SỰ KHÁC BIỆT TRONG LỊCH SỬ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ GIỮA MỸ VÀ ANH
________________________________________
THÀNH PHỐ MỸ
Truyền thống lưới ô vuông ở Mỹ có gốc rễ còn sớm hơn nhiều so với thế kỷ 19, và một trong những ví dụ đầu tiên lại gắn liền với chính kinh nghiệm ở nước Anh.
Năm 1682, William Penn cùng nhà khảo sát Thomas Holme vẽ thành phố thuộc địa của ông theo lưới ô vuông với 5 quảng trường công cộng xen kẽ, một kế hoạch thường được giải thích bởi nhiều mục tiêu cùng lúc: tạo trật tự đô thị, cải thiện thông gió và vệ sinh, có không gian công cộng, hạn chế cháy lan và thuận tiện cho việc phân lô bán đất, trong bối cảnh những lo ngại đương thời về hỏa hoạn và dịch bệnh ở nước Anh, nơi Penn từng sống qua giai đoạn đại dịch và đại hỏa hoạn nói trên.
Năm 1733, James Oglethorpe và William Bull thành lập một thuộc địa khác theo một hệ thống mô-đun gồm nhiều khu (ward) xoay quanh quảng trường trung tâm, mỗi khu lại chia thành các lô nhà ở và lô đất công, cho thấy đây đã là một truyền thống quy hoạch ăn sâu từ trước cả khi nước Mỹ độc lập chứ không phải phát minh đơn lẻ của thế kỷ 19.
Nền tảng pháp lý cho việc mở rộng lưới ô vuông ra toàn lãnh thổ là Land Ordinance được Quốc hội Liên bang thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1785, gắn liền với công việc khảo sát thực địa của Thomas Hutchins, người sau đó trở thành Geographer of the United States, quy định đất công ở phía tây phải chia thành các ô vuông 6 dặm mỗi cạnh gọi là township, mỗi township lại chia thành 36 lô vuông 1 dặm cạnh, với đơn giá tối thiểu 1 đô la một mẫu Anh nhưng đơn vị bán nhỏ nhất ban đầu là trọn một lô 640 mẫu, tức khoảng 640 đô la mỗi lần mua.
Cùng logic đó sau này lặp lại ở quy mô đô thị lớn: năm 1811, khi dân số Manhattan đã tăng gấp ba trong 20 năm trước đó, bang New York chỉ định một hội đồng ba ủy viên gồm Gouverneur Morris, Simeon De Witt và John Rutherfurd để vạch đường cho toàn bộ phần đất còn lại phía bắc, với John Randel Jr., khi đó mới 20 tuổi, phụ trách phần đo đạc thực địa trong suốt thời hạn 4 năm được giao.
Bản kế hoạch chọn kiểu ô vuông thẳng góc vì cho rằng nhà hình chữ nhật góc vuông rẻ nhất để xây và tiện nhất để sống, đồng thời dễ phân chia mua bán, thuận lợi cho giao thông và thoát nước, tránh các tranh chấp phức tạp của đường chéo hay đường cong, dù các ủy viên vẫn phải cho công nhân xử lý đá gốc, dốc núi và đầm lầy khi thi công, và đại lộ Broadway vẫn được giữ lại như một ngoại lệ chạy chéo xuyên qua lưới.
Theo ước tính của một nhà nghiên cứu địa lý lịch sử, hơn 700 công trình đã phải phá dỡ hoặc di dời trong quá trình mở đường, gây ra làn sóng phản đối trong đó có Clement Clarke Moore, tác giả một bài thơ nổi tiếng về đêm Giáng sinh, vì mạng đường mới khiến một phần điền trang của ông ở Chelsea bị trưng dụng và chia cắt.
________________________________________
NGOẠI Ô MỸ: MỘT Ý TƯỞNG CỦA NGƯỜI ANH ĐƯỢC MỸ HÓA CHO THỜI Ô TÔ
Kiểu đường cong nhiều ngõ cụt ở ngoại ô Mỹ hiện nay bắt nguồn từ ý tưởng "thành phố vườn" do nhà cải cách xã hội người Anh Ebenezer Howard đề xuất năm 1898, nhưng chính người Mỹ mới là người biến nó thành mô hình thương mại đại trà.
Trong hai năm 1928 và 1929, hai nhà quy hoạch Clarence Stein và Henry Wright áp dụng ý tưởng đó vào một khu dân cư mới ở New Jersey, được quảng cáo là "thị trấn cho thời đại ô tô", với các nguyên tắc cốt lõi là chia khu dân cư thành từng "siêu khối" lớn, tách hoàn toàn giao thông cơ giới khỏi người đi bộ bằng một hệ thống đường đi bộ riêng dẫn tới trường học và công viên, còn ở nhiều dãy nhà thì nhà quay lưng ra đường lớn và mặt hướng vào không gian xanh chung, xe ra vào bằng các ngõ cụt hoặc đường vòng cục bộ nối vào đường gom lớn hơn.
Mô hình này lan rộng mạnh nhờ nhiều yếu tố cộng hưởng, trong đó có lý thuyết "đơn vị lân cận" của Clarence Perry, ảnh hưởng lan tỏa từ phong trào thành phố vườn, nhu cầu hạn chế giao thông xuyên khu và giá đất ngoại ô rẻ khi ô tô phổ biến, và được củng cố thêm khi năm 1936 cơ quan bảo lãnh vay mua nhà liên bang đưa sơ đồ ngõ cụt kiểu này vào sách hướng dẫn cho vay, góp phần khuyến khích mạnh các nhà phát triển bất động sản đi theo hướng đó nếu muốn dự án dễ được bảo lãnh vốn.
Cuốn sách hướng dẫn năm 1936 đó còn đi xa hơn việc quy định hình dạng đường: nó đánh giá rủi ro cho vay dựa trên nhiều yếu tố như vị trí, chất lượng xây dựng, hạ tầng giao thông, trong đó có tiêu chí cho rằng một khu dân cư giữ được sự ổn định về giá trị bất động sản khi thành phần chủng tộc và xã hội của cư dân không thay đổi, còn sự thay đổi đó bị liệt vào nhóm "ảnh hưởng bất lợi" cần được các quy định trong chứng thư đất ngăn chặn.
Cơ chế đánh giá đó, cùng với các hợp đồng hạn chế chuyển nhượng theo chủng tộc, chính sách phân khu và thực hành cho vay của ngân hàng thương mại, khiến các khu ngõ cụt mới xây ở ngoại ô có xu hướng đồng nhất hơn về sắc tộc so với khu trung tâm cũ, nên làn sóng di dân ra ngoại ô sau chiến tranh không chỉ là câu chuyện về hình dạng con đường mà còn gắn chặt với cách vốn liên bang được phân bổ.
Giới quy hoạch sau này cũng chỉ ra một nhược điểm kỹ thuật ít ai để ý của mô hình này: dạng ngõ cụt hình đầu búa khiến xe cứu hỏa và xe tải lớn rất khó quay đầu, một cái giá âm thầm phải trả cho sự yên tĩnh của khu dân cư.
________________________________________
THÀNH PHỐ ANH
Các thành phố Anh phần lớn lớn lên từ thời trung cổ, đường sá hình thành dần theo ranh giới đất tư, lối mòn của người đi bộ và địa hình tự nhiên chứ không do một cơ quan nào vẽ sẵn từ đầu.
Một phần nguyên nhân sâu xa là hệ thống sở hữu đất theo kiểu bất động sản gia tộc: nhiều dòng họ quý tộc hoặc tổ chức giáo hội nắm giữ quyền sở hữu những vùng đất rộng lớn qua nhiều thế hệ, rồi cho thuê dài hạn từng lô nhỏ để các nhà phát triển tự xây dựng theo ý riêng, khiến thành phố lớn lên thành từng mảnh ghép rời rạc thay vì theo một bản vẽ tổng thể.
Bằng chứng rõ nhất cho việc điều này ăn sâu đến mức nào nằm ở một sự kiện cụ thể: một trận đại hỏa hoạn năm 1666 đã thiêu rụi hơn 13.000 ngôi nhà và 87 nhà thờ giáo xứ, phá hủy gần như toàn bộ khu trung tâm cổ trong khoảng 176 hecta chỉ trong 4 ngày.
Chỉ vài ngày sau khi lửa tắt, ít nhất năm phương án tái thiết khác nhau đã được trình lên nhà vua, nổi bật nhất là bản vẽ của kiến trúc sư triều đình Christopher Wren, trình ngày 11 tháng 9 năm đó, cùng đề án của nhà văn kiêm nhà quan sát xã hội John Evelyn và các phương án của Robert Hooke, Valentine Knight, Richard Newcourt, tất cả đều đề xuất phố rộng, quảng trường và trục đường thẳng theo kiểu hình học.
Nhưng toàn bộ các phương án đó đều bị gạt bỏ, không phải chỉ vì cư dân muốn giữ ranh giới đất cũ mà còn vì tranh chấp quyền sở hữu chồng chéo, chi phí bồi thường và giải phóng mặt bằng quá lớn, nhu cầu khôi phục hoạt động thương mại càng nhanh càng tốt, và thẩm quyền của chính quyền trung ương khi đó quá hạn chế so với lợi ích của giới chủ đất và thương nhân.
Đạo luật tái thiết được ký ban hành tháng 2 năm sau đó cho phép nới rộng một số tuyến phố theo nhiều cấp độ khác nhau và tổ chức lại một số không gian công cộng, nhưng phần lớn mạng lưới đường vẫn giữ đúng hướng cũ, cho thấy ngay cả một cơ hội vẽ lại gần như từ đầu một khu trung tâm bị phá hủy gần hoàn toàn cũng không đủ sức thắng được cấu trúc sở hữu đất đã tồn tại từ trước, đó là điểm khác biệt gốc rễ so với cách người Mỹ làm quy hoạch.
________________________________________
NGOẠI Ô ANH
Ý tưởng "thành phố vườn" năm 1898 được hiện thực hóa gần như ngay lập tức ở chính nước Anh: năm 1903 thị trấn vườn đầu tiên ra đời cách trung tâm khoảng 50 km, đất đai do một công ty nắm giữ và cho thuê dài hạn vì lợi ích cộng đồng thay vì bán đứt cho từng cá nhân, và năm 1920 thị trấn thứ hai được xây dựng theo cơ cấu gần với ý tưởng nguyên bản của Howard hơn.
Hai thị trấn tiền chiến này về sau trở thành hình mẫu ảnh hưởng tới làn sóng thị trấn mới mà chính phủ Anh xây dựng sau chiến tranh nhằm giãn dân khỏi các đô thị lớn quá tải, dù bản thân chúng ra đời từ trước và không phải là sản phẩm trực tiếp của chính sách hậu chiến, và nhiều thị trấn mới đợt đầu sau đó bị chê là quá cứng nhắc, thiếu không gian cho phát triển tự nhiên.
Rút kinh nghiệm đó, một thị trấn mới được chỉ định vào năm 1967 đã đi theo hướng hoàn toàn khác, khi đội quy hoạch do kiến trúc sư Richard Llewelyn-Davies dẫn đầu tham khảo ý kiến nhà lý thuyết đô thị người Mỹ Melvin Webber và chủ đích lấy cảm hứng từ lưới đường kiểu Mỹ cho bản kế hoạch công bố năm 1970.
Thay vì copy nguyên bản kiểu ô vuông thẳng góc, họ làm mềm nó thành cái mà chính đội thiết kế gọi là một "lưới lười biếng" gồm 11 tuyến chạy gần như bắc nam và 10 tuyến chạy gần như đông tây, uốn theo thung lũng và một phần men theo tuyến đường La Mã cổ Watling Street thay vì cắt thẳng góc cứng nhắc như ở Mỹ.
Giới phê bình khi đó từng châm biếm gọi thị trấn này là phiên bản thu nhỏ của một đô thị nổi tiếng vì phụ thuộc ô tô ở bờ Tây nước Mỹ, và chính đặc điểm lưới đường khác thường ấy khiến nó trở thành ngoại lệ dễ nhận ra so với phần lớn ngoại ô Anh còn lại, nơi vẫn giữ mạng đường cong tự nhiên nhưng không theo cấu trúc ô lưới rõ rệt như vậy.

Nhận xét
Đăng nhận xét