về tên người, chúng ta hiểu được rằng bất cứ cái tên nào đều có và nên có một ý nghĩa nhất định. Bởi thế ngày nay, người ta không còn cẩu thả khi gọi tên con cái như trước nữa. Nắm được tâm lý này, đã xuất hàng chục trang website và đầu sách nói về cách đặt tên con cho các bậc cha mẹ tham khảo. Còn với các nhà sử học, nghiên cứu tên người cũng trợ giúp không nhỏ trong lĩnh vực riêng của họ. Tuy nhiên, trên bình diện ngôn ngữ, vấn đề tên người vẫn còn nhiều điều cần được tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể, khoa học hơn.  

Hanoi, ngày 07 tháng 2 năm 2018

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

“GDP đẹp mới đáng sợ”?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa là cháu ruột cố TBT Nguyễn Văn Linh viết gì?

 (Bài viết bên dưới)

1️⃣ Vì sao ông ấy nói “GDP đẹp mới đáng sợ”?

Hiểu đơn giản thế này:

GDP giống như doanh thu của một gia đình.

Tháng này nhà bạn thu về 50 triệu → nghe rất đã.

Nhưng nếu 30 triệu là tiền vay ngân hàng,

10 triệu là bán đất,

10 triệu còn lại mới là tiền làm ra thật…

Thì tháng đó có thật sự “giàu lên” không?

👉 GDP chỉ là tổng tiền làm ra. 👉 Nó không nói:

Dân có khá hơn không?

Thu nhập có đủ sống không?

Tương lai có vững không?

Tăng nhanh mà không biết tăng từ đâu → mới nguy hiểm.

---

2️⃣ Tăng trưởng có 2 kiểu

Kiểu 1: Tăng vì giỏi hơn

Làm ra sản phẩm giá trị cao hơn.

Công nghệ tốt hơn.

Doanh nghiệp Việt mạnh hơn.

Lao động Việt làm ra nhiều tiền hơn.

➡️ Đây là tăng trưởng khỏe.

---

Kiểu 2: Tăng vì “bơm mạnh”

Vay thêm tiền.

Xây dựng nhiều.

Đẩy đầu tư công.

Bất động sản sôi lên.

FDI vào nhiều.

➡️ GDP vẫn tăng. ➡️ Nhưng giống như tăng cân vì mỡ, không phải cơ.

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa đang cảnh báo:

> Việt Nam có nguy cơ tăng theo kiểu thứ hai nhiều hơn kiểu thứ nhất.

---

3️⃣ FDI: Món quà hay thuốc gây nghiện?

FDI là gì?

Là công ty nước ngoài vào mở nhà máy.

Ưu điểm:

Có việc làm.

Có xuất khẩu.

Có GDP.

Nhược điểm:

Công nghệ lõi họ giữ.

Linh kiện họ nhập.

Lợi nhuận lớn họ mang về.

Ta chủ yếu lắp ráp.

Hiểu đơn giản:

Ta cho thuê đất + lao động

Họ giữ phần thông minh nhất.

Nếu làm vậy 5–10 năm để học hỏi → tốt.

Nếu làm vậy 30 năm → dễ lệ thuộc.

---

4️⃣ Nguy hiểm nhất: Trung lưu không lớn lên

Một đất nước muốn bền phải có tầng lớp trung lưu mạnh.

Trung lưu là ai?

Người có thu nhập đủ sống,

Có tích lũy,

Có tiền cho con học,

Có khả năng tiêu dùng.

Nếu:

Nhà cửa tăng giá nhanh hơn lương,

Giáo dục – y tế đắt đỏ,

Làm việc nhiều nhưng không để dành được…

Thì dù GDP tăng, người dân vẫn thấy “không khá lên”.

Khi đó:

Niềm tin giảm.

Xã hội dễ phân hóa.

---

5️⃣ Đầu tư công và bất động sản: Con dao hai lưỡi

Xây đường, cầu, sân bay → rất cần.

Nhưng nếu:

Đầu tư công là động cơ chính để giữ tăng trưởng,

Bất động sản trở thành kênh hút tiền lớn nhất,

Thì sẽ giống như:

Cả xã hội bận… xây nhà để bán cho nhau.

GDP vẫn đẹp. Nhưng năng suất không tăng bao nhiêu.

---

6️⃣ Dân số vàng sắp hết

Việt Nam đang ở cuối giai đoạn:

Người trẻ nhiều,

Người già ít.

10–15 năm nữa:

Người già tăng mạnh.

Người lao động giảm.

Chi phí an sinh tăng.

Nếu chưa kịp giàu trước khi già → rất khó sửa.

Đây là phần đáng lo nhất.

---

7️⃣ Bẫy thu nhập trung bình là cái bẫy… êm

Nguy hiểm ở chỗ:

Kinh tế vẫn tăng.

Vẫn có thành tích.

Không ai thấy khủng hoảng.

Nhưng mãi không vượt được ngưỡng thu nhập cao.

Nhiều nước mắc ở đây 30–40 năm.

Không sụp đổ. Nhưng cũng không bứt phá.

---

8️⃣ Hàn Quốc – Nhật – Singapore khác ở đâu?

Không phải vì họ may mắn.

Họ:

Chọn ít ngành, làm cực sâu.

Bảo vệ doanh nghiệp nội địa khi cần.

Đầu tư cực mạnh vào kỹ sư, công nghệ lõi.

Kỷ luật rất cao.

Còn nếu:

Cái gì cũng làm,

Cái gì cũng muốn nhanh,

Ngắn hạn được ưu tiên hơn dài hạn,

Thì rất khó thành cường quốc công nghệ.

---

9️⃣ Câu hỏi lớn ông ấy muốn đặt ra

Tăng trưởng nhanh có đáng sợ không?

Không.

Nhưng:

Tăng nhanh mà sai cấu trúc → đáng sợ.

Vì:

Nợ tăng.

Trung lưu yếu.

Công nghệ lõi thiếu.

Dân số già hóa.

Phụ thuộc bên ngoài.

Lúc đó muốn sửa → không còn thời gian.

---

Tóm lại cực ngắn

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa không nói Việt Nam xấu.

Ông nói:

> Nếu chỉ nhìn GDP đẹp mà tự ru ngủ, ta có thể bỏ lỡ giai đoạn quyết định nhất của lịch sử.

Tăng trưởng không phải mục tiêu. Giàu thực sự mới là mục tiêu.

---

Nếu nói bằng một câu rất bình dân:

> Tăng nhanh không đáng sợ.

Sợ nhất là chạy rất nhanh… nhưng chạy sai hướng.

---

Còn anh, nếu phải chọn một câu trả lời ngắn:

Sợ tăng chậm?

Hay sợ tăng nhanh nhưng sai cách?

Tôi muốn nghe góc nhìn của anh, vì anh đang nhìn câu chuyện này không chỉ ở kinh tế mà ở cấu trúc quyền lực và thiết kế quốc gia.

FBK. Sang Đỗ: ĐÓI !

Ngày 21 tháng 9 năm 2000, tôi xa nhà làm tân binh ở Trung đoàn 36, sư 308, Lương Sơn, Hòa Bình. 

Trước thời điểm này, tôi hiếm khi được ăn no. Không biết nhà quí vị ra sao, còn nhà tôi đói ăn đến tận đầu những năm 2000. 

Ở bộ đội, chế độ ăn lúc ấy là 5600 đồng/ngày. Chúng tôi ăn gạo xay đen cũ tồn kho. Không có nước mắm, bọn nhà bếp pha nước lã với muối rồi đổ bột màu vào. Thứ ấy gọi là nước mặn. Bọn nhà bếp là lính nghĩa vụ già. Bỏn tuy tăm tối nhưng đẻ ra được từ "nước mặn" thật chuẩn. Thịt mỡ họ thái lát mỏng bay như tờ giấy, nhỏ như sợi mứt dừa. 

Với nhận thức trẻ con, khi ấy tôi thực sự biết ơn Đảng và quân đội ghê gớm. Quả thực nếu ở nhà, tôi không được ăn như thế. Tuy suất của tôi không đủ no nhưng tôi có thể nhặt thức ăn thừa từ đĩa người khác bù vào. Hoặc có đứa nhà giàu nào bỏ cơm thì mừng vô cùng. Tôi nhớ lại cảm giác lúc đó. Thừa biết mọi người khinh bỉ, tôi vẫn phải làm như một bản năng không cưỡng được. 

Có lần tôi lỡ tay gắp miếng thịt mỡ của một người quê Thanh Hóa khi nó chưa ăn xong. Nó mắng tôi xối xả. Tôi bật khóc. Cảm giác tủi nhục khi ấy mạnh đến mức sau 22 năm, tôi vẫn nhớ y nguyên. Nhớ chỗ ngồi, nhớ áo nó mặc, nhớ áo tôi mặc, nhớ cả cái bàn ăn hôm ấy. 

Trong phân tâm học, người ta khẳng định bản năng luôn thắng mọi ý thức và luân lí nếu nó bị đặt lên bàn cân. Cái đó đúng. 

Nếu quí vị chưa bao giờ từ bỏ liêm sỉ để nhặt thức ăn thừa của bọn nhà giàu thì chứng tỏ quí vị chưa bị bỏ đói đến mức kịch kim. Bản năng thú tính của quí vị chưa thức dậy vì cái đói của quí vị chưa chạm đáy. 

Các cụ sắp xếp rất chuẩn: ĂN, NGỦ, TÌNH DỤC, BÀI TIẾT là bốn bản năng luôn thắng mọi luân lí và đạo đức xã hội. Nếu quí vị còn giữ luân lí và liêm sỉ nghĩa là việc ăn, ngủ, tình dục, bài tiết của quí vị chưa bị lên dây căng thẳng nhất. 

Nếu quan sát kĩ, quí vị sẽ nhận ra không có cách nào có thể khắc chế buồn ngủ nếu thực sự quí vị đói ngủ. Cấu xé, tạt nước, hít thở cũng chỉ chống chế tạm thời.  

Còn phụ nữ lâu ngày không gặp, chúng tôi tưởng bất cứ ai cũng là hoa hậu. Nhìn thấy bóng cô nào lấp ló thì cả bọn hô hào ra ngó như lần đầu nhìn thấy đĩa bay. 

Tôi cũng nhận ra, khi bạn đói, ai đưa cho bạn cái bánh mì thì chắc chắn bạn sẽ bán mạng cho người ấy. Ngày đó, khác những thanh niên đô thị, bọn quê mùa đói khát chúng tôi đã thực lòng yêu Đảng và quân đội. 

CÁI ĐÓI TRONG VĂN HỌC 

Nói đến đói trong văn học thì tên tuổi đầu tiên phải kể là Nam Cao. 

Trong truyện ngắn Xú-via-nơ (Souvenir), ông tả một cô gái quê bán khăn thêu của người yêu tặng để mua bánh đúc ăn do quá thèm. Trong Một Bữa No, ông tả một bà cụ đi xin ăn ở cửa nhà giàu bằng cách giả vờ lên thăm con cháu gái. Cháu của bà, cái Gái, đang làm con sen (đứa ở) cho bà phó Thụ. Mẹ nó bỏ con theo giai. Bố nó chết. Bà nuôi nó cực khổ. Lên 10 tuổi, bà không nuôi nổi nữa nên cho nó đi ở đợ. Bà cụ ngã bệnh. Tiền hết. Sức cùng lực kiệt. Phải nghĩ kế kiếm một bữa no. 

Dù bị bà phó Thụ miệt thị và mắng tới tấp, bà lão vẫn ngồi vét ăn đến hạt cơm cuối cùng. Cái Gái xấu hổ quá nhưng nó cũng thương bà nó. Chính bà cụ cũng xấu hổ và biết người ta khinh mình. Nhưng bản năng vẫn sai khiến bà ngồi ăn. Sau bữa đó, bà cụ ngã bệnh và chết vì rối loạn tiêu hóa. 

Đọc Nam Cao, chỉ có những ai phải chịu đói cùng cực mới hiểu được. Nam Cao cho thấy con người ta bị đẩy vào đáy cùng, bản năng thú vật sẽ trỗi dậy, luân lí và liêm sỉ sẽ phải chào thua.

Đa số các cặp đôi bỏ nhau ngày xưa là do đói quá. Mỗi người một ngả để tìm thức ăn. Trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, và trong truyện Cu Lặc của Tô Hoài đã kể khá rõ. Hết cơm thì chia tay, no bụng lại tìm về với nhau. Luân lí đạo đức chỉ là muỗi. 

DÂN VIỆT TA CÒN ĐÓI KHÔNG

Hiện một số dân ta hết đói ăn nhưng vẫn đói một thứ mới khó chữa hơn. 

Đói SỰ SÁNG SUỐT!

Ngập trong bể thông tin mênh mông, một số đồng bào ta mất đi khoảng lặng cần thiết để nhìn lại bản thân và tìm về sự sáng suốt cần có. Bệnh đói này khó chữa gấp vạn lần đói ăn. 

Chừng nào những diễn giả nhăng cuội còn hoành hành bá đạo thì dân ta còn đói hiểu biết. Thu nhập của diễn giả lởm và thầy bà láo tỉ lệ thuận với sự MÙ MỜ của dân Việt. 

Ví dụ nhỏ, tôi biết rõ không ai thèm đọc Tony Robin ở Úc và Mỹ. Nói gì đến học trò của hắn ở Việt Nam. Một số dân Việt u mê đến mức bỏ ra cả trăm triệu để nghe tay này và học trò của gã khoác lác tào lao. Sợ.

Vậy mới nói một số dân ta bây giờ không đói ăn mà đói sự sáng suốt vậy.

Umberto Eco: Khi mọi ý kiến ​​đều được coi là có giá trị ngang nhau, sự thật trở nên không bắt buộc!

Năm 2015, một triết gia người Ý 83 tuổi đã nhìn vào internet và nói điều gì đó khiến mọi người phẫn nộ – và khó chịu.

Một thập kỷ sau, chúng ta đang sống trong chính lời cảnh báo của ông.

Tên ông là Umberto Eco. Ông là một học giả thời trung cổ, một nhà ký hiệu học nghiên cứu về cách thức tạo ra ý nghĩa, và là tác giả của cuốn sách "Cái tên của bông hồng". Trong nhiều thập kỷ, ông đã phân tích cách các ý tưởng lan truyền, cách các biểu tượng định hình niềm tin và cách các xã hội quyết định điều gì là đúng.

Vì vậy, khi mạng xã hội bắt đầu định hình lại đời sống công cộng, Eco đã chú ý rất kỹ.

Vào tháng 6 năm 2015, trong một cuộc phỏng vấn ở Ý, ông được hỏi internet đã thay đổi điều gì. Câu trả lời của ông rất thẳng thắn. Ông nói, mạng xã hội trao cho "hàng loạt những kẻ ngốc" quyền lên tiếng, trong khi trước đây họ chỉ nói chuyện ở quán bar sau khi uống một ly rượu vang, nơi họ nhanh chóng bị phớt lờ. Giờ đây, ông cảnh báo, họ được trao cùng một diễn đàn với các chuyên gia. Ông gọi đó là một cuộc xâm lược.

Phản ứng dữ dội diễn ra ngay lập tức. Mọi người buộc tội ông là người theo chủ nghĩa tinh hoa. Là người ghét dân chủ. Là người muốn bịt miệng những tiếng nói bình thường.

Phản ứng đó hoàn toàn hiểu sai ý của ông ấy.

Eco không phản đối tự do ngôn luận. Ông ấy đang cảnh báo về những gì xảy ra khi chuyên môn bị tước bỏ giá trị — khi nhiều năm nghiên cứu, bằng chứng và trách nhiệm được coi ngang bằng với sự bốc đồng, ý kiến ​​hoặc sự tự tin.

Trong nhiều thế kỷ, diễn ngôn công cộng có những bộ lọc. Biên tập viên. Đánh giá ngang hàng. Kiểm tra sự thật. Những hệ thống này có nhiều thiếu sót và thường loại trừ những tiếng nói xứng đáng được lắng nghe. Nhưng chúng đảm bảo trách nhiệm. Các tuyên bố cần có bằng chứng. Sai sót sẽ dẫn đến hậu quả.

Internet đã xóa bỏ những rào cản đó chỉ sau một đêm.

Đột nhiên, bất cứ ai cũng có thể tiếp cận hàng triệu người. Một nhà khoa học được đào tạo bài bản và một người theo thuyết âm mưu xuất hiện cạnh nhau, được định dạng giống hệt nhau, được khuếch đại bởi cùng một thuật toán. Các nền tảng thưởng cho sự tương tác, chứ không phải tính chính xác. Sự phẫn nộ lan truyền nhanh hơn sự tinh tế. Sự chắc chắn luôn thắng sự thận trọng.

Eco đã chứng kiến ​​các cộng đồng tin Trái đất phẳng tổ chức trực tuyến. Khi những huyền thoại về vắc-xin lan truyền nhanh hơn hướng dẫn về sức khỏe cộng đồng. Khi những thực tế chính trị phức tạp được thay thế bằng các khẩu hiệu lan truyền nhanh chóng. Khi cụm từ “Tôi đã tự mình nghiên cứu” trở thành sự thay thế cho kiến ​​thức.

Ông hiểu rõ mối nguy hiểm: cho mọi người lên tiếng không có nghĩa là coi mọi tiếng nói đều có giá trị như nhau.

Một bài đăng trên mạng xã hội của người thân về y học không tương đương với nghiên cứu được bình duyệt. Ý kiến ​​của một người có tầm ảnh hưởng về khoa học khí hậu không có trọng lượng như dữ liệu của hàng thập kỷ. Nhưng trên mạng, những sự khác biệt này biến mất.

Sự tự tin trông giống như uy tín. Số lượng trông giống như sự thật.

Eco không gọi mọi người là ngu ngốc. Ông chỉ trích các hệ thống khuếch đại những tiếng nói lớn nhất bất kể sự hiểu biết. Ông thấy sự tôn trọng đối với chuyên môn đang bị xói mòn như thế nào — sự thật đang được định hình lại thành ý kiến, và ý kiến ​​thành sự thật.

Chín tháng sau, vào tháng 2 năm 2016, Eco qua đời ở tuổi 84.

Ông chưa bao giờ chứng kiến ​​một đại dịch toàn cầu nào mà thông tin sai lệch lan truyền nhanh hơn cả virus. Ông không chứng kiến ​​các video deepfake hay tuyên truyền do AI tạo ra. Ông không thấy các cuộc bầu cử bị đặt câu hỏi trên diện rộng dựa trên những tuyên bố đã nhiều lần bị bác bỏ.

Nhưng ông đã xác định được vấn đề cốt lõi trước khi nó hoàn toàn xảy ra.

Khi mọi ý kiến ​​đều được coi là có giá trị ngang nhau, sự thật trở nên không bắt buộc.

Eco tin rằng nền dân chủ phụ thuộc vào những công dân được thông tin đầy đủ, chứ không chỉ những người ồn ào. Ông lập luận rằng tư duy phản biện, sự khiêm tốn và sự tôn trọng bằng chứng không phải là điểm yếu — mà là những biện pháp bảo vệ.

Ngày nay, những phẩm chất đó bị trừng phạt bởi các thuật toán. Sự phẫn nộ được khen thưởng. Sự chắc chắn lan truyền nhanh chóng. Sự suy nghĩ thấu đáo lại im lặng.

Tuy nhiên, sự trung thực về mặt trí tuệ lại trở thành một hình thức của lòng dũng cảm.

Eco từng nói rằng người anh hùng thực sự là người muốn trở nên bình thường, trung thực và sợ hãi — nhưng vẫn làm điều đúng đắn. Trong thời đại của chúng ta, điều đó có thể có nghĩa là đặt câu hỏi về những gì chúng ta chia sẻ, hỏi ai được lợi từ những gì chúng ta tin tưởng, và nhớ rằng việc nhìn thấy điều gì đó trên mạng không bao giờ nên là điểm kết thúc của việc suy nghĩ.

Eco không sợ mọi người lên tiếng.

Ông sợ sự thật bị nhấn chìm trong tiếng ồn.

Và ông để lại cho chúng ta một câu hỏi vẫn chưa được trả lời:

Chúng ta sẽ làm gì về điều đó?

#NLTC

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

Joseph Schumpeter - Vị tiên tri của sự sụp đổ

Joseph Schumpeter - Vị tiên tri của sự sụp đổ

Copy từ Facebook Lê Công Thành

“Chủ nghĩa tư bản, về bản chất, là một phương thức thay đổi - và không bao giờ có thể đứng yên.”

Lịch sử tư tưởng kinh tế có những người được yêu mến vì cho ta niềm tin rằng mọi thứ sẽ ổn. Adam Smith hứa hẹn bàn tay vô hình sẽ dẫn dắt. Keynes bảo đảm rằng nhà nước sẽ can thiệp đúng lúc. Những lời ru ấy dễ nghe, dễ tin, và dễ khiến ta ngủ quên.

Joseph Schumpeter không ru ai ngủ. Ông đánh thức.

Ông nói thẳng vào mặt thời đại mình một điều mà không ai muốn nghe: sự ổn định là cái chết chậm, chỉ có sự phá hủy mới mang lại sự sống. Vì câu nói đó, ông không bao giờ được yêu thích bằng những đồng nghiệp biết nói lời êm tai. Nhưng cũng vì câu nói đó, tám mươi năm sau, Thung lũng Silicon vẫn coi ông như vị thánh bảo trợ của mình.

Trước Schumpeter, kinh tế học bị ám ảnh bởi ý niệm cân bằng. Nền kinh tế được hình dung như một cỗ máy cần giữ cho đều đặn - mỗi bánh răng ăn khớp, mỗi chu kỳ lặp lại. Bất kỳ xáo trộn nào cũng là lỗi cần sửa.

Schumpeter nhìn vào cỗ máy ấy và cười.

Trong Capitalism, Socialism and Democracy - cuốn sách ra đời giữa lòng Thế chiến thứ hai, năm 1942 - ông đưa ra một khái niệm làm rung chuyển mọi nền tảng: sáng tạo hủy diệt. Nền kinh tế không phải cỗ máy. Nó là khu rừng. Những cổ thụ già cỗi phải đổ xuống để ánh sáng lọt qua tán lá, để mầm non có đất mà vươn. Nến tắt thì bóng đèn bừng sáng. Xe ngựa chết thì ô tô chạy. Thư tay mất thì email đến.

Đó không phải lỗi của hệ thống. Đó là cách hệ thống thở.

Sự tiến hóa không bao giờ lịch sự. Nó xông vào, lật đổ, thiêu rụi - rồi trên đống tro tàn ấy, gieo hạt giống của một kỷ nguyên mới. Schumpeter không thi vị hóa quá trình này. Ông chỉ đơn giản từ chối nhìn đi chỗ khác.

Nếu Marx đặt giai cấp công nhân làm nhân vật chính của lịch sử, Keynes trao vai đó cho nhà nước, thì Schumpeter đưa lên sân khấu một gương mặt khác hẳn: doanh nhân.

Nhưng đừng nhầm. Doanh nhân của Schumpeter không phải người mở tiệm kiếm lời. Đó là kẻ phá bĩnh - der Störer - người mang trong mình thứ ông gọi là Unternehmergeist, tinh thần dấn thân vào cái chưa biết. Họ không tìm kiếm trật tự. Họ phá vỡ trật tự. Họ giới thiệu sản phẩm chưa ai nghĩ tới, phương pháp chưa ai thử, thị trường chưa ai hình dung nổi.

Họ là cái mà nền kinh tế cần để không thối rữa trong sự trì trệ.

Schumpeter nhìn thấy rõ hơn bất kỳ ai một nghịch lý sống còn: hiệu quả và đổi mới không phải lúc nào cũng đi cùng đường. Một tổ chức có thể vận hành trơn tru đến hoàn hảo - tiết kiệm từng xu, tối ưu từng quy trình - rồi vẫn chết bất đắc kỳ tử, chỉ vì không có lấy một con người dám đập vỡ cái cũ để dựng cái mới. Hiệu quả giữ cho cỗ máy chạy. Đổi mới quyết định cỗ máy ấy có còn đáng chạy hay không.

Vậy hãy tự hỏi: những kẻ có ý tưởng điên rồ trong tổ chức của bạn - họ đang được thăng chức hay đang bị sa thải?

Schumpeter gọi sự thay đổi bằng một hình ảnh không thể quên: cơn gió lốc vĩnh cửu của sự hủy diệt sáng tạo. Chữ “vĩnh cửu” ở đây không phải tu từ. Nó là bản chất.

Cơn gió ấy không bao giờ dừng. Không có bến đỗ an toàn. Không có đỉnh cao nào đủ vững để đứng mãi. General Electric từng là biểu tượng của sức mạnh công nghiệp Mỹ - rồi trở thành bài học về sự kiêu ngạo. Yahoo từng định nghĩa Internet - rồi bị chính Internet nuốt chửng. Kodak phát minh ra máy ảnh số rồi chết vì chính phát minh của mình. Nokia thống trị điện thoại di động rồi bị iPhone quét sạch khỏi bản đồ.

Công nghệ xói mòn mọi bức tường thành. Đế chế nào cũng có ngày sụp đổ - không phải vì kẻ thù quá mạnh, mà vì chính sự thành công đã ru nó quên cách thay đổi.

Thế giới quan này tàn nhẫn nhưng cũng giải phóng. Nếu ngay cả những đế chế hùng mạnh nhất cũng chỉ là phù du, thì việc một dự án nhỏ thất bại có đáng để ta gục ngã? Schumpeter không dạy ta cách tránh thất bại. Ông dạy ta nhìn thất bại đúng bản chất của nó: một mắt xích trong chuỗi thử nghiệm bất tận, nơi cái cũ chết đi là điều kiện để cái mới ra đời.

Nhưng Schumpeter không phải kẻ ngây thơ say sưa với tiến bộ.

Ông biết rõ cái giá. Khi ô tô ra đời, hàng triệu người đánh xe ngựa mất kế sinh nhai. Khi dây chuyền sản xuất thay thế bàn tay thợ thủ công, cả một thế hệ nghệ nhân trở thành di vật. Sự tiến bộ của nhân loại, nếu nhìn từ phía dưới, được xây trên xác của những kỹ năng lỗi thời và những phận đời không kịp chuyển mình.

Ông còn đưa ra một dự đoán sắc lạnh đến rợn người: chủ nghĩa tư bản có thể sụp đổ - không phải vì nó thất bại, mà vì nó thành công quá mức. Sự thịnh vượng nó tạo ra sẽ nuôi dưỡng một tầng lớp trí thức có đủ thời gian rảnh, đủ giáo dục, và đủ bất mãn để quay lại cắn xé chính hệ thống đã cho họ cơm ăn áo mặc. Nhìn vào những cuộc tranh luận của thời đại hôm nay - về bất bình đẳng, về công nghệ, về ý nghĩa của lao động - lời tiên tri tám mươi năm trước ấy đang ứng nghiệm từng ngày, rõ đến mức khó mà ngoảnh mặt.

Và bây giờ, khi trí tuệ nhân tạo không chỉ thay thế tay chân mà bắt đầu thay thế cả trí óc, câu hỏi của Schumpeter vang lên gấp bội: làm sao để sáng tạo mà không nghiền nát? Làm sao để cơn gió lốc thổi qua mà không cuốn đi quá nhiều phận người?

Không ai có câu trả lời trọn vẹn. Có lẽ cũng không nên có. Bởi ngay cả Schumpeter cũng hiểu rằng sự hủy diệt sáng tạo không phải phương trình cần lời giải - nó là trạng thái tồn tại mà nhân loại buộc phải học cách sống chung.

Schumpeter qua đời năm 1950, trước khi chiếc máy tính đầu tiên trở nên đủ nhỏ để đặt trên bàn làm việc. Ông không sống để thấy Internet, không biết đến smartphone, càng không hình dung nổi một thế giới nơi máy móc viết văn, vẽ tranh, và suy nghĩ thay con người.

Nhưng ông đã nhìn thấu bản chất của tất cả những điều ấy từ trước khi chúng xảy ra. Bởi ông không dự đoán công nghệ. Ông dự đoán con người.

Và con người - dù ở thế kỷ nào - vẫn luôn đứng giữa hai nỗi sợ: sợ thay đổi, và sợ bị bỏ lại khi không chịu thay đổi. Nền móng cũ sụp đổ dưới chân. Tiếng ồn ấy có thể là âm thanh của sự kết thúc. Nhưng cũng có thể - nếu ta đủ tỉnh táo để lắng nghe - là tiếng bê tông đang đổ cho một nền móng mới.

Còn chọn nghe thấy gì, là việc của mỗi người.

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

FB Rùa Tiên Sinh (Bùi Anh Chiến): Ngạo nghễ nó cũng có chừng mực thôi, vui đừng có vui quá

Thôi thì tự sướng cũng vừa phải thôi mấy cha, hết chữ thì thôi đừng có viết, một báo chính thống lớn như VnExpress mà giật cái tít thật đúng là không biết xấu hổ, ngạo nghễ nó cũng có chừng mực thôi, vui đừng có vui quá.

Cứ mang GDP ra lòe thiên hạ mà méo có biết Thái Lan nó có GDP rất thực chất, Việt Nam thì ảo lòi ra mà vẫn cứ ru ngủ đồng bào cho được, giặc ngu luôn nguy hiểm hơn giặc thật.

GDP danh nghĩa Thái Lan nhiều năm quanh mốc 500–520 tỷ USD, có năm vượt 540 tỷ. Việt Nam đang ở khoảng 430–470 tỷ USD. Khoảng cách không còn quá xa, nhưng vẫn là khoảng cách. GDP bình quân đầu người Thái Lan trên 7.000 USD, Việt Nam loanh quanh 4.000–4.500 USD. Chênh lệch thu nhập kéo theo chênh lệch năng suất, mức tiêu dùng nội địa, chất lượng hạ tầng và khả năng tích lũy vốn. Đó là nền móng thật, không phải mấy status tự sướng. Tôi chán phân tích cái GDP của Việt Nam rồi, cứ cá trong ao của mình là nhận về hết cả, mà có biết là cá thằng hàng xóm nó gửi ở đó, nuôi lớn nó mang về nhà thịt méo đâu. Mình có cái xương chứ được miếng thịt nào đâu mà sướng?

Nhiều người thích lôi con số xuất khẩu Việt Nam hơn 350 tỷ USD ra để khè. Nhìn kỹ cấu trúc đi rồi hãy nói. Xuất khẩu Việt Nam phần lớn nằm trong tay Samsung, LG, Foxconn, Intel, Lego… khối FDI chiếm hơn 70% kim ngạch. Thái Lan xuất khẩu thấp hơn chút, khoảng gần 280–290 tỷ USD, nhưng doanh nghiệp nội địa của họ như PTT, SCG, Thai Union, Charoen Pokphand (CP), Indorama vẫn là xương sống. Một bên là nền sản xuất do tập đoàn nước ngoài dẫn dắt, một bên là nền công nghiệp có lớp doanh nghiệp bản địa đủ và rất lớn. Hai câu chuyện khác nhau hoàn toàn, chất lượng tăng trưởng của Thái Lan nó rất thật, và thật ở chỗ nó tự làm được.

Nói đến công nghiệp chế tạo, cứ nhìn ngành ô tô là rõ. Thái Lan sản xuất khoảng 1,8–2 triệu xe mỗi năm, được gọi là “Detroit của Đông Nam Á”, Thái Lan chính là quốc gia chế tạo mạnh nhất ở Đông Nam Á. Toyota, Honda, Isuzu, Mitsubishi, Ford đều có hệ sinh thái cung ứng ở đó. Việt Nam? Sản lượng xe nội địa chưa tới 200.000 chiếc/năm nếu bỏ qua nhập khẩu. Chuỗi phụ trợ còn quá yếu, tỷ lệ nội địa hóa thấp, doanh nghiệp cơ khí chính xác đếm trên đầu ngón tay. So ngang kiểu Việt Nam ăn được Thái Lan nghe giống câu nói lúc ngồi quán nhậu hơn là phân tích kinh tế, lừa con nít thì được.

Chuỗi bán lẻ và thực phẩm thì càng đau đầu nếu nhìn thật, Thái Lan hầu như thâu tóm hết tất cả ngành bán lẻ, nông nghiệp, thực phẩm , đồ uống của Việt Nam.

ThaiBev nắm Sabeco. Central Retail kiểm soát GO!, Big C, Nguyễn Kim. Berli Jucker thâu tóm Metro Cash & Carry (đổi tên MM Mega Market). CP Group phủ khắp ngành chăn nuôi - thức ăn - thực phẩm chế biến. SCG nhảy vào vật liệu xây dựng, hóa dầu. Amata phát triển khu công nghiệp. Đi một vòng siêu thị Việt Nam đọc bảng sở hữu cổ đông là thấy dòng vốn Thái len vào từng mắt xích. Nói Việt Nam đang áp đảo họ nghe thật nực cười. 

Du lịch là lĩnh vực thể hiện rõ nhất độ chênh. Năm 2019, Thái Lan đón gần 40 triệu khách quốc tế, doanh thu du lịch chiếm hơn 20% GDP nếu tính cả gián tiếp. Việt Nam cùng năm đạt hơn 18 triệu lượt, tăng nhanh thật, nhưng quy mô hạ tầng và chuỗi dịch vụ chưa thể đặt ngang. Sau dịch, Thái Lan phục hồi lên gần 28–30 triệu khách nhanh hơn, còn Việt Nam mới quay về vùng 17–18 triệu. Phuket, Pattaya, Bangkok hoạt động như cỗ máy in tiền suốt mấy chục năm, còn nhiều điểm du lịch Việt Nam vẫn loay hoay câu chuyện quy hoạch, logistics và dịch vụ.

Năng suất lao động cũng là thứ ít người muốn nhìn. Theo nhiều báo cáo khu vực, năng suất của lao động Thái Lan vẫn cao hơn Việt Nam đáng kể tính theo giá trị gia tăng trên mỗi giờ làm. Công nghiệp hóa sớm hơn 20–30 năm cho họ lợi thế tích lũy kỹ năng, mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng. Việt Nam chạy nhanh đấy, nhưng bảo vượt qua Thái Lan rồi thì còn khua.

Doanh nghiệp Thái đi ra nước ngoài mua tài sản, còn doanh nghiệp Việt phần lớn vẫn tập trung nội địa hoặc mới bắt đầu bước ra. ThaiBev, Central Group, PTT Global Chemical, SCG… họ mang tiền đi mua cổ phần khắp ASEAN. Việt Nam có Vingroup, Viettel, FPT, Masan đang mở rộng, nhưng quy mô đầu tư xuyên biên giới vẫn chưa cùng đẳng cấp với người Thái.

Ai còn tin Việt Nam đã vượt Thái Lan trên mọi mặt cứ mở bảng số liệu mà so: GDP đầu người, sản lượng ô tô, lượng khách du lịch, tỷ lệ doanh nghiệp nội địa trong chuỗi xuất khẩu, mức đầu tư ra nước ngoài, số tập đoàn lọt top Fortune Global 500 của khu vực. Nhìn hết những thứ đó sẽ thấy khoảng cách vẫn còn nguyên. Muốn đuổi kịp thì phải học cách họ xây công nghiệp nền tảng, cách họ bảo vệ doanh nghiệp nội địa lớn, cách họ biến du lịch thành ngành mũi nhọn thật sự. Bớt tự sướng lại thì mới có tâm thế đi tắt mà đón đầu, gớm nữa.

Thực tế người Thái vẫn đang mua tài sản, kiểm soát chuỗi bán lẻ và giữ vị trí trung tâm công nghiệp của khu vực. Muốn thắng thì phải tỉnh, không phải tự sướng bằng mấy cái tít giật gân vớ vẩn. Cứ làm như dân ai cũng ngu như chúng mày.