Chuyển đến nội dung chính

FB. Hung Ngo Manh: LÊ QUANG ĐỊNH VÀ QUỐC HIỆU "VIỆT NAM"

LÊ QUANG ĐỊNH VÀ QUỐC HIỆU "VIỆT NAM" 

Việt nam. Tên nước mình, hai tiếng quen đến mức chẳng ai buồn hỏi nó từ đâu ra. Vậy mà nó đã được đặt ra sau một cuộc cò kè trên đất người, giữa kinh đô nhà Thanh. 

Người đứng ra cò kè là một ông quan văn gầy gò, quê Huế, lớn lên ở phương Nam. Ông tên Lê Quang Định.

Ông sinh năm 1759, ở làng Phú Xuân, Thừa Thiên. Cha mất sớm. Nhà sa sút. Hai anh em chẳng còn gì giữ chân ở quê, nên dắt nhau vào Nam.

Thời điểm ấy chẳng yên ả gì. Tây Sơn nổi lên, chúa Nguyễn tan tác, đất Gia Định đổi chủ liên miên. Người ta chạy giặc còn không kịp. Thế mà cậu thanh niên này vẫn lo chuyện học. 

Ở Gia Định, ông theo học thầy Võ Trường Toản. Thầy là một xử sĩ nổi tiếng, không ra làm quan, chỉ dạy học. 

Học trò thương kính, gọi thầy là bậc "vạn thế sư biểu". Nghe to tát, nhưng nhìn vào lớp học trò của thầy thì thấy xứng. Trong lớp ấy có Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, và Lê Quang Định.

Ba người thân nhau lắm. Họ lập Bình Dương thi xã, ngồi xướng họa thơ, bàn kinh sử. Người sau gọi họ là "Gia Định Tam gia". Một nhóm bạn mà để lại tên trong sử, cũng hiếm.

Năm 1788, Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định. Trước đó ông phải bôn ba cực khổ, có lúc trốn ra đảo, có lúc nhờ cả Xiêm. Giờ có chút đất làm gốc, ông cần người. Ông mở khoa thi tuyển nhân tài.

Lê Quang Định đi thi và đỗ. Đứng thứ hai, sau Trịnh Hoài Đức. Anh bạn thân hơn ông một bậc, và chắc hai người cũng chẳng buồn vì chuyện đó.

Rồi ông vào việc. Làm Hàn lâm viện Thị thư, soạn chiếu chỉ, giấy tờ quân chính cho Nguyễn Ánh. Sau đó giữ việc đồn điền, khuyến nông, khai hoang ở Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Ông lo luôn thuế khóa, kho tàng, lương thảo.

Nghe khô khan, đúng không. Nhưng chiến tranh nào cũng cần cái bụng no. Quân Nguyễn đánh nhau được hơn chục năm là nhờ hậu phương Gia Định thóc gạo đầy kho. Phần công đó có bàn tay của những người như ông. Ít ai nhắc, vì họ không cầm gươm ra trận.

Năm 1802, Nguyễn Ánh thắng. Ông lên ngôi, niên hiệu Gia Long, thống nhất đất nước. Lê Quang Định được cất nhắc làm Thượng thư bộ Binh.

Một ông quan văn, giỏi thơ giỏi chữ, lại cầm bộ Binh? Nhiều người chắc cũng ngạc nhiên. Nhưng vua Gia Long có lý của mình. Ông cần một người cẩn trọng, trung thành, biết giữ kỷ cương cho quân đội sau mấy chục năm loạn lạc. 

Tài cầm quân thì ông có đầy tướng. Cái thiếu là người biết sắp xếp.

Chưa hết. Chính năm ấy, nhà vua lại giao cho ông một việc còn nặng hơn.

Tháng tám năm Nhâm Tuất, Gia Long cử sứ bộ sang nhà Thanh. Thời ấy là vua Gia Khánh. Lê Quang Định làm Chánh sứ. Hai Phó sứ đi cùng là Nguyễn Gia Tường và Phạm Trường Phát.

Việc phải làm có hai. Thứ nhất, báo tin đất nước đã thống nhất và xin được sách phong. Thứ hai, xin đổi quốc hiệu thành "Nam Việt".

Vì sao lại là Nam Việt? Vì chữ "Nam" chỉ đất Nam Hà, cội nguồn của chúa Nguyễn. Còn chữ "Việt" là đất Việt cũ, vùng Bắc Hà vừa thu về. Hai nửa ghép lại, ý nghĩa là cả nước một nhà. Cái tên được tính toán kỹ.

Nhưng nhà Thanh không dễ gật đầu. Họ nhớ ngay đến Nam Việt của Triệu Đà thời xưa. Nước ấy từng gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây. Nghe tên "Nam Việt" mà triều đình Bắc Kinh yên tâm sao được. Họ sợ người ta đòi lại đất cũ.

Hình dung cảnh ấy mà thấy căng. Một sứ thần từ phương Nam xa xôi, đứng giữa triều đình đang nghi ngờ mình. Chỉ một câu nói hớ, cả sứ mệnh hỏng.

Lê Quang Định không hớ. Ông nói chậm, giải thích rõ từng chữ. Chữ "Nam" là đất gốc của họ Nguyễn. Chữ "Việt" là đất Việt của tổ tiên. Không hề dính đến đất Triệu Đà. 

Ông thông kinh sử nên dẫn điển tích vững vàng. Thái độ lại mềm mỏng, nhưng không lùi.

Cuối cùng nhà Thanh nhượng bộ một nửa. Họ không chịu "Nam Việt". Họ đồng ý đảo lại thành "Việt Nam". 

Hai chữ y nguyên, chỉ đổi chỗ. Nhưng với họ, thế là khác hẳn. Còn với ta, thế là đủ.

Năm 1804, sứ giả nhà Thanh sang ban sắc phong. Quốc hiệu Việt Nam chính thức được công nhận. Cũng từ đó, hai tiếng ấy theo dân tộc đến tận hôm nay.

Có người sẽ bảo, chỉ là đảo chữ thôi mà. Nhưng đời có những chuyện nhỏ, nhỏ mà giữ được cả một đất nước. Đó là kỳ tài.

Đi sứ về, ông không nghỉ. Năm 1806, ông dâng vua bộ "Hoàng Việt nhất thống dư địa chí". Mười quyển. Đây là bộ dư địa chí chính thức đầu tiên của triều Nguyễn.

Ông làm sách không ngồi một chỗ. Ông gom tấu sớ, bản đồ, sổ sách từ khắp các trấn, các phủ. Rồi ông tự mình đi kiểm tra những tuyến đường quan trọng. Trải qua mấy chuyến ấy, ông hiểu đường sá nước mình như lòng bàn tay.

Sách ghi đường bộ, đường thủy. Từ kinh đô Phú Xuân, một nhánh đi ra Bắc đến cửa ải Nam Quan ở Lạng Sơn. Một nhánh đi vào Nam đến tận Hà Tiên, Cà Mau. 

Mỗi con đường đều có khoảng cách tính bằng dặm, bằng trạm. Chỗ nào có núi sông, cầu cống, chỗ nào đóng quân, địa giới ra sao, đều ghi hết. Còn có cả sản vật, phong tục, di tích từng nơi.

Với triều đình, đây là cuốn cẩm nang. Vận chuyển lương thực, điều quân, cai trị, đều cần đến nó. 

Với hậu thế, nó còn hơn thế. Nó là bằng chứng sống rằng đầu thế kỷ XIX, đất nước đã liền một dải từ Bắc chí Nam.

Ông còn làm thơ. Tập thơ chữ Hán "Cần Trai thi tập" ghi lại tình bạn với hai người bạn Gia Định, và cả nỗi lòng trên đường đi sứ. Giọng thơ điềm đạm, trang nhã, thấm tình quê hương. 

Một người cả đời lo thuế má, đường sá, ngoại giao, mà vẫn giữ được chất thơ. Quý chỗ đó.

Năm 1810, ông làm Thượng thư bộ Lại, đứng đầu ngạch quan văn. Người ta nhớ ông là vị quan liêm chính, chuộng việc tuyển người tài, giữ kỷ cương triều chính.

Năm 1813, ông mất ở Huế, mới 54 tuổi. Vua Gia Long thương tiếc, ban gấm vóc, tiền bạc, cử quan lo tang lễ.

Ông đi sớm. Nhưng nhìn lại, mấy việc ông làm vẫn còn đó. Tên một nước. Một bộ sách địa lý. Mấy tập thơ. Chừng ấy đủ cho một đời người, phải không?

Copy từ Facebook Hung Ngo Manh 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

VÌ SAO LÀNG BÁO VIỆT VỊ VỀ "CHUYỆN VỚI THANH"?

Link: https://www.facebook.com/share/p/14bTWDhbQqD/ 🔏VÌ SAO LÀNG BÁO VIỆT VỊ VỀ "CHUYỆN VỚI THANH"?  1. Bà hàng nước rốn rùa thủ thỉ kể: Theo bản tin của thông tấn xã vỉa hè, sơ bộ khoảng 20 tờ báo đăng tin bài khen ngợi "Chuyện với Thanh" của tác giả Nguyễn Thành Nam do Nxb Hội Nhà văn phát hành. Đã có 31 tin bài phải gỡ bỏ và các báo buộc phải đính chính, xin lỗi bạn đọc. Một sự kiện vô tiền khoáng hậu dịp Báo chí Cách mạng Việt Nam sinh nhật 101 tuổi.  Hầu hết các báo lớn của Trung ương và địa phương đều thủng lưới: Nhân dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Văn hoá, Dân trí, Vietnamnet, VNXpress, Sài Gòn giải phóng... và cả Đăk Lăk trên đỉnh Tây Nguyên.  Những chiến sĩ canh gác trên mặt trận văn hoá ê chề thất thủ. Có tờ báo đứng đầu binh chủng cũng lập kỷ lục đá phản lưới nhà tới 6 bàn liên tiếp. Lại có cầu thủ vừa đá phản lưới nhà vừa làm tung lưới đội đá thuê. Cú sút nào cũng mãn nhãn!  2. Vì sao các báo thủng lưới hàng loạt như vậy?  Nguyên nhâ...

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...