Chuyển đến nội dung chính

Thái Bá Tân: ĐẠI HỌC (Tự truyện 5)

Tự truyện 5

ĐẠI HỌC

Theo tiêu chí xét duyệt thời ây thì tôi không được đi  học trong nước, chưa nói nước ngoài. Một, và là điều quan trong nhất, - nhà tôi chưa có ai đi bộ đội.. Hai, nhà tôi đã từng ra hợp tác xã, (dù ít năm sau đã vào trở lại), một tội lớn trong con mắt chính quyên. Ba, tôi chưa là đoàn viên, điều kiện bắt buộc đối với người đi học đại học, hình như cả với trung cấp. Vậy thì vì sao tôi có cái giấy ấy?Không biết. Thậm chí đến giờ cũng không biết. Và lần nữa tôi nghĩ đó là nhờ bàn tay nâng đỡ của quý nhân vô hình nào đó mà tôi đã nói. 

Tất nhiên người ta xét theo kết quả học tập, mà tôi thì dẫu không chịu học hành gi nhưng học giỏi, nhất là môn văn. Tôi dự thi môn văn toàn quốc và được giải ba. Việc chưa đoàn viên được giải quyết nhanh chóng và dễ dàng, bằng cách thầy chủ nhiệm cho họp lớp và làm lễ kết nạp. 

Như tất cả học sinh cấp ba thời ấy, trước khi ra trường ai cũng viết đơn xin ra mặt trận, cả nam lẫn nữ, đơn của cá nhân, của tổ và lớp. Đó là thủ tục bắt buộc. Mà thời ấy lớp trẻ chúng tôi hăng hái lắm. Ai cũng chân thành tin vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh đuổi đế  quốc Mỹ xâm lược và thực sự muốn góp phần phần mình vào sự nghiệp cao cả ấy. Nhiều người viết bằng máu. Chí ít bằng mực đỏ. Hình như có quy định như thế. 

Thời ấy công an xã có vai trò rất lớn, nếu không muốn nói quyết định trong mọi chuyện ở địa phương mình. Từ an ninh trật tự cho đến hôn nhân, và quan trọng nhất là quyết định cho ai, không cho ai đi học như đã nói. Mãi sau này, khi về Việt Nam nghỉ hè năm 1972, tôi hỏi thì mẹ tôi nói đó là nhờ trưởng công an xã, một người họ Phan ở làng bên, có họ hàng hay ân huệ gì đó với dòng họ Thái Bá nhà tôi. Chính ông ấy nói thẳng với cụ: “Tôi không quyết thì con bà đã phải Nam tiến từ lâu”. 

Để bù cho cái tội “nhà không có ai đi lính” ấy, khi đến tuổi, hai cô em tôi xung phong đi bộ đội, cô thứ ba và thứ năm. Cô sau được ông bác sĩ già quân y nơi tuyển quân phê “không đạt” dù sức khỏe tốt. “Cháu còn con nít mà trong ấy giờ đang căng lắm. Có sợ chết không?” “Dạ có”. “Thế thì về đi học tiếp hoặc giúp mẹ làm ruộng”. Cô chị thì đi và trở về nguyên vẹn. Trong tám người con, nhà tôi chỉ một người chết trong chiến tranh, Đó là chú em bị trúng mảnh đạn pháo khi chưa đến tuổi nhập ngũ.

*

Thị trấn Đô Lương là nơi tập trung để từ đó xe chở học sinh ra Bắc. Hôm ấy Nghệ An có hai xe. Một xe chở sinh viên tương lai, cả trong và  ngoài nước. Xe kia chở người đi học trung cấp và dạy nghề. Xe của tôi đi trước, men theo đường Trường Sơn và tất nhiên vào ban đêm vì máy bay địch luôn quần thảo trên trời, thỉnh thoảng lại thấy bung ra một hai chiếc dù pháo sáng. Hôm sau, khi đến Hà Nội thì hay tin xe đi sau trúng bom chết hết, trong đó có cô Việt con ông hàng xóm may áo cho mẹ tôi. 

Cũng đêm ấy ở Hà Nội cầu Long Biên bị bắn sập một nhịp. Chúng tôi, lúc ấy có thêm người của tỉnh khác, được đưa đến nghỉ ở Công Viên Thống Nhất, phía gần hồ chưa được tráng bê tông và ngập đầy rác. Không nhớ chuyện ăn uống thế nào, chỉ nhớ đến chiều tối thì cả đoàn bộ đến Đức Tái, Hà Bắc, vượt sông bằng phà. Ở đấy chúng tôi được bố trí ở nhà dân, suốt ngày học chính trị trong và ngoài nước. Cũng có hôm được giảng giãi về văn hóa, đời sống nước ngoài và dăn dò cách đi đứng, ăn uống, ứng xử. 

Mỗi đứa được phát một bộ com-lê cho nam, một bộ váy cho nữ cùng hai áo sơ mi, một đôi giày, hai đôi tất và một chiếc túi bằng vải  màu xanh lá cây của Trung Quốc. Đến lượt ai phát ấy, không vừa thì tự đổi cho nhau. 

Đợt tập trung ấy kéo dài hai, ba tuần gì đó không nhớ, chỉ nhớ cái cảm giác đói, lúc nào cũng đói. 

Cuối cùng chúng tôi lên đường đi Đồng Đăng để từ đó chuyên xa, xe lửa chuyên dụng Trung Quốc, đưa sang Moskva. Ai học nước nào cũng phải qua trạm trung chuyển Moskva. Lúc đầu đi bộ, khá lâu, sau mới có xe tải chở đi tiếp. Dọc đường thấy chiếc xe Co-măng-ca còn mới phóng vượt lên. Trên xe có một cậu trạc tuổi chúng tôi, người nhỏ thó, da trắng. Hỏi thì biết đó là xe ông Trường Chinh chở con đi học như chúng tôi. Cậu ấy học trường Lô-mô-nô-xốp, Moskva, cùng thành phố, nhưng tôi học trường khác, cũng xịn nhưng không bằng.

Từ Đồng Đăng chúng tôi phải đi bộ khá xa mới đến ga Bằng Tường, Trung Quốc. Trên sân ga đang chờ sẵn một đoàn văn công toàn con gái, trẻ và đẹp lắm, mặc quần áo mỏng xanh hồng, hệt như quan âm bồ tát hay các tiểu yêu trong Tây Du Ký. Các nàng múa hát chào đón chúng tôi, sau khi ông đứng tuổi mặc quần áo bộ đội nói hồi lâu về tình hữu nghị Trung Việt, về chiến tranh chống Mỹ và bọn Liên Xô xét lại. Thời ấy quan hệ Liên Xô và Trung Quốc căng thẳng, và chỉ một năm sau, năm 1968, thì đánh nhau to ở biên giới. 

Trên sân ga cũng có nhiều thanh niên nam nữ mặt trẻ măng, quần áo xanh rất mới. Đó là các Hồng vệ binh. Người có súng, người không nhưng ai cũng đội mũ lưỡi trai, tay áo có băng đỏ, trên ngực đeo chiếc huy hiệu Mao Trạch Đông to bằng trôn bát và trong túi là cuốn sách bọc bìa ni-lông đỏ khá dày, sau mới biết là Mao Tuyển. Những ngày tiếp, chúng tôi được tặng rất nhiều những chiếc huy hiệu và sách đỏ như thế, có cuốn bằng tiếng Việt. Ai cũng nhận nhưng ít người đọc, vì khi học chính trị ở Đức Tái đã được dặn kỹ rằng quan hệ của ta và Trung Quốc rất phức tạp (thời ấy ta thân Liên Xô), nên phải luôn cảnh giác.

Cuối cùng, chúng tôi lên tàu với cảm giác nhẹ nhõm vì từ giờ không còn phải lo sợ máy bay. Tàu khá mới và đẹp. Mỗi cu-pê sáu người, ba tầng giường. Sướng nhất là được ăn no. Ngày ba bữa sáng chiều tối. Đến giờ là có người gọi “xư phan”, “xư phan”. Thức ăn được phát tận nơi, mọi thứ hổ lốn đổ vào một chiếc bát to, giờ chẳng nhớ gồm những gì nhưng ngon, ngon lắm. Đơn giản là vì trước đó đã phải nhịn đói quá nhiều.

Thật thích khi hàng ngày được ngồi bên cửa sổ ngắm nhìn ra ngoài. Tàu chạy nhanh và liên tục, sau mấy giờ mới dừng lại một chốc, không ai được xuống. Vun vút hai bên là những cánh đống bát ngát nhưng lạ, rất ít người canh tác, lác đác những chiếc lò gạch di sản sót lại từ thời Toàn dân làm gang thép. Đi qua thành phố thì thấy nhà nào tường cũng có khẩu hiệu chữ to màu đỏ, ảnh Mao chủ tịch và Hồng vệ binh. Lúc ấy đang đỉnh điểm Cách mạng Văn Hóa. Đã qua thời Trăm hoa đua nở, Đại nhảy vọt gây nên cái chết hàng chục triệu người…

Đến một thành phố lớn thì bất chợt tàu dừng lại. Lâu, rất lâu. Hỏi thì nói là thành phố Vũ Hán. Cửa khóa, không ai được xuống. Bên ngoài có rất nhiều hồng vệ binh chạy đi chạy lại thành từng tốp lớn, vẻ nhốn nháo lo lắng. Tôi đóan chắc đang có việc gì đấy quan trọng. Ông người Việt cùng đi với đoàn nói hai phe đang đánh nhau, họ bóc đường ray để ngăn đối phương di chuyển. Sau này đọc mới biết thời ấy có hai phe, một của Mao Trạch Đông và một của nguyên soái Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ. Tôi không trực tiếp thấy các hồng vệ binh bắn nhau, nhưng lác đác có nghe thấy tiếng súng. Vả lại, nhân viên trên tàu kéo rèm, bắt mọi người lên giường mình. Cũng hơi sợ chút ít. 

Cuối cùng, đến đêm thì tàu chạy tiếp, chạy một mạch nhiều ngày. Mà tàu chạy nhanh lắm, chắc phải trăm cây số mỗi giờ. Một tối nọ chợt thấy bên phải có pháo hoa bắn rợp trời. Đó là Bắc Kinh và hôm ấy là ngày quốc khánh mồng Một tháng Mười. Tàu chỉ đi ngang, không vào thành phố. Vậy là xa nhà đã gần hai tháng. Lạ, không nhớ tẹo nào. Chắc vì nhiều ấn tượng mới mẻ quá.

Đi thêm mấy ngày nữa thì đến ga Mãn Châu Lý. Bên kia sông là ga Zabaikan của Liên Xô (không biết có nhớ đúng không nhỉ?) Có mấy người bước lên tàu, hình như có cả hoa. Một cô còn trẻ và rất xinh dịch lời người đàn ông đi cùng, nói khá dài, trong đó có câu “chúng tôi rất thương các bạn phải sang học ở xứ xét lại phản động”. Mắt cô rơm rớm, khiến tôi cũng suýt chảy nước mắt khóc theo.

Làm xong thủ tục, tất cả chúng tôi chuyển sang tàu Liên Xô chờ sẵn bên cạnh. Tàu có vẻ to hơn, màu xám và không mới bằng tàu Trung Quốc. Yên vị xong, tàu lăn bánh, phía dưới có nhiều người Trung Quốc vẫy tay đưa tiễn. Lát sau, ông phụ trách đi theo đoàn nghiêm mặt bảo chúng tôi khi đến giữa sông phải vứt hết xuống nước các mao tuyển, huy hiệu và tất cả những gì liên quan đến Trung Quốc. “Tuyệt đối không đươc giữ lại cái gì!” ông giơ ngón tay dọa.

*Tác giả Thái Bá Tân*

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

VÌ SAO LÀNG BÁO VIỆT VỊ VỀ "CHUYỆN VỚI THANH"?

Link: https://www.facebook.com/share/p/14bTWDhbQqD/ 🔏VÌ SAO LÀNG BÁO VIỆT VỊ VỀ "CHUYỆN VỚI THANH"?  1. Bà hàng nước rốn rùa thủ thỉ kể: Theo bản tin của thông tấn xã vỉa hè, sơ bộ khoảng 20 tờ báo đăng tin bài khen ngợi "Chuyện với Thanh" của tác giả Nguyễn Thành Nam do Nxb Hội Nhà văn phát hành. Đã có 31 tin bài phải gỡ bỏ và các báo buộc phải đính chính, xin lỗi bạn đọc. Một sự kiện vô tiền khoáng hậu dịp Báo chí Cách mạng Việt Nam sinh nhật 101 tuổi.  Hầu hết các báo lớn của Trung ương và địa phương đều thủng lưới: Nhân dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Văn hoá, Dân trí, Vietnamnet, VNXpress, Sài Gòn giải phóng... và cả Đăk Lăk trên đỉnh Tây Nguyên.  Những chiến sĩ canh gác trên mặt trận văn hoá ê chề thất thủ. Có tờ báo đứng đầu binh chủng cũng lập kỷ lục đá phản lưới nhà tới 6 bàn liên tiếp. Lại có cầu thủ vừa đá phản lưới nhà vừa làm tung lưới đội đá thuê. Cú sút nào cũng mãn nhãn!  2. Vì sao các báo thủng lưới hàng loạt như vậy?  Nguyên nhâ...

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...