Người Nam cần biết sử Nam:
CÔNG TRẠNG TO LỚN CỦA NÀNG NGỌC VẠN: MỞ ĐẦU VIỆC ĐỊNH CÕI NƠI MIỀN CHÂU THỔ ĐỒNG NAI - CỬU LONG !
* Chỉ 134 NĂM (tính từ 1623 khi có mặt di dân người Việt tại vùng Thủy Chân Lạp, đến 1757). Nếu tính từ "cột mốc" chánh thức đặt chủ quyền đầu tiên nơi Thủy Chân Lạp vào năm 1698 cho tới năm 1757 hoàn tất xác lập chủ quyền toàn vùng, CHỈ KHOẢNG 60 NĂM THÔI, MÀ SÁP NHẬP ĐƯỢC TOÀN MIỀN CHÂU THỔ VÀO LÃNH THỔ NƯỚC NAM!
MỘT TỐC ĐỘ NHANH KỶ LỤC TRONG DÒNG SỬ ĐỊNH CÕI, được xác lập bởi dòng tộc các CHÚA NGUYỄN!
/1/ Sẵn nhắc câu chuyện được nhắc đi nhắc lại về nàng Huyền Trân đầu thế kỷ 14.
Năm 1306, sính lễ cầu hôn của vua Chế Mân của nước Chiêm Thành để đưa nàng Huyền Trân về làm vợ là dâng đất châu Ô, châu Rí (dùng chữ Hán thì KHÔNG có âm HV gọi "Rí" mà chỉ có "Lý"), nói theo tên sau này cho dễ hình dung là đất Quảng Trị, Thừa Thiên.
Trước kia, năm 1069 vùng đất Quảng Bình (thuộc Chiêm Thành) sáp nhập vào triều đình nhà Lý. Như vậy sau Quảng Bình, phải trải qua thời gian dài 237 năm (từ 1069 đến 1306) thì Quảng Trị và Thừa Thiên mới thuộc chủ quyền "Đại Việt".
Nếu tính cương vực lãnh thổ khi thoát khỏi Bắc thuộc, vào năm 938, về phía nam chỉ tới Hà Tĩnh. Mở đất thêm - gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - phải mất tới 368 năm (từ 938 đến 1306)!
* Một năm sau khi đưa nàng Huyền Trân về Chiêm Thành, năm 1307 vua Chế Mân qua đời. Tháng sáu trong năm, vua được hỏa táng. Vua Trần Anh tông lập mưu gọi là cử tướng "cứu" Huyền Trân khỏi hỏa thiêu, đưa về nước.
Kỳ thực, theo phong tục Chàm, lên giàn hỏa phải là chánh cung và tự nguyện. Hoàng hậu Tapasi - gốc người Java – đã được đưa về nước sau ngày vua Chế Mân từ trần. Trong khi đó, nàng Huyền Trân không phải chánh cung nên không nằm trong phong tục đưa lên giàn hỏa để cùng chết theo vua.
Ai oán thay, ngay sau khi về tới Thăng Long, Huyền Trân được đưa vào ở trong chùa, xuất gia luôn khi nàng chỉ mới ngoài 20 tuổi (sinh năm 1287, đến 1307 được 20 tuổi). Con trai của nàng với vua Chế Mân là Thế tử Chế Đa Đa, trở thành mồ côi bé bỏng, không hề đuợc sử sách nhắc tới.
/2/ Còn NGỌC VẠN?
2a) Là con gái của chúa Sãi (Nguyễn Phước Nguyên). Năm 1620, nàng được gả cho vua Chân Lạp (Khmer) là Chey Chetta II (tiếng Việt gọi “Nặc Dĩ"). Ngọc Vạn trở thành Hoàng hậu nước Chân Lạp.
* Có một sự kiện cũng xảy ra năm 1620, rất đáng-chú-ý: đời chúa Nguyễn thứ nhì, chúa Sãi, quyết định hoàn toàn đoạn tuyệt với việc nộp thuế cho triều đình Đàng Ngoài (đời chúa thứ nhứt, chúa Tiên, còn nộp thuế), không nhận sắc phong từ Đàng Ngoài.
Kể từ đời chúa Sãi trở đi, ĐÀNG TRONG trở thành xứ sở hoàn toàn tự chủ trong các chính sách nội trị và bang giao quốc tế.
2b) Năm 1623, vua Chân Lạp Chey Chetta II đã theo lời Hoàng hậu Ngọc Vạn mà chấp thuận cho chúa Sãi (cha vợ) lập dinh điền ở Mô Xoài (gần Bà Rịa ngày nay), lập đồn thâu thuế ở Prei Nokor (được biến âm thành "Sài Gòn").
Nhiều di dân người Việt từ miền duyên hải đã đến miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long (bấy giờ còn thuộc chủ quyền Chân Lạp) để khai khẩn, làm ăn. Việc này hết sức thuận lợi nhờ vai trò Ngọc Vạn làm Hoàng hậu Chân Lạp.
2c) Năm 1628, vua Chey Chetta II ("Nặc Dĩ") qua đời, triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra những cuộc tranh chấp ngôi báu đẫm máu giữa các phe phái.
Đây, xin không tỉ mỉ về những cuộc tranh chấp.
Điều NỔI BẬT cần ghi nhận, ở đây, là Ngọc Vạn - trên cương vị Thái hậu - đã giúp cho các chúa Nguyễn trong dòng tộc ngày càng TẠO ẢNH HƯỞNG QUAN TRỌNG trong nhiều triều vua bên Chân Lạp!
Bằng cách nào? Các chúa Nguyễn dùng quân lực giúp đỡ phe phái trong triều đình Khmer (Chân Lạp); giúp phe nào thì phe đó thắng, lên ngôi báu. Vua Chân Lạp, nhờ cậy dựa chúa Nguyễn, đền đáp bằng cách triều cống hàng năm cho triều đình Phú Xuân.
... Năm 1674, bấy giờ ngoài vua Chân Lạp làm chánh vương tại kinh đô, còn có một phó vương đóng tại Prei Nokor (tức "Sài Gòn"; có sách ghi "Sài Côn", kỳ thực họ thiếu chú ý đây là chữ Nôm theo cấu tạo "dị âm dị nghĩa", tức mượn nguyên dạng chữ Hán mà âm HV "Sài Côn" NHƯNG đọc theo âm Nôm (dị âm) là SÀI GÒN, và nghĩa gốc từ tiếng Khmer "Prei Nokor" là lâm quốc).
Khi Nặc Ông Nộn, cháu của thái hậu Ngọc Vạn, về làm phó vương đóng tại Sài Gòn, thái hậu (lúc này đã khoảng 70 tuổi) theo về ngụ ở đây một thời gian. Sau đó Ngọc Vạn về núi Chứa Chan (Biên Hòa) lập chùa trên núi Gia Lào.
Một nguồn khác cho biết thái hậu Ngọc Vạn lại dời về chùa Kim Cang ở Vĩnh An (Đồng Nai). Hiện nay tại đây có tháp Phổ Đồng với bia tưởng niệm NGỌC VẠN (*).
2d) Sau khi thái hậu Ngọc Vạn qua đời, đến năm 1698 chúa Nguyễn Phước Châu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược, và CHÁNH THỨC xác lập chủ quyền tại Sài Gòn - Đồng Nai. Đây là cột mốc ĐẦU TIÊN về chủ quyền tại miền châu thổ.
CHỈ trong vòng 60 NĂM, đến năm 1757 thì hoàn tất chủ quyền toàn miền châu thổ (sau này gọi Nam Kỳ, hiện nay gọi Nam Bộ).
/3/ THẤY GÌ?
Hơn 50 năm ở ngôi hoàng hậu rồi thái hậu nước Chân Lạp (Chenla, sau này đổi thành Kampuchea), NGỌC VẠN không can dự vào công cuộc trị nước của triều đình Chân Lạp.
NHƯNG, do uy tín và ảnh hưởng cá nhân của bà đối với triều đình và người dân Chân Lạp, ý kiến của thái hậu Ngọc Vạn thường đóng vai trò HỆ TRỌNG trong những cuộc tranh ngôi báu.
Triều đình Phú Xuân của CHÚA NGUYỄN tại ĐÀNG TRONG, can dự vào nội tình Chân Lạp buổi khởi đầu nhờ "ý kiến tư vấn" của Ngọc Vạn, đã được đền tạ lần lượt bằng đất đai do các vua Chân Lạp dâng, cho!
THAY LỜI KẾT
(a) Miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long, xin chú ý, được thủ đắc chủ quyền chánh yếu bằng GIẢI PHÁP HÒA BÌNH.
(từng vùng đất nào do vua Chân Lạp nào đền tạ, vào năm nào - hết thảy đều được ghi tỉ mỉ; do khuôn khổ fb nên tôi không nêu ra đây)
Từ thủ đắc chú quyền Sài Gòn - Đồng Nai cho tới lúc thủ đắc toàn bộ miền châu thổ (về sau gọi Nam Kỳ, rồi Nam Bộ), chỉ cần 60 NĂM là xong!
Cần phải nhấn mạnh, để thấy TÀI TRÍ CỦA TRIỀU ĐÌNH VÀ NGƯỜI DÂN ĐÀNG TRONG đáng kính nể!
(b) Vai trò của NGỌC VẠN đáng phải khắc ghi, trân trọng (như đã diễn giải trong bài).
*&*
Rất đáng ngượng, khi cách-nhìn-lịch-sử phiến diện vẫn đè nặng, vẫn bị chi phối bởi cách nhìn thiên lệch.
Nhìn phiến diện thì không ích gì cho sự phát triển đất nước.
-----------------------------------------------
(*) Tháp Phổ Đồng (Đồng Nai) với bia tưởng niệm NGỌC VẠN (hình hàng trên); ngoài ra còn nguồn cho rằng Ngọc Vạn trở về quê quán ngoài Huế, có đắp mộ.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét