Chuyển đến nội dung chính

Lê Công Thành: Konstantin Rokossovsky

Konstantin Rokossovsky

Trời Moscow mưa tầm tã ngày 24 tháng 6 năm 1945. Trên Quảng trường Đỏ, một người đàn ông cưỡi ngựa đen tuyền dẫn đầu đoàn duyệt binh. Ngực ông lấp lánh huân chương. Miệng ông là hàm răng giả bằng thép, thay cho chín chiếc răng bị đánh gãy trong ngục tối tám năm trước, bởi chính những người giờ đang đứng vỗ tay trên lễ đài.

Người đàn ông đó là Konstantin Rokossovsky, cựu tù nhân số 1442, Nguyên soái Liên Xô.

Năm 1937, Stalin ra lệnh thanh trừng hàng loạt tướng lĩnh. Rokossovsky bị bắt với cáo buộc làm gián điệp, một tội danh bịa đặt hoàn toàn. Ba mươi tháng sau đó, ông sống trong một thế giới mà ngôn ngữ bình thường không còn đủ sức mô tả. Biệt giam. Ngón chân bị búa đập nát. Xương sườn dập. Hai lần bị dẫn ra sân, bịt mắt, nghe tiếng lên đạn, rồi im lặng. Họ bắn vào đầu ông bằng nỗi sợ, ngày này qua ngày khác.

Nhiều tướng lĩnh khác đã ký bản thú tội giả để được yên. Họ tố cáo đồng đội, bán đứng bạn bè, đổi lấy vài tháng sống thêm trong xà lim ẩm mốc. Rokossovsky không ký. Một người bị dẫn đi xử bắn hai lần thì không thể nói mình không biết sợ. Nhưng ông hiểu rằng chữ ký trên tờ giấy đó sẽ giết nhiều người hơn viên đạn. Mỗi cái tên ông nêu ra sẽ là một gia đình tan nát.

Khi bị tước đi mọi thứ khác, phẩm giá hóa ra lại là thứ cuối cùng còn sót. Búa không cướp được nó.

Năm 1940, chiến tranh gõ cửa và Hồng quân thua liểng xiểng trên mọi mặt trận. Stalin nhìn quanh phòng họp, nhận ra một sự thật đơn giản: ông đã giết gần hết tướng giỏi của mình. Rokossovsky được lôi ra khỏi tù, phục chức, giao quyền chỉ huy.

Cảnh đó đáng để hình dung kỹ. Một người đàn ông với cơ thể nát tan, đứng trong phòng làm việc của kẻ đã ra lệnh tra tấn mình, nhận lệnh đi cứu nước từ bàn tay đã ký lệnh bắt mình. Ông có quyền thù hận. Không ai trên đời này có lý do chính đáng hơn ông.

Nhưng ông không dành thời gian cho oán hờn. Ông dồn toàn bộ năng lượng vào việc giữ Moscow. Lý do cũng không lãng mạn gì: nếu ông để cay đắng lấn át tỉnh táo, quân Đức sẽ thắng. Khi quân Đức thắng, gia đình ông, đồng đội ông, cả dân tộc ông đều chết. Đó là phép tính của một trí tuệ đủ lạnh để tách nỗi đau cá nhân ra khỏi trách nhiệm chỉ huy. Phục vụ sứ mệnh hay phục vụ hận thù, ông chọn cái đầu.

Bốn năm sau, năm 1944, Rokossovsky trình lên Stalin kế hoạch giải phóng Belarus - Chiến dịch Bagration. Ông đề xuất tấn công bằng hai mũi gọng kìm cùng lúc. Stalin chỉ muốn một. Câu nói của Stalin nghe như lời khuyên, nhưng ai có mặt trong phòng đều hiểu đó là đe dọa: "Đồng chí hãy ra ngoài suy nghĩ lại đi."

Với một cựu tù nhân Gulag, câu đó mang theo mùi xà lim.

Rokossovsky bước ra. Rồi bước vào lại. "Hai mũi đột phá." Stalin đuổi ông ra lần thứ hai. Phòng họp im phăng phắc. Các tướng khác quay mặt đi. Lần thứ ba, ông vẫn trở lại với cùng một câu trả lời.

Stalin nhượng bộ. Bagration diễn ra theo đúng kế hoạch hai mũi gọng kìm. Cụm tập đoàn quân Trung tâm của Đức bị xóa sổ hoàn toàn - một trong những thảm bại lớn nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại.

Điều đáng chú ý: Rokossovsky dám cãi Stalin ba lần liên tiếp, trong khi các tướng lĩnh khác run sợ không dám mở miệng. Ba mươi tháng ngục tối giải thích chuyện đó. Khi một người đã bị dẫn đi xử bắn hai lần và vẫn sống, nỗi sợ mất chức hay mất lòng cấp trên trở nên nhỏ bé. Ông chỉ sợ đưa ra quyết định sai về chuyên môn, bởi quyết định sai nghĩa là hàng vạn lính chết oan.

Có một chi tiết nhỏ dễ bị bỏ qua giữa những chiến dịch vang dội. Rokossovsky khác Zhukov - vị tướng nổi tiếng sẵn sàng ném quân vào hỏa lực địch như ném củi vào lò - ở một điểm căn bản: ông coi binh lính là người.

Ông là tướng duy nhất dám đề nghị Stalin ân xá cho các tù binh Liên Xô trốn thoát khỏi trại giam Đức. Stalin coi họ là kẻ phản quốc. Rokossovsky, người từng bị chính nhà nước gọi là phản quốc, hiểu hơn ai hết cái giá của một cáo buộc sai.

Binh lính dưới quyền ông chiến đấu không phải vì sợ bị bắn bỏ nếu thoái lui. Họ chiến đấu vì không muốn phụ lòng người chỉ huy duy nhất đối xử với họ như con người. Có một loại kỷ luật mà nỗi sợ hãi không tạo ra được - loại kỷ luật không tan rã khi đạn pháo xé nát đội hình.

Rokossovsky mất năm 1968. Ông sống đủ lâu để chứng kiến mình trở thành huyền thoại, nhưng không đủ lâu để nhìn thấy Liên Xô sụp đổ.

Câu chuyện của ông đặt ra một câu hỏi khó chịu cho bất kỳ ai từng bị tổ chức mình phụng sự quay lưng: Khi quay trở lại nắm quyền, bạn chọn xóa sạch quá khứ và trọng dụng cả kẻ từng hại mình, hay loại bỏ họ để làm sạch đội ngũ? Cả hai lựa chọn đều có cái giá riêng.

Rokossovsky chọn chiến đấu bên cạnh những kẻ từng ký lệnh bắt ông. Ông không quên. Ông chỉ nhìn thấy thứ lớn hơn ký ức của mình.

- Lê Công Thành -

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...