BỐ CÁI (trong "Bố Cái đại vương") KHÔNG PHẢI "CHA MẸ" (BỐ MẸ)!
* Hiện tượng gặp trong Tiếng Việt: tiếng thuần Việt (quốc âm, còn gọi Nam âm) đi sóng đôi cùng âm HV (Hán-Việt), dù đồng nghĩa với nhau. Vì sao?
/1/ Thế kỷ 8 (thời Bắc thuộc) có cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng. Ông được tôn lên làm "BỐ CÁI".
Rất nhiều người đã nghĩ rằng "Bố Cái" nghĩa là "bố mẹ", "cha mẹ".
1a) "Đại vương" là âm HV, sao không gọi "Phụ mẫu đại vương" toàn âm HV cho nhịp nhàng, đồng bộ? ("phụ mẫu" nghĩa là cha mẹ).
1b) "Bố" được hiểu là "cha / thầy / cậu / ba" (đều là tiếng thuần Việt, cùng nghĩa, tùy vào vùng miền xưng hô), còn "Mẹ" ("má, mợ", cùng nghĩa, tùy vào xưng hô mỗi vùng miền). Sao không gọi "Bố Mẹ" đều thuần Việt, mà lại là ... "Bố Cái" - trong xưng hô, không bao giờ gọi "Mẹ" của mình là "Cái" hết!
"CÁI", ở đây, không mang nghĩa là "Mẹ" (giải thích ở 1c).
[Nói thêm cho vui: nếu ai tưởng tượng gọi Mẹ của mình là "Cái", vậy họ sẽ gọi Cha là "Đực" cho tương thích! Tôn xưng đấng bậc sinh thành là... "Đực Cái" chăng?]
1c) Theo khảo cứu của giới ngôn ngữ học và sử học, như A.G. Haudricourt, K. Taylor, GS Trần Quốc Vượng, "Bố", "Cái" đều là tiếng Việt cổ (proto-Vietic). Theo đó:
BỐ là biến âm cổ của "Pò" trong tiếng Mường (thuộc proto-Vietic), còn gọi "Bua" (Vua); còn CÁI nghĩa là Lớn (đường cái là đường lớn, sông cái là sông lớn, ngón tay cái là ngón tay lớn nhứt...
"BỐ CÁI", trong proto-Vietic, nghĩa là Vua Lớn.
/2/ Gọi "Vua Lớn" đã là đủ nghĩa trong việc tôn xưng rồi, sao còn kèm "Đại Vương"? Đây là một dẫn chứng, trong nhiều dẫn chứng, cho thấy TIẾN TRÌNH DU NHẬP CHỮ HÁN (kéo theo âm HV) TRONG THỜI BẮC THUỘC, rất đáng chú ý về mặt ngôn ngữ và sử học.
2a) Cần chú ý: TIẾNG NÓI LÀ NỀN TẢNG, CÓ TRƯỚC, CHỮ VIẾT CÓ SAU. Người dân bổn xứ đã có sẵn tiếng nói của mình, sau đó trong thời Bắc thuộc thì du nhập chữ Hán, diễn ra quá trình tiếp biến.
(Nhắc lại không thừa: có những kẻ "phò Hán" nặng nề tới mức bất luận thứ gì cũng dẫn chữ Hán ra, chẳng khác nào người dân chúng ta "ú ớ", "câm" cho tới khi có chữ Hán thì ... mới biết nói không bằng!
Mà chữ Hán thì chỉ đọc bằng âm HV, hoàn toàn KHÔNG có tiếng thuần Việt, gọi là "proto-Vietic", tiếng Việt nguyên thủy!)
2b) Khi chữ Hán du nhập thời Bắc thuộc, gặp hai chữ "Đại Vương" 大王, phần lớn người dân nghe thấy "lạ", họ hiểu không? Không dễ dàng chút nào! Vì sao?
Bởi vì trong chữ Hán, hiên tượng đồng âm nhiều, rất nhiều! Có tới 20 ký tự viết khác nhau nhưng đều đồng âm "đại"! Có 4 ký tự viết khác nhau nhưng đồng âm "vương"!
Rồi, ngay cả ký tự 大 "đại" cũng có hơn 10 nghĩa (trong đó gồm có nghĩa là "lớn"); ngay cả ký tự 王 "vương" cũng 10 nghĩa (trong đó có nghĩa là "vua").
2c) Thành thử "đại vương" 大王 , khi mới biết đến chữ Hán, rất khó biết mang nghĩa chánh xác ra sao (chọn dùng nghĩa nào trong "đại"?, chọn dùng nghĩa nào trong "vương"?).
Tiền nhơn dùng tiếng Việt (proto-Vietic) "BỐ CÁI" (Vua Lớn) gắn với "đại vương", nhờ vậy âm HV "đại vương" được xác định, được hiểu là "Vua Lớn".
Nhờ có tiếng Việt (Nam âm) đi kèm, âm HV mới thoát ra được tình trạng mông lung, "mờ mịt" về nghĩa!
Hiện tượng "sóng đôi" này còn gặp rất nhiều, được diễn giải thêm, ở phần /3/.
* "BỐ CÁI" ghi bằng chữ Nôm (có thể ước định chữ Nôm đã thành hình âm thầm trong thời Bắc thuộc...).
布 "bố": mượn nguyên dạng chữ Hán nhưng đồng âm "bố" mà dị nghĩa - không mang nghĩa "bố" trong "bố cáo", mà BỐ ở đây nghĩa là "Vua".
丐 "cái": mượn nguyên dạng chữ Hán nhưng chỉ đồng âm "cái" mà dị nghĩa (Đại Nam quấc âm tự vị, ghi 丐 chữ Nôm, "CÁI" nghĩa là Lớn).
/3/ HIỆN TƯỢNG NGÔN NGỮ THÚ VỊ: ÂM HV THOÁT KHỎI SỰ HÀM HỒ, CÓ NGHĨA ĐÂU RA ĐÓ KHI ĐI KÈM VỚI NAM ÂM (thuần Việt)!
3a) Âm HV "sơn" 山 ngoài nghĩa là núi, còn có nghĩa là mồ mả. Thành thử ban đầu có lối nói "núi Thái sơn", thoạt nhìn tưởng dùng chữ bị thừa: đã "sơn" mà còn "núi".
Kỳ thực, nhờ gọi "núi" là tiếng thuần Việt (chữ Nôm 𡶀 đọc là "núi") mà "sơn" ở đây được chọn theo nghĩa tương đồng với "núi"!
Khi đã dùng quen âm HV, gọi "Thái sơn" (泰山) luôn, không còn nhầm lẫn "sơn" là mồ mả; hoặc dùng tiếng thuần Viêt là "núi Thái"!
3b) Trong chữ Hán có đến 20 ký tự viết khác nhau nhưng... đồng âm "hà" ráo trọi, lủ khủ nghĩa. Trong đó, ký tự 河 là "sông" và còn thêm vài ba nghĩa nữa!
Thành thử ban đầu có cách gọi "sông Hồng hà" - nhờ gọi "sông" là tiếng thuần Việt (chữ Nôm 𪷹 đọc là "sông") mà "hà" 河 ở đây được xác định nghĩa rõ rành là "sông".
Khi quen âm HV "hà" với nghĩa là "sông" rồi, gọi "Hồng hà", hoặc dùng tiếng thuần Việt mà gọi "sông Hồng"!
3c) Cũng như "Hoa" là âm HV của 22 chữ Hán viết khác nhau, mang theo cả trăm nghĩa!
Trong đó có ký tự 花 "hoa" lại cũng có tới 20 nghĩa, chỉ nhìn mặt chữ 花 này thôi, không thể biết nghĩa là gì nếu thiếu văn cảnh.
Tỉ như "hoa" 花 nghĩa là giả dối, "hoa ngôn" 花言 là lời nói giả dối.
Nhờ đi chung với tiếng Việt là BÔNG (chữ NÔM 葻), trong "Bông Hoa", thì "Hoa" ở đây mới minh định là bông, là flower (chớ không phải ..."hoa" là giả dối).
* Dùng âm HV riết, "hoa" được người dùng quen hiểu là "bông".
* Hoặc vẫn đang dùng cách gọi sóng đôi là "Bông hoa".
* "BÔNG" sẵn có trong kho tàng tiếng Việt nguyên thủy (proto-Vietic): có mặt trong tiếng Mường ("pông"), trong cách nói ở xứ Thanh, xứ Nghệ, các tỉnh miền duyên hải, rồi miền châu thổ phương Nam.
Bài NGUYỄN CHƯƠNG
------------------------------------------
"Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm BÔNG" (Truyện Kiều)
BÔNG ô môi (dưới, trái)
Địa danh "Ngã ba BÔNG" (Thanh Hóa)



Nhận xét
Đăng nhận xét