Nghìn năm Bắc thuộc, ông cha ta sống ra sao, nghĩ gì?
Mấy hôm nay ngồi đọc lại phần Bắc thuộc trong Đại Việt sử ký toàn thư, đọc đến đâu ngạc nhiên đến đấy.
Nhắc đến nghìn năm Bắc thuộc, ta hay hình dung ra 1 nghìn năm quan Tàu ngồi trên đầu, dân ta cúi mặt mà chịu, thỉnh thoảng mới có 1 vị anh hùng đứng lên đánh đuổi. Sử gia đời Trần là Lê Văn Hưu cũng nghĩ thế. Chép đến chuyện Hai Bà Trưng, ông than: "trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao?" [1].
Thực ra không hẳn thế. Cũng bộ Toàn thư ấy chép dân Giao Châu giết thứ sử, đuổi thái thú, vây phủ đô hộ không biết bao nhiêu lần, đến mức vua Nam Hán phải bảo tả hữu rằng dân Giao Chỉ "hay làm loạn". Vậy mà cũng dân ấy lại lập đền thờ thái thú Nhâm Diên, đẻ con ra đặt tên là Nhâm, lại kéo nhau hàng nghìn người đến xin cho thứ sử Đào Hoàng ở lại. Vừa giết quan Tàu vừa thờ quan Tàu, kể cũng lạ thật!
Vậy đô hộ là gì, họ lấy quyền gì mà đô hộ? Trước khi bị đô hộ ta thế nào? Họ chiếm những vùng nào, có chiếm Lào không? Ta có thuộc Trung Quốc không, ta có quyền gì, họ có quyền gì? Họ bắt dân ta làm gì, ai cai quản ta? Dân ta sống ra sao, nghĩ gì mà lúc thì phản, lúc lại thờ? Ai chấm dứt chế độ đô hộ, hết đô hộ rồi họ có đòi lại không?
Đọc lại Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt sử lược, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cùng tập 1 bộ Lịch sử Việt Nam của Viện Sử học, thì thấy sử cũ chép được khá nhiều, chỉ là ít người lật ra đọc.
I. ĐÔ HỘ LÀ GÌ, HỌ LẤY QUYỀN GÌ MÀ ĐÔ HỘ?
Chữ "đô hộ" vốn là tên 1 chức quan. Đời Đường, nhà Đường đặt ở đất ta An Nam đô hộ phủ, ông quan đứng đầu gọi là đô hộ. Trần Trọng Kim có chú rằng nhà Đường chia nhiều nơi bên Tàu ra làm đô hộ phủ, như Tứ Xuyên đô hộ phủ, An Nam đô hộ phủ, "Vậy Đô Hộ là một chức quan chứ không phải là một chính thể cai trị các thuộc địa như ta hiểu bây giờ" [2]. Tức là nếu cứ hiểu theo mặt chữ thì đất Tứ Xuyên cũng bị "đô hộ" y như ta!
Về sau người mình mượn chữ ấy để nói chung cả nghìn năm bị phương Bắc cai trị, cũng như chữ Bắc thuộc, nghĩa là thuộc về phương Bắc.
Nói nôm na, đô hộ là họ lấy đất ta làm quận huyện của họ, coi như 1 vùng xa trong nước họ. Năm 111 TCN, nhà Hán diệt nước Nam Việt của họ Triệu, Toàn thư chép: "Từ đấy nhà Hán bắt đầu đặt Thứ sử, Thái thú. Chế độ nhà Hán đặt Thứ sử cai trị một châu, Thái thú cai trị một quận" [3]. Thứ sử coi cả 1 châu gồm nhiều quận, thái thú coi 1 quận, dưới nữa có huyện lệnh. Đại khái thứ sử như ông tổng đốc, thái thú như ông tuần phủ đời Nguyễn.
Các ông ấy do triều đình bên kia bổ sang, làm vài năm rồi về hoặc chuyển đi nơi khác. Việc của họ là giữ sổ hộ khẩu, thu thuế, thu cống, bắt lính, bắt phu, xử kiện theo luật của họ.
Họ đô hộ được trước hết là vì đánh thắng. Quân Hán đánh vào Phiên Ngung là kinh đô Nam Việt, vua Nam Việt chạy ra biển thì bị bắt, thế là đất ấy về tay nhà Hán. Cương mục, dẫn sách Thủy kinh chú, kể rằng quân Hán mới đến Hợp Phố thì 2 quan sứ trông coi Giao Chỉ, Cửu Chân đã "đem trâu một trăm con, rượu một nghìn chung và sổ hộ tịch hai quận ra hàng" [4]. Nộp sổ hộ tịch tức là nộp cả dân. Quân Hán chưa đánh tới Giao Chỉ mà đã có người mang sổ ra dâng.
Còn nói theo lý của họ thì đất ấy vốn là của họ từ xưa. Năm 231, Thái thú Hợp Phố là Tiết Tống dâng sớ lên vua Ngô, mở đầu bằng câu: "Ngày xưa vua Thuấn đi tuần phương nam, mất ở Thương Ngô, nhà Tần đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, thế thì bốn quận ấy nội thuộc đã lâu rồi" [5]. Tức là cứ vua thánh đời xưa từng đặt chân đến, nhà Tần từng đặt quận, thì đời sau lấy là lấy lại đồ của mình. Lý lẽ này nghe quen tai, đến bây giờ thỉnh thoảng vẫn còn nghe thấy.
Gốc của nó là cách người Tàu nhìn thiên hạ. Năm 135 TCN, Hoài Nam vương Lưu An dâng thư can vua Hán Vũ Đế, có câu: "Bệ hạ lấy chín châu làm nhà, sinh dân đều là thần thiếp cả" [6]. Theo họ, thiên hạ chỉ có 1 ông thiên tử, người ở đâu cũng là bề tôi của ông ấy, ai chưa chịu thần phục thì là man di chưa được giáo hóa.
Buồn cười là cũng trong lá thư ấy, Lưu An lại khuyên vua đừng dây vào đất Việt, vì "đất ấy không thể ở được, dân ấy không thể chăn được, không bõ làm phiền đến Trung Quốc vậy" [6]. Ô! Người trong triều Hán chê đất này chẳng đáng lấy, vậy mà 24 năm sau Hán Vũ Đế vẫn sai quân sang lấy. Chê mà vẫn lấy, bảo sao về sau quan Tàu sang đây cứ như đi đày.
II. TRƯỚC KHI BỊ ĐÔ HỘ, TA THẾ NÀO?
Câu này khó trả lời, vì ông cha ta thời ấy chẳng để lại 1 chữ nào. Trần Trọng Kim viết: "Khi đất Giao Châu còn gọi là Văn Lang hay là Âu Lạc thì người bản xứ ăn ở thế nào, phong tục làm sao, nay cũng không có di tích gì mà kê cứu rạch rõ được" [7]. Ông đoán người mình hồi ấy có lẽ "cũng tự hồ như Mường hay là Mán" trên mạn ngược, rồi tự nói luôn rằng "đây là một điều nói phỏng mà thôi" [7]. Ông cụ này thật thà!
Những gì ta biết thì phần nhiều do người Tàu chép. Lá thư của Lưu An, viết trước khi nhà Hán lấy Nam Việt 24 năm, tả người Việt thế này: "Việt là đất ở ngoài cõi. Dân cắt tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được" [6]. Vẽ mình tức là xăm mình. Lưu ý, Lưu An nói chung về người Việt ở phương Nam, chứ chẳng riêng gì người ở sông Hồng.
Sử cũ còn cho biết ở đây có Lạc tướng, là những người cầm đầu từng vùng, cai quản dân của mình từ trước khi nhà Hán sang. Hai Bà Trưng là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, chồng là Thi Sách cũng là con Lạc tướng, Toàn thư chú rằng đó là "con hai nhà tướng kết hôn với nhau" [1]. Nghĩa là đất này có 1 lớp người như quý tộc địa phương, cha truyền con nối, nhà tướng lấy nhà tướng. Môn đăng hộ đối từ thời ấy rồi!
Còn ăn ở làm ăn ra sao thì 2 bên kể khác hẳn nhau. Toàn thư chép theo sách Tàu rằng khi Nhâm Diên sang làm thái thú Cửu Chân, "Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy", Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất [8]. Bộ Lịch sử Việt Nam của Viện Sử học thì viết rằng nghề trồng lúa nước ở Giao Chỉ có từ rất sớm, đến thế kỷ 1 người Giao Chỉ đã biết trồng lúa nước 2 mùa [9]. Sách này còn trách sử gia người Hán tả dân ta "man mọi" là ghi chép "miệt thị, thiếu trung thực", rồi kể ra tục xăm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu, mời trầu khi có khách, khi cưới hỏi [10].
Theo tôi, 2 bên cãi nhau là phải. Sử Tàu muốn ghi công cho ông thái thú thì phải kể dân trước đó chưa biết cày, còn sử gia bây giờ thì muốn cho thấy ông cha mình đâu có kém ai. Thành ra đọc sử Bắc thuộc, tôi phải xem ai chép rồi mới dám tin.
III. HỌ ĐÔ HỘ NHỮNG VÙNG NÀO, CÓ ĐÔ HỘ LÀO KHÔNG?
Nhà Hán lấy đất Nam Việt chia làm 9 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ [3]. Trong 9 quận ấy thì Nam Hải nay là Quảng Đông, Thương Ngô với Uất Lâm nay thuộc Quảng Tây, Hợp Phố nay là đất Liêm Châu, Châu Nhai và Đạm Nhĩ ở ngoài đảo Hải Nam [3], [11]. Tức là 6 quận nay thuộc Trung Quốc, chỉ có 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là đất Việt Nam bây giờ.
Lưu ý là sử ta ngày xưa lại tính khác. Ngô Sĩ Liên còn tiếc rằng các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần "chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế" [3]. Tức là sử thần nhà Lê vẫn coi Quảng Đông, Quảng Tây là đất cũ của ta!
Quận Giao Chỉ có 10 huyện, trong đó có Mê Linh quê Hai Bà, có Long Biên, Chu Diên, Tây Vu [11], tức là đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Quận Cửu Chân có 7 huyện [11], ở vào vùng Thanh Hóa bây giờ. Quận Nhật Nam ở xa nhất, Cương mục chua: "Xưa kia là bộ Việt Thường. Đời Tần, là đất Tượng quận. Đời Triệu, thuộc quận Cửu Chân. Đầu đời Hán, tách ra đặt làm Nhật Nam… Sau đó bị Lâm Ấp chiếm mất. Đời Tùy bình Lâm Ấp, lấy đất ấy đặt làm Đãng Châu… Sau nữa mất vào đất Chiêm Thành, bây giờ là đất Quảng Bình và Quảng Trị" [11]. Cái tên Nhật Nam, theo lời chua ấy, nghĩa là ở về phía nam mặt trời.
Ở phía nam quận Nhật Nam có nước Lâm Ấp, dựng lên ở đất huyện Tượng Lâm đời Hán, sau đổi gọi là Hoàn Vương rồi Chiêm Thành [12]. Năm 399, vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân, rồi tiến ra cướp Giao Châu. Năm 432, vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại còn sai sứ sang nhà Tống xin được cai quản luôn Giao Châu [12]. Đầu thế kỷ 9, đô hộ Trương Chu còn phải đắp lại 2 thành ở châu Hoan với châu Ái, "vì các thành ấy trước bị Hoàn Vương (vua Chiêm Thành) phá hủy" [13].
Như ta thấy, biên giới phía nam xê dịch suốt. Có thời đất bị đô hộ kéo xuống tới Quảng Bình, Quảng Trị, có thời Chiêm Thành đánh ra tận Nghệ An, Thanh Hóa.
Từ Quảng Nam trở vào là đất của Lâm Ấp, phía nam Lâm Ấp lại là nước khác. Đào Hoàng, thứ sử Giao Châu đời Ngô, Tấn, có tâu rằng Lâm Ấp "liền với nước Phù Nam, rất nhiều chủng người" [12]. Sử Bắc thuộc không chép ông quan Tàu nào cai trị tới đất Nam Bộ hay Tây Nguyên bây giờ. Thế nên nói nghìn năm Tàu đô hộ nước ta mà hình dung cả cái chữ S trên bản đồ là sai.
Thế còn Lào? Trong sử cũ, tên Lào là Ai Lao. Cương mục dẫn sách Thái bình hoàn vũ ký đời Tống, rằng khoảng niên hiệu Vĩnh Bình (58-75) nhà Hán lấy đất người Ai Lao "đặt ra hai huyện Ai Lao và Bác Nam, hợp lại làm quận Vĩnh Xương", rồi chua thêm "tức là quận Vân Nam bây giờ" [14]. Tức là đất Ai Lao mà nhà Hán chiếm nằm ở Vân Nam, thuộc 1 quận khác hẳn, chẳng dính gì đến Giao Châu.
Còn đất nước Lào bây giờ thì không nằm trong 3 quận của ta. Toàn thư chép rằng khoảng năm 546, anh của Lý Bí là Lý Thiên Bảo thua quân Lương, đem hơn vạn người "chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao", thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang đất rộng màu mỡ, bèn đắp thành mà ở, tự xưng Đào Lang Vương [15]. Sử không thấy chép quân Lương đuổi vào tận đấy. Như vậy, người Giao Châu thời ấy thua trận thì chạy vào núi rừng phía tây, quan Tàu không với tới.
IV. TA CÓ THUỘC TRUNG QUỐC KHÔNG, AI CAI QUẢN TA?
Theo sổ sách của họ thì có. Trần Trọng Kim viết thẳng: "Xứ Giao Châu mình tự đời nhà Hán cho đến đời Ngũ Quí vẫn là đất nội thuộc của Tàu" [2]. Đất ta là 1 châu của họ, cũng như Kinh Châu, Dương Châu, Quảng Châu. Người Giao Châu đi học thì học sách của họ, đi thi thì thi ở triều họ, đỗ thì làm quan cho họ.
Có điều buổi đầu nhà Hán vẫn để các quan Lạc tướng làm "những người cai trị nhân dân như trước" [4]. Tức là dân quê vẫn nghe lệnh ông Lạc tướng quen mặt, còn ông thái thú ngồi tận trị sở, có khi cả đời dân chẳng thấy mặt.
Phải đến khi Mã Viện đánh xong Hai Bà Trưng thì nhà Hán mới siết lại. Toàn thư chép Mã Viện "thấy huyện Tây Vu có 3 vạn 3 nghìn hộ, xin chia làm hai huyện Phong Kê và Vọng Hải", rồi đắp thêm thành Kiển Giang [16]. Tôi nghĩ, 1 huyện to đến 3 vạn hộ thì người đứng đầu huyện ấy mạnh lắm, Mã Viện chia đôi ra cho bớt mạnh, rồi đắp thành để có chỗ đóng quân. Chia để trị, chả có gì mới.
Đến tận cuối thời Bắc thuộc, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm còn nói với tả hữu: "Dân Giao Chỉ hay làm loạn, chỉ có thể ràng buộc (ki mi) mà thôi" [17]. Ki mi nghĩa đen là cái dàm ngựa, cái thừng buộc trâu. Nói nôm na là thả lỏng, miễn đừng để sổng.
Đời Hán có thứ sử, thái thú, huyện lệnh. Đời Ngô có lúc tách Giao Châu ra làm 2 châu, từ Hợp Phố trở về bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố trở về nam gọi là Giao Châu [18]. Đời Đường đặt An Nam đô hộ phủ, cuối đời Đường lại đặt Tĩnh Hải quân, lấy Cao Biền làm tiết độ sứ [13]. Tên gọi đổi nhiều lần, ông quan to nhất thì phần nhiều vẫn do triều đình bên kia cử sang.
Còn người Giao Châu thì được đi học, được cử hiếu liêm, mậu tài (2 lối tiến cử người có đức, có tài để bổ làm quan), có điều được cử rồi thì chỉ được làm quan trong châu mình. Năm 200, thứ sử Lý Tiến, là người Giao Châu, dâng sớ kêu rằng: "Khắp cả thiên hạ đều là bề tôi của vua, thế mà nay làm quan ở triều đình đều là sĩ phu ở Trung Châu cả, chưa từng khuyến khích người xa". Vua Hán chỉ cho người Giao Châu được cử hiếu liêm mậu tài thì "được bổ trưởng lại trong châu, không được bổ ở Trung châu". Lý Tiến xin nữa thì các quan coi việc "sợ rằng người phương xa khoác lác mà chê bai bắt bẻ triều đình, nên không chuẩn cho" [19].
Bấy giờ có người Giao Châu là Lý Cầm làm lính túc vệ trong cung, bèn rủ 5, 6 người đồng hương, nhân ngày đầu năm các nước vào chầu, đến quỳ lạy ở sân điện mà tâu: "Ơn vua ban không đều". Hỏi vì cớ gì, Lý Cầm đáp: "Nam Việt ở xa không được trời che, đất chở, cho nên mưa ngọt không xuống, gió mát không đến" [19]. Đại khái như nhân viên chi nhánh tỉnh lẻ kêu với tổng công ty sao không cho mình lên làm ở trụ sở. Vua Hán bấy giờ mới cho 2 người Giao Châu ra làm huyện lệnh ở Hạ Dương và Lục Hợp [19].
Đến đời Đường, Khương Công Phụ người Cửu Chân đỗ tiến sĩ, làm đến Gián nghị đại phu, đồng bình chương sự, tức là hàng tể tướng [13]. Ông lo cho vua Đường chạy loạn Chu Thử, về sau can vua việc chôn cất công chúa thì bị biếm chức [13].
Còn quan Tàu thì có quyền gần như không ai kiềm được. Tiết Tống kể rằng Hoàng Cái sang làm thái thú Nhật Nam, đến nơi "thấy đồ cung đốn, trần thiết không đủ, đánh chết người chủ bạ" (viên thư lại giữ sổ sách). Thái thú Cửu Chân là Đam Manh mở tiệc, viên công tào là Phan Hâm mời bố vợ Manh đứng dậy múa, ông ấy không chịu, Hâm cứ nài, thế là Manh nổi giận giết Hâm, em Hâm lại đem quân đến đánh Manh [5]. Thế là 2 người chết chỉ vì chuyện tiệc tùng.
V. HỌ LẤY GÌ CỦA TA, ÉP TA RA SAO?
Họ thèm nhất của lạ phương Nam. Toàn thư kể Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ thường sai người sang nước Ngô dâng "các thứ hương liệu, vải mịn, kể số hàng nghìn. Các thứ quý lạ như ngọc trai, ốc lớn, lưu ly, lông trả, đồi mồi, sừng tê, ngà voi cùng các thứ quả lạ như chuối, dừa, long nhãn, không năm nào không tiến, lại cống ngựa hàng mấy trăm con" [19].
Bộ Lịch sử Việt Nam dẫn lời sử gia Ngô Thì Sĩ, rằng thời ấy "vật quý giá như châu báu phải đóng sọt tiến hằng năm, vật nhỏ nhen như hoa quả cũng chạy trạm hàng ngàn dặm" [9]. Sách ấy viết rằng người dân Giao Châu chẳng những phải nộp cống phẩm mà còn phải đi phu chở cống phẩm sang tận triều đình bên kia [9]. Tức là vừa mất của vừa mất công.
Cống phẩm thời ấy không có định mức, quan châu quận nhân đó mà vơ vét [9]. Năm 263, thái thú Giao Chỉ là Tôn Tư đã tham bạo, viên quan nhà Ngô sang sau là Đặng Tuân lại "tự tiện bắt dân nộp 30 con công đưa về Kiến Nghiệp. Dân sợ phải đi phục dịch đường xa, mới mưu làm loạn" [18]. Kiến Nghiệp tức Nam Kinh bây giờ. Bắt 30 con công còn sống, rồi bắt dân áp tải từ Giao Chỉ sang tận Nam Kinh, thì dân sợ là phải. Bộ Lịch sử Việt Nam còn kể khi nhà Ngô xây kinh đô Kiến Nghiệp, thái thú Giao Chỉ là Tôn Tú bắt hơn 1.000 thợ khéo ở Giao Chỉ đưa sang làm [9].
Thuế thì đủ thứ. Tiết Tống kể thứ sử Chu Phù cho người làng mình chia nhau làm quan, "vơ vét của dân, một con cá vàng thu thóc một hộc. Trăm họ oán ghét làm phản" [5]. Năm 687, các hộ người Lý theo lệ cũ chỉ nộp nửa thuế, đô hộ Lưu Diên Hựu bắt nộp cả, thế là "Các hộ người Lý mới oán giận, mưu làm loạn" [13]. Năm 791, đô hộ Cao Chính Bình "bắt dân đóng góp nặng", Phùng Hưng dấy binh vây phủ [13].
Đô hộ Lý Trác thì "mua hiếp bò ngựa của người Man, mỗi con chỉ trả cho một đấu muối" [13]. 1 con bò đổi 1 đấu muối, thì gọi là cướp cho nhanh.
Thuyền buôn nước ngoài qua đây cũng bị ăn chặn. Bộ Lịch sử Việt Nam dẫn Tấn thư: "Thứ sử Giao Châu và Thái thú Nhật Nam phần nhiều tham lợi, lấn hiếp, mười phần lấy tới hai, ba phần" [9]. Muối với sắt thì nhà nước giữ độc quyền, không cho mua bán tự do [9].
Nhà Hán lại đày tội nhân sang. Tiết Tống viết rằng nhà Hán "dời những người phạm tội ở Trung Quốc sang ở lẫn vào các nơi ấy" [5]. Bộ Lịch sử Việt Nam kể thêm, quan lại, quý tộc người Hán sang đây lập trang trại, chiếm ruộng của dân bản xứ, người mất ruộng thành nông nô, đến cuối thế kỷ 2 thì sử đã chép có nhiều "dân lưu tán", tức là người bỏ làng đi tha phương cầu thực [9].
VI. DÂN TA SỐNG RA SAO?
Sống bằng ruộng là chính. Theo bộ Lịch sử Việt Nam, thời ấy người Giao Châu trồng lúa 2 vụ, trồng lúa nếp để nấu rượu, trồng rau muống thả bè trên mặt nước, trồng cau khắp nơi vì có tục ăn trầu, biết nuôi tổ kiến trên cây cam để kiến ăn sâu. Họ nuôi tằm mỗi năm 8 lứa, dệt vải bằng tơ chuối, ép mía làm đường, lấy vỏ cây trầm làm giấy thơm [9]. Quận Giao Chỉ là vựa lúa, dân Cửu Chân với Hợp Phố phải mua thóc của Giao Chỉ [9].
Ở trị sở thì đông vui hơn nhiều. Giao Châu nằm trên đường biển, các nước ở phía nam và phía tây muốn sang Trung Quốc đều phải ghé qua đây, thành ra có chợ ngọc, chợ hương liệu, có người Hồ, người Ấn Độ buôn bán, giảng đạo [9].
Thư của Viên Huy tả Sĩ Nhiếp đi ra đường thì "đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người" [19]. Người dịch Toàn thư chú rằng người Hồ ở đây là các nhà sư Ấn Độ, Trung Á sang truyền đạo ở Luy Lâu [19]. Cuối đời Hán bên Tàu loạn lạc, Giao Châu lại yên, nên "Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người" [19]. Tức là có lúc người Tàu lại chạy sang ta tị nạn.
Năm loạn thì dân khổ không kể xiết. Năm 860 và năm 863, quân Nam Chiếu từ Vân Nam tràn xuống, Toàn thư chép "Nam Chiếu hai lần chiếm Giao Châu, vừa giết vừa bắt gần 15 vạn người" [13]. Đời Đường có lúc "đói kém loạn lạc liên tiếp, 6 năm không nộp thượng cung", tức là không nộp nổi tiền, lụa sang cho vua Đường [13].
Chữ Hán, lễ nghĩa nhà Nho thì người có học học trước. Nhâm Diên ở Cửu Chân thấy dân nghèo không có sính lễ cưới vợ, bảo quan lại bớt bổng lộc ra giúp, "cùng một lúc lấy vợ có đến 2.000 người" [8]. Ngô Sĩ Liên thì cho rằng "Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương" [19].
Còn dân quê thì vẫn nói tiếng mình, giữ tục mình. Bộ Lịch sử Việt Nam giải thích rằng đường từ kinh đô bên Tàu sang Giao Châu đi nhanh cũng mất 3 tháng, đi chậm thì nửa năm, 1 năm, người Hán di cư phần đông dừng lại ở Lưỡng Quảng, sang được đến đây thì ít, mà sang rồi thì con cháu dần thành người Việt [10]. Lý Bí là 1 ví dụ, Toàn thư chép tổ tiên ông "là người Bắc, cuối thời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam" [20]. Bộ Lịch sử Việt Nam có 1 câu: "nước tuy bị mất nhưng văn hóa làng thì vẫn còn" [10].
VII. SAO DÂN TA VỪA GIẾT QUAN TÀU VỪA LẬP ĐỀN THỜ QUAN TÀU?
Năm 184, nhà Hán cử Giả Tông sang làm thứ sử Giao Châu, vì người trong châu vừa bắt thứ sử Chu Ngung giết đi. Toàn thư chép trước đó các thứ sử thấy đất này lắm ngọc trai, lông trả, sừng tê, ngà voi, đồi mồi, "nhiều người không liêm khiết, vơ vét của cải cho đầy, rồi lại xin đổi đi, cho nên lại dân đều làm phản cả".
Giả Tông đến nơi, hỏi vì sao dân làm phản, thì người ta bảo: "chính lệnh trước thuế má nặng quá, trăm họ không ai không khốn khổ túng thiếu, Kinh sư thì xa, không biết tố cáo vào đâu, dân không sống nổi, nên tụ họp nhau để chống, chứ không thực sự làm phản" [16]. Tông bèn tha bớt thuế, giết kẻ bạo ngược đầu sỏ, chọn quan tốt. Dân ngoài đường đặt câu ca: "Giả phụ lai vãn, sử ngã tiên phản. Kim kiến thanh bình, bất cảm phục bạn", nghĩa là "Bố Giả đến muộn, khiến ta phản trước; Nay thấy thanh bình, không dám phản nữa" [16].
Đọc câu ca ấy thì thấy dân Giao Châu phản là phản ông quan tham, còn vua Hán thì họ vẫn nhận là vua. Kinh đô xa mấy nghìn dặm, có oan không biết kêu ai, thì cầm giáo lên cho triều đình nghe. Gần 1.100 năm sau, Lê Văn Hưu chép sử đến đoạn này cũng viết: "Bắc Kinh đường xa, không biết kêu vào đâu" [16].
Thì đấy, giết Chu Ngung xong, đồn binh người Giao Châu còn "sai người đến cửa khuyết kể tội trạng của Ngung" [16]. Tức là giết quan rồi lại cử người lên tận kinh đô tâu với vua Hán về tội của ông quan ấy! Năm 263, quận lại Lữ Hưng giết Tôn Tư và Đặng Tuân xong cũng lại "xin nhà Tấn đặt Thái thú và cho binh" [18]. Năm 858 có đám dân vây thành đô hộ, đánh trống reo hò: "Xin đuổi Thức về để chúng tôi đóng ở thành này chống giữ quân Hoàng đầu phía Bắc" [13]. Đuổi quan mà vẫn nói là để giữ thành cho triều đình. Hôm sau Vương Thức bắt giết hết.
Gặp được ông quan tốt thì dân thương thật. Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân 4 năm thì bị gọi về, "Người Cửu Chân làm đền thờ. Những người đẻ con đều đặt tên là Nhâm" [8]. Đào Hoàng làm thứ sử, có lần bị điều đi, "Dân địa phương đến hàng nghìn người xin lưu Hoàng lại", ông ở châu 30 năm, đến khi chết thì "cả châu khóc thương như mất cha mẹ hiền" [18]. Triệu Xương làm đô hộ đời Đường, về rồi lại được cử sang lần nữa, "Xương đến, người trong châu đều mừng, loạn bèn yên" [13]. Hơn 160 năm sau khi Sĩ Nhiếp mất, tục truyền người Lâm Ấp đào mộ ông thấy mặt vẫn như sống, người địa phương cho là thần, lập miếu thờ gọi là "Tiên Sĩ Vương" [19].
Như ta thấy, dân thờ cả bà Trưng đánh đuổi Tô Định lẫn ông Nhâm Diên do nhà Hán cử sang. Thiết nghĩ, với người dân cày, ai làm cho mình đỡ thuế, đỡ phu, được yên mà làm ăn thì người ấy đáng thờ, còn người ấy từ đâu đến thì họ không để tâm lắm. Dân thì bao giờ chả thế.
Lật lại sử thì thấy người cầm đầu các cuộc nổi dậy hầu hết là người có của, có họ, có chức. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng, Toàn thư chép bà dấy binh vì "khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình" [1]. Đại Việt sử lược, chép sớm hơn Toàn thư, lại không nhắc chuyện Thi Sách bị giết, chỉ nói "Người vợ tánh rất hùng dũng, có điều làm trái phép, Thái thú Tô Định lấy pháp luật buộc tội. Trưng Trắc giận, bèn cùng với người em gái là Trưng Nhị khởi binh" [21].
Lý Bí "vốn con nhà hào trưởng, thiên tư lỗi lạc, làm quan không được vừa ý". Tinh Thiều giỏi văn chương, sang kinh đô nhà Lương xin làm quan, quan bộ Lại chê "họ Tinh trước không có ai hiển đạt", chỉ cho làm chức Quảng Dương môn lang, tức là coi 1 cái cửa thành, "Thiều lấy làm nhục, trở về làng, theo vua mưu việc dấy binh" [20]. Ô! Chê người ta không có ông cha làm to, giao cho đi gác cổng, thế là người ta về làng theo Lý Bí đánh lại nhà Lương!
Dương Thanh thì "đời đời làm tù trưởng Man", đô hộ Lý Tượng Cổ kiêng dè, gọi về làm nha tướng rồi sai đi đánh người Man ở Hoàng Động, Thanh "nhân thấy lòng người oán giận Tượng Cổ, đang đêm trở về đánh úp châu" [13]. Phùng Hưng "vốn là nhà hào phú", Ngô Quyền thì "đời đời là nhà quý tộc" [13], [17].
Phải thấy rằng, dân cày có oán đến mấy cũng chẳng có của mà nuôi quân, chẳng có họ hàng mà làm vây cánh. Người đủ sức dấy binh là những nhà có thế, mà nhà có thế thì thường dấy binh sau khi bị quan Tàu làm nhục.
Lý Bí gốc người Hán, 7 đời thành người Nam, rồi đứng lên đánh quan nhà Lương. Ngược lại, Đỗ Tuệ Độ là con Đỗ Viện, Toàn thư ghi Viện là "người Chu Diên nước ta" [12]. Tuệ Độ làm thứ sử nhà Tấn, đánh tan Lư Tuần cùng dư đảng của Lý Tốn kết với hơn 5 nghìn dân Lý, Lạo, rồi chặt đầu đóng hòm gửi về kinh đô nhà Tấn [22]. Con Tuệ Độ là Hoằng Văn ốm nặng vẫn cố lên đường sang chầu vua Tống, bảo: "Nhà ta ba đời cầm phù tiết, thường muốn đem mình sang chầu sân vua" [22]. Thế mới biết thời ấy chẳng phân ta với Tàu theo kiểu bây giờ được.
Năm 271, công tào quận Cửu Chân là Lý Tộ giữ thành theo nhà Tấn, cậu của Tộ theo quân nhà Ngô đến khuyên hàng, Lý Tộ đáp: "Cậu là tướng nước Ngô, Tộ là bề tôi nước Tấn, chỉ có thể dùng sức mà đối xử với nhau thôi" [18]. Cậu cháu 1 nhà mà đánh nhau vì 2 triều bên Tàu. Trần Trọng Kim có 1 câu nói về dân bên Tàu, rằng "dân trong nước hễ thấy bên nào mạnh là làm tôi bên ấy" [2]. Đọc sử Giao Châu thì thấy người mình thời ấy cũng chẳng khác.
Mã Viện đánh xong Hai Bà dựng cột đồng làm mốc, tương truyền ông thề rằng cột đồng gãy thì Giao Châu diệt, rồi Toàn thư chép tiếp: "Người Việt ta đi qua dưới cột ấy, thường lấy đá chất vào, thành như gò đống, vì sợ cột ấy gãy" [16]. Người dịch Toàn thư chú rằng chuyện cột đồng chép trong sách Tàu nhiều chỗ không khớp nhau, chưa biết thật hư [16]. Tôi nghĩ sách Tàu chép chuyện ấy là để người đọc tin rằng dân Việt sợ đến mức tự tay chất đá giữ cho cái cột của Mã Viện khỏi gãy.
Năm 42, Mã Viện kéo đến Lãng Bạc, Toàn thư chép quân của bà Trưng "cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh nổi địch, bèn tan chạy" [1]. Bà Triệu năm 248 thì Toàn thư tả bà "vú dài 3 thước, vắt ra sau lưng, thường ngồi trên đầu voi đánh nhau với giặc", lại dẫn sách Giao Chỉ chí chép bà "không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện" [18]. Tức là trong sách Giao Chỉ chí, bà Triệu là 1 thủ lĩnh cướp!
Câu nổi tiếng "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể đông" thì Trần Trọng Kim chép sau mấy chữ "Sử ta chép rằng" [23], tôi lật Toàn thư với Cương mục không thấy. Lạ là Toàn thư lại chép năm 436 có viên tướng nhà Tống là Tông Xác, thường nói "Muốn cưỡi gió lớn mà phá sóng muôn dặm" [24]. 2 câu giống nhau đến thế, mà câu có trong Toàn thư lại là của 1 ông tướng nhà Tống.
VIII. QUAN TÀU SANG ĐÂY NGHĨ GÌ?
Quan Tàu sợ nhất là khí hậu. Năm 138, Lý Cố can vua Hán đừng phát quân sang Nhật Nam, vì "Nam Châu thì trời nắng nực, ẩm thấp lại thêm lam chướng dịch lệ, 10 phần phải chết đến 4, 5 phần" [16]. Đào Hoàng tâu rằng quân ông coi lúc đầu có 8 nghìn, "Vì đất Nam ẩm thấp, có nhiều khí độc, liền năm đánh dẹp, ốm chết hao hụt, hiện nay chỉ còn 2.400 người" [12]. Năm 542, quân Lương sang đánh Lý Bí, đi đến Hợp Phố thì "10 phần chết đến 6, 7 phần" [20].
Năm 628, Đường Thái Tông sai Lư Tổ Thượng sang trấn Giao Châu, hứa 3 năm sẽ gọi về, Tổ Thượng vẫn từ chối, nói: "Đất Lĩnh Nam lam chướng, dịch lệ, đó là cái lẽ đã ra đi thì không trở về". Vua Đường giận, sai chém ngay ở triều đường [13]. Ô! Thà chết chém ở kinh đô chứ nhất định không sang Giao Châu!
Lưu An thì bảo người Việt "khinh bạc, tráo trở, không theo pháp độ, không phải mới có một ngày" [6]. Lý Cố bày kế cho vua Hán là "chiêu mộ người Man Di, khiến họ đánh lẫn nhau" [16]. Lưu Nghiễm thì bảo dân Giao Chỉ "hay làm loạn, chỉ có thể ràng buộc" [17]. Toàn thư chép theo sách Tàu, gọi Mai Thúc Loan là "Tướng giặc" [13], gọi quân của Lý Phật Tử là "giặc cỏ", người dịch phải chú thêm rằng soạn giả đã "dùng sử liệu của Trung Quốc không chỉnh lý" [25]. Tức là sử ta chép lại sách Tàu, chép luôn cả chữ "giặc" người Tàu dùng để gọi ta.
Quan Tàu sang đây phần nhiều "vơ vét của cải cho đầy, rồi lại xin đổi đi" [16]. Đến cuối đời Tùy, thái thú Giao Châu là Khâu Hòa được Lâm Ấp và các nước tặng "những ngọc minh châu, sừng tê văn và vàng bạc của báu, cho nên Hòa giàu như vương giả" [13]. Năm 605, nhà Tùy đem quân đánh Lâm Ấp cũng chỉ vì bầy tôi nói "nước Lâm Ấp có nhiều báu lạ", đánh xong lấy được 18 bộ thần chủ bằng vàng mang về, còn lính thì "thũng chân, mười phần chết đến bốn năm phần" [13].
Thế nhưng ở lâu thì lại sợ dân. Năm 824, đô hộ Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có dòng nước chảy ngược, "sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản", bèn dời cả thành đi chỗ khác [13]. Nước chảy ngược mà cũng sợ dân phản, đủ biết ông ấy ngủ không yên thế nào.
Phải thấy rằng, quan Tàu tham được là vì ở xa. Sang đây làm vài năm rồi về, kinh đô ở tận đâu đâu, chẳng ai kiểm tra nổi. Năm 862, tiết độ sứ Lĩnh Nam là Sái Kinh ghen với Sái Tập, tâu xin rút quân đóng giữ ở An Nam, bảo rằng Nam Chiếu đã đi xa, kẻ vũ phu chỉ muốn cầu công, lại "vì góc lánh đường xa khó bề kiểm soát, nên tha hồ làm việc gian trá" [13]. Triều đình nghe theo, rút quân. Mấy tháng sau Nam Chiếu kéo đến, Sái Tập trúng 10 mũi tên, nhảy xuống biển chết, cả nhà 70 người chết theo, còn dân Giao Châu thì bị giết, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể [13].
Rồi đến khi Cao Biền đánh được Nam Chiếu, giám quân Lý Duy Chu ghét Biền, giấu hết tờ báo tin thắng trận, tâu rằng Biền "ngồi nhìn giặc không chịu tiến" [13]. Như ta thấy, dân Giao Châu sống chết nhiều khi chỉ vì mấy ông quan bên kia ghen ăn tức ở với nhau. Chính Cao Biền cũng nói: "Các đô hộ thời trước không khao thưởng quân sĩ, giữ phép không vững, làm sai lời hứa, trái ước hẹn, mưu lợi riêng, cho nên mọi người đều trễ biếng" [13].
IX. AI CHẤM DỨT BẮC THUỘC?
Bao nhiêu lần dấy binh mà không thành, Ngô Sĩ Liên giải thích: "Nam - Bắc mạnh yếu đều có từng lúc. Đương khi phương Bắc yếu thì ta mạnh, phương Bắc mạnh thì ta cũng thành yếu" [25]. Trần Trọng Kim nói rõ hơn, rằng hễ bên Tàu loạn lạc thì Giao Châu "cũng rục rịch tự lập", song "chỉ vì nước thì nhỏ, người thì ít, mà người trong nước lại không biết đồng tâm với nhau, không hiểu các lẽ hợp quần đoàn thể là thế nào, cho nên không thành công được" [2].
Hai Bà dấy binh lúc nhà Hán vừa yên, chỉ giữ được 3 năm. Lý Bí lập nước Vạn Xuân, kể cả đời Triệu Việt Vương với Hậu Lý Nam Đế thì giữ được 62 năm. Có lúc quân Lương sắp thắng, may gặp loạn Hầu Cảnh bên Tàu, nhà Lương phải gọi tướng về [15]. Đến khi nhà Tùy thống nhất bên Tàu, Lý Phật Tử mới thấy quân Tùy đã xin hàng [25].
Đến cuối thế kỷ 9 thì nhà Đường suy hẳn. Năm 905, 906, người Hồng Châu (Hải Dương) là Khúc Thừa Dụ nắm Giao Châu, nhà Đường đành phong cho chức tiết độ sứ, thêm hàm đồng bình chương sự [26]. Người dịch Đại Việt sử lược chú rằng "Trong thực tế họ Khúc, người bản xứ đã dựng nên một chính quyền độc lập và tự chủ" [21].
Con Thừa Dụ là Khúc Hạo lên thay thì sửa sang việc nước: "chia đặt các lộ, phủ, châu, và xã ở các xứ; đặt ra chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng, bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch; lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị. Nhân dân đều được yên vui" [26]. Ô! Hơn 1.000 năm trước, 2 quan sứ mang sổ hộ tịch ra nộp cho Lộ Bác Đức, nay người Giao Châu tự lập sổ hộ khẩu lấy.
Năm 919, Khúc Thừa Mỹ vẫn sai sứ sang nhà Lương xin cờ tiết tiết độ sứ, vua Nam Hán ở Quảng Châu giận, sai quân sang bắt Thừa Mỹ đem về [17]. Tướng cũ của họ Khúc là Dương Đình Nghệ ở Ái Châu "nuôi 3 nghìn con nuôi, mưu đồ việc khôi phục", đánh đuổi quân Nam Hán [17].
Năm 937, nha tướng Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để cướp chức. Con rể Đình Nghệ là Ngô Quyền từ Ái Châu kéo quân ra đánh. Kiều Công Tiễn bèn "sai sứ sang đút lót để cầu cứu với nhà Hán", vua Nam Hán là Lưu Cung thì "muốn nhân khi nước ta có loạn chiếm lấy nước" [17]. Người rước quân Nam Hán sang lần này là Kiều Công Tiễn.
Quan Nam Hán là Tiêu Ích can vua: "Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được". Lưu Cung không nghe, sai con là Hoằng Tháo đem thuyền chiến vào sông Bạch Đằng. Ngô Quyền bảo các tướng: "Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi" [17].
Rồi ông cho đóng cọc đầu bịt sắt ở cửa biển, đợi nước triều lên thì cho thuyền nhẹ ra đánh rồi giả thua, dụ thuyền Nam Hán vào bãi cọc, nước triều rút thì thuyền giặc mắc cọc lật úp. Hoằng Tháo bị bắt giết, "Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về" [17]. Năm sau Ngô Quyền xưng vương, đặt trăm quan, đóng đô ở Cổ Loa. Lê Văn Hưu khen ông "làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa" [17].
Trần Trọng Kim đếm từ khi Lộ Bác Đức lấy Nam Việt đến khi Ngô Quyền đuổi người Tàu về bắc thì "tính vừa tròn 1.050 năm" [7]. Ai bảo Bắc thuộc chấm dứt từ năm 905 với họ Khúc thì cũng có lý, có điều sử ta xưa nay vẫn lấy mốc Ngô Quyền năm 938.
X. HẾT ĐÔ HỘ RỒI, HỌ CÓ ĐÒI NỮA KHÔNG?
Có. Mà lần nào cũng chờ đúng lúc ta loạn. Năm 980, tri châu Ung Châu nhà Tống là Hầu Nhân Bảo dâng thư: "An Nam Quận Vương cùng với con là Liễn đều bị giết, nước ấy sắp mất, có thể nhân lúc này đem một cánh quân sang đánh lấy". Quan nhà Tống là Lư Đa Tốn thêm vào: "An Nam bên trong rối loạn, đó là lúc trời làm mất" [27]. Lê Hoàn đem quân chặn, sai lính vờ ra hàng để dụ Hầu Nhân Bảo rồi chém [27].
Năm 1075, Vương An Thạch lại tâu vua Tống rằng nước ta vừa bị Chiêm Thành đánh phá, "Quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được", nhà Tống bèn đóng thuyền, tập thủy chiến, cấm các châu không cho mua bán với ta, Lý Thường Kiệt phải đem hơn 10 vạn quân sang đánh trước [28]. Rồi đến Nguyên Mông, Minh, Thanh. Tức là bên kia lúc nào cũng có người ngồi canh xem bên này có loạn không.
Nhưng chỉ có nhà Minh là đô hộ lại được 20 năm, từ 1407 đến 1427. Thời thuộc Minh không tính vào nghìn năm Bắc thuộc. Có điều đọc Toàn thư thì thấy họ làm y như các triều trước, có khi còn kỹ hơn. Tướng Minh là Trương Phụ "lấy một phần ba số hộ khẩu chia về các vệ, sở", tức là bắt 1/3 số hộ đi lính. Quan lại cũ của ta bị dụ ra làm quan rồi đưa sang Yên Kinh giữ lại, "Ở được vài năm, thấy vất vả khổ sở, thỉnh thoảng họ lại trốn về" [29].
Năm 1418, nhà Minh bắt các phủ huyện trồng hồ tiêu, "mỗi cây giống giá tới 5 quan tiền", lại sai người sang "thu lấy lại các loại sách ghi chép về sự tích xưa nay của nước ta", rồi "mở công trường mò ngọc trai, kiếm hương liệu, săn bắt chồn trắng, hươu trắng, voi trắng, tìm lùng rùa chín đuôi, chim đậu ngược, vượn bạc má, trăn, rắn... để dâng nộp" [29]. Vẫn là ngọc trai, hương liệu như thời Sĩ Nhiếp, chỉ thêm rùa chín đuôi.
Sau năm 938, vua ta xưng vương xưng đế ở trong nước, còn với phương Bắc thì vẫn sai sứ, vẫn nộp cống. Năm 972, Đinh Tiên Hoàng sai con là Đinh Liễn "sang sứ thăm nhà Tống" [27]. Ngô Sĩ Liên viết hẳn ra cái phép ấy: nước nhỏ phải "lấy lễ mà thờ nước lớn", khi có giặc thì trước hết "phải dùng lời văn để sửa đổi ý định của họ, dùng lời nói mà bảo họ, lấy lễ vật ngọc lụa mà biếu cho họ. Như thế mà vẫn không tránh được, thì dù đến khốn cùng cũng phải quay lưng vào thành mà đánh một trận, thề tử thủ cùng với xã tắc mất còn" [25]. Tức là nói khéo trước, biếu quà sau, hết cách mới đánh.
Năm 1428, Lê Lợi đánh thắng quân Minh rồi, vẫn sai sứ sang Minh "nộp lễ cống, tượng người vàng thế thân" [29], tức là đúc 1 pho tượng người bằng vàng thay cho thân mình.
***
Kể lại nghìn năm ấy, tôi không có ý chê hay khen ông cha ta. Sử thời ấy phần nhiều do người Tàu chép, sử ta thì chép sau hơn 500 năm, ai chép cũng có cái lý của mình. Tôi chỉ chép lại những gì sử cũ chép, rồi nói cái tôi nghĩ.
Lê Văn Hưu đọc sử thì trách đàn ông nước Việt cúi đầu bó tay, rồi bảo ông muốn được như vua Minh Tông nhà Hậu Đường, thắp hương khấn trời "vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà, để khỏi bị người phương Bắc cướp vét" [16]. Còn dân Giao Châu năm 184, gặp được 1 ông quan bớt tham thì đặt cho ông ấy 1 câu ca: "Bố Giả đến muộn, khiến ta phản trước; Nay thấy thanh bình, không dám phản nữa"…
P/S: Câu "cưỡi cơn gió mạnh" của bà Triệu, ai biết sách nào chép trước Trần Trọng Kim thì chỉ giúp tôi với.
Nguồn:
[1] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển III, kỷ Trưng Nữ Vương, cùng lời bàn của Lê Văn Hưu.
[2] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần II chương 5 Bắc thuộc lần thứ ba, cả lời chú về chức đô hộ.
[3] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển II, kỷ nhà Triệu, năm Canh Ngọ, tức năm 111 TCN, cùng lời bàn của Ngô Sĩ Liên.
[4] - Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tiền biên quyển II, năm 111 TCN, lời cẩn án dẫn sách Thủy kinh chú.
[5] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, kỷ thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, năm Tân Hợi (231), sớ của Tiết Tống.
[6] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển II, kỷ nhà Triệu, năm Bính Ngọ, tức năm 135 TCN, thư của Hoài Nam vương Lưu An.
[7] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần II chương 6 Kết quả của thời Bắc thuộc.
[8] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển III, kỷ thuộc Tây Hán, đoạn chép Tích Quang, Nhâm Diên.
[9] - Lịch sử Việt Nam, tập 1, Từ khởi thủy đến thế kỷ X - Viện Sử học, chương IV, phần tình hình kinh tế và chính sách khai thác, bóc lột của chính quyền đô hộ.
[10] - Lịch sử Việt Nam, tập 1, Từ khởi thủy đến thế kỷ X - Viện Sử học, chương VII Làng xã, mục V Làng xã với sự thành công chống Hán hóa.
[11] - Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tiền biên quyển II, lời chua về 9 quận nhà Hán.
[12] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, kỷ thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, các năm Quý Sửu (353, thư của Đào Hoàng), Tân Tỵ (381), Kỷ Hợi (399), Nhâm Thân (432), cùng chú thích của người dịch về nước Lâm Ấp.
[13] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển V, kỷ thuộc Tùy Đường, các năm 605, 622, 628, 687, 722, 784, 791, 808, 819, 824, 858, 862, 863, 866, 867.
[14] - Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tiền biên quyển IV, lời chua về Ai Lao.
[15] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, kỷ Triệu Việt Vương.
[16] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển III, kỷ thuộc Đông Hán, các năm 43, 138, 184, 186, cùng lời bàn của Lê Văn Hưu và chú thích của người dịch về cột đồng.
[17] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển V, kỷ Nam Bắc phân tranh và kỷ nhà Ngô, cùng lời bàn của Lê Văn Hưu.
[18] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, kỷ thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, các năm Đinh Mùi (227), Mậu Thìn (248), Quý Mùi (263), Tân Mão (271).
[19] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển III, kỷ Sĩ Vương, cùng thư của Viên Huy, lời bàn của Ngô Sĩ Liên và chú thích của người dịch.
[20] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, kỷ nhà Tiền Lý.
[21] - Đại Việt sử lược, quyển I, cùng lời chú của người dịch về họ Khúc.
[22] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, các năm Tân Hợi (411), Canh Thân (420), Đinh Mão (427).
[23] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần II chương 3 Bắc thuộc lần thứ hai, mục Bà Triệu.
[24] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, năm Bính Tý (436).
[25] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV, kỷ Hậu Lý, năm Nhâm Tuất (602), lời bàn của Ngô Sĩ Liên và chú thích của người dịch.
[26] - Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tiền biên quyển V, các năm 905, 906, 907.
[27] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển I, các năm 972, 980, 981.
[28] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển III, năm Ất Mão (1075).
[29] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển IX và quyển X, các năm 1416, 1418, 1428.
Hình: Bản đồ Lĩnh Nam thế kỷ 1, các quận Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (Ảnh: Capon, Wikimedia Commons, giấy phép CC BY 3.0)

Nhận xét
Đăng nhận xét