Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam!
Báo chí Philippines vừa loan tin: Đảo Thị Tứ (Pag-asa) không còn không được bảo vệ: Philippines vừa cắm cờ vĩnh viễn tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam
Việc Manila kích hoạt trụ sở khu vực cảnh sát biển trên đảo Thị Tứ là quá trình củng cố cái gọi là chủ quyền diễn ra từ từ. Một chuẩn đô đốc tại chỗ, một tàu thường trực, nạo vét cảng, nâng cấp các trạm biến áp – mỗi chi tiết đều được tính toán kỹ lưỡng. Đây là cách các quốc gia nhỏ hơn (Philippines) chống lại các cường quốc (Trung Quốc).mà không gây ra chiến tranh. Philippines không thể sánh được với hải quân Trung Quốc. Vì vậy, họ xây dựng sức mạnh trên thực địa. Sự hiện diện của lực lượng cảnh sát biển dân sự khó bị tấn công hơn so với một đồn quân sự. Điều này làm rối loạn các lựa chọn leo thang của Bắc Kinh đồng thời củng cố vị thế pháp lý của Manila theo phán quyết trọng tài năm 2016. Việc đổi tên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa tháng trước chỉ mang tính biểu tượng. Đây là bước đi mang tính cấu trúc. Hòn đảo giờ đây có trọng lượng thể chế lâu dài.
Bắc Kinh có thể sẽ tăng cường cảnh báo vô tuyến, theo dõi tàu thuyền và các vụ phun vòi rồng. Nhưng Manila đã tính toán rằng sự đối đầu nhất quán, được ghi nhận sẽ xây dựng lập trường quốc tế của họ - và duy trì sự ủng hộ của các đồng minh tốt hơn bất kỳ sự nhượng bộ nào.
-------
Philippines hoàn toàn không có chủ quyền trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã ký Sắc lệnh hành pháp (EO) số 111, chuẩn hóa tên gọi của Philippines cho 131 thực thể hàng hải trong quần đảo Kalayaan (KIG) ở Biển Tây Philippines (Quần đảo Kalayaan -KIG- chính là quần đảo Trường Sa của Việt Nam).
Theo Hiệp ước hòa bình Paris 1898 giữa Mỹ và Tây Ban Nha, lãnh thổ Philippines không bao gồm quần đảo Trường Sa.
Hiệp ước phòng thủ chung Phi-Mỹ 1951 thì quần đảo Trường Sa không nằm trong không gian phòng thủ Phi-Mỹ (1).
Nhìn trở lại lịch sử, một số chi tiết cần được nhắc lại như sau:
Ngày 17 tháng 5 năm 1949, Tổng thống Philippines là Quirino tuyên bố: “Quần đảo Trường Sa nên thuộc về Philippines vì nó ở gần Philippines” và thừa nhận các trạm khí tượng do Pháp xây dựng ở quần đảo Hoàng Sa (trạm Phú Lâm 48859, trạm Hoàng Sa 48860) và ở quần đảo Trường Sa (trạm Ba Bình 489189).
Năm 1951, Philippines bắt đầu chuẩn bị dư luận để nhảy vào tranh chấp quần đảo Trường Sa. Chính phủ Philippines đã tán thành lời tuyên bố của ông Zi Tomas Cloma, một công dân Phi cho rằng ông ta đã khám phá ra quần đảo Trường Sa và tuyên bố thành lập một “xứ tự do” bao gồm tất cả quần đảo này.
Ngày 15/3/1956, Philippines cho tàu chở một số sinh viên do thuyền trưởng Filemon Cloma chỉ huy đến cắm cờ Philippines tại một số đảo ở Trường Sa.
Ngày 19/5/1956, trong một cuộc họp báo tại Manila, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Carlos P.Garcia tuyên bố nhóm đảo phía Đông của Trường Sa trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa phải thuộc về Philippines.
Từ năm 1971 đến 1973, lợi dụng cơ hội Việt Nam đang trong tình trạng chiến tranh, Philippines đã cho quân chiếm trái phép 5 đảo ở phía Bắc và phía Đông Bắc quần đảo Trường Sa là: Vĩnh Viễn, Bình Nguyên, Loại Ta, Thị Tứ và Song Tử Đông mà họ gọi là: Lawak, Patag, Kota, Pagasa và Parola.
Ngày 10 tháng 7 năm 1971, trong một cuộc họp báo tại Manila, Tổng thống Philippines, Ferdinand Marcos đã tố cáo quân đội Đài Loan xâm chiếm đảo Ba Bình và nổ súng vào tàu của Philippines đến gần đảo, đồng thời đòi Đài Loan rút quân khỏi đảo Ba Bình.
Ngày 5 tháng 2 năm 1974, Philippines phản đối Việt Nam Cộng hòa đưa quân ra 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ của mình tại Manila, Chính quyền Sài Gòn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa.
Từ năm 1977 đến năm 1978, Philippines cho quân chiếm đóng trái phép thêm hai đảo nữa là Đảo Dừa (Bến Lạc) và Cồn San Hô Lan Can mà họ gọi là Likas và Panata, nâng tổng số đảo họ chiếm lên 7 đảo. Họ ra sức củng cố vị trí của mình tại 7 hòn đảo này bằng cách chở đất ra để trồng dừa, cạp thêm đất đắp đảo để làm đường băng cho máy bay chiến đấu, tổ chức đánh cá, xây dựng kho ướp lạnh, tổ chức thăm dò khai thác dầu khí tại Bãi Cỏ Rong nằm ở phía Đông Bắc quần đảo Trường Sa.
Tháng 9 năm 1977, trong chuyến viếng thăm Philippines, Thủ tướng Việt Nam Phạm văn Đồng đã đồng ý với Tổng thống Philippines, Ferdinand Marcos rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng thương lượng hòa bình.
Ngày 11 tháng 6 năm 1978, Tổng thống Philippines ký sắc lệnh số 1596 coi toàn bộ quần đảo Trường Sa gồm 60 đảo, bãi đá ngầm (trừ đảo Trường Sa) là thuộc lãnh thổ Philippines và đặt tên hành chính là Kalayaan nằm trong tỉnh Palawan.
Với sắc lệnh này, Philippines đã hủy bỏ đường biên giới phía Tây của Philippines đã được xác định rõ ràng trong Hiệp ước Paris năm 1898. Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam bác bỏ việc Philippines sát nhập hầu hết quần đảo Trường Sa vào lãnh thổ Philippines.
Tháng 7 năm 1980, quân đội Philippines mở cuộc hành quân Polaris-I chiếm đóng thêm một đảo ở phía Nam là đảo Công Đo (Commodore Reef) mà họ gọi là đảo Rizal nằm cách hòn đảo gần nhất mà họ chiếm đóng trái phép trước đây 150 hải lý. Ngày 26 tháng 7 và 11 tháng 8 năm 1980, Chính phủ Việt Nam gửi công hàm phản đối hành động nói trên của Philippines.
Tháng 4 năm 1982, Thủ tướng Philippines là Virata và một số quan chức cao cấp ra các đảo mà họ chiếm đóng và tuyên bố: “Do những hành động vừa qua, chúng ta có thể tiến một cách hòa bình tới vùng lãnh hải rộng lớn chung quanh Philippines để xác dịnh những tài nguyên thiên nhiên có thể có ở đáy biển , nhằm phục vụ cuộc phát triển đất nước của chúng ta”.
Ngày 10 tháng 11 năm 1987, Ngoại trưởng Philippines là Manglapus đã phát biểu trong một cuộc họp báo là Bộ Ngoại giao Philippines đang chuẩn bị một dự luật về vạch các đường biên giới của Philippines trong đó có thể bao gồm cả quần đảo Trường Sa. Cuối tháng 11 năm 1987, dự luật quy định hệ thống đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của Philippines được đưa ra thảo luận tại Thượng Nghị viện. Theo dự luật này, hệ thống đường cơ sở đi qua tất cả hòn đảo thuộc phạm vi quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa). Với dự luật này, Philippines định lợi dụng quy chế quốc gia quần đảo trong Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 để củng cố cái gọi là “cơ sở pháp lý” mà họ đã đặt ra bất chấp thực tế lịch sử và pháp luật quốc tế. Tuy nhiên Quốc hội Philippines đã không thông qua dự luật này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân không thống nhất đường lối đối ngoại.
Ngày 17 tháng 9 năm 1993, bà Ramos Shahani, Phó Chủ tịch Thượng Nghị viện đề nghị một dự luật thay đổi sắc lệnh của Tổng thống Marcos năm 1979.
Cần nhắc lại Hiệp ước Hòa bình được ký giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ tại Paris ngày 10/12/1898 thì sự thật như thế nào?
Điều 3 của Hiệp ước này ghi rõ:
“Tây Ban Nha nhượng lại cho Hoa Kỳ quần đảo được cho là thuộc Philippines, bao gồm các đảo nằm trong các tuyến sau:
Đường chạy từ Tây sang Đông dọc theo hoặc gần vĩ tuyến 20 vĩ độ Bắc, xuyên qua eo Bachi mà tàu bè đi lại được, từ kinh tuyến thứ 118 đến 127 kinh độ Đông Greenwich, từ đó chạy dọc theo kinh tuyến 127 thuộc kinh độ Đông Greenwich đến vĩ tuyến 4o45’ thuộc vĩ độ Bắc và từ vĩ tuyến 4o45’ thuộc vĩ độ Bắc đến phần giao nhau với kinh tuyến 119o35’ phía Đông Greenwich và từ đây kéo đến vĩ tuyến 7o40’ thuộc vĩ độ Bắc, từ tọa độ này kéo dài đến chỗ giao nhau với kinh độ 116 thuộc kinh độ Đông, và chạy thẳng đến chỗ giao nhau giữa vĩ tuyến 10 thuộc vĩ độ Bắc với kinh tuyến 118 thuộc kinh độ Đông Greenwich rồi trở về khởi điểm. Hoa Kỳ sẽ trả cho Tây Ban Nha số tiền là 20 triệu US.D trong thời hạn 3 tháng sau khi trao đổi sự phê chuẩn của hiệp ước hiện hành.”
Nguyên văn tiếng Anh:
[Article III.
Spain cedes to the United States the archipelago known as the Philippine Islands, and comprehending the islands lying within the following line:
A line running from west to east along or near the twentieth parallel of north latitude, and through the middle of the navigable channel of Bachi, from the one hundred and eighteenth (118th) to the one hundred and twenty-seventh (127th) degree meridian of longitude east of Greenwich, thence along the one hundred and twenty seventh (127th) degree meridian of longitude east of Greenwich to the parallel of four degrees and forty five minutes (4 [degree symbol] 45']) north latitude, thence along the parallel of four degrees and forty five minutes (4 [degree symbol] 45') north latitude to its intersection with the meridian of longitude one hundred and nineteen degrees and thirty five minutes (119 [degree symbol] 35') east of Greenwich, thence along the meridian of longitude one hundred and nineteen degrees and thirty five minutes (119 [degree symbol] 35') east of Greenwich to the parallel of latitude seven degrees and forty minutes (7 [degree symbol] 40') north, thence along the parallel of latitude of seven degrees and forty minutes (7 [degree symbol] 40') north to its intersection with the one hundred and sixteenth (116th) degree meridian of longitude east of Greenwich, thence by a direct line to the intersection of the tenth (10th) degree parallel of north latitude with the one hundred and eighteenth (118th) degree meridian of longitude east of Greenwich, and thence along the one hundred and eighteenth (118th) degree meridian of longitude east of Greenwich to the point of beginning.The United States will pay to Spain the sum of twenty million dollars ($20,000,000) within three months after the exchange of the ratifications of the present treaty.] (A Treaty of Peace Between the United States and Spain, U.S. Congress, 55th Cong., 3d sess., Senate Doc. No. 62, Part 1 (Washington: Government Printing Office, 1899), 5-11).
Hiệp ước Paris, 1898 quy định Philippines nằm ở các tọa độ như đã kể trên, còn quần đảo Trường Sa của Việt Nam nằm vào khoảng 6o50’ đến 12o vĩ độ Bắc và từ 111o20 đến 117o20 kinh độ Đông. Như vậy cho chúng ta thấy rằng Philippines vốn là một quốc gia không có chủ quyền gì tại quần đảo Trường Sa vì Hiệp định Paris năm 1898 được ký kết giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ đã xác định rõ: Lãnh thổ Philippines không bao gồm một đảo nào thuộc quần đảo Trường Sa. Philippines có ý đồ từng bước tranh chiếm quần đảo Trường Sa để mở rộng lãnh thổ của họ về phía Tây và làm cơ sở cho yêu sách của họ trong việc phân chia ranh giới các vùng biển và thềm lục địa với Việt Nam trong biển Đông.
Ghi chú:
(1) Hiệp ước Phòng thủ Chung giữa Philippines và Hoa Kỳ (MDT - Mutual Defense Treaty) ký kết vào ngày 30/8/1951 là một trong những văn kiện pháp lý quan trọng nhất định hình cấu trúc an ninh tại Đông Nam Á.
Hiệp ước thiết lập một liên minh quân sự chính thức, trong đó hai bên cam kết hỗ trợ lẫn nhau nếu một trong hai bên bị tấn công vũ trang.
- Điều IV: Quy định rằng một cuộc tấn công vũ trang vào khu vực Thái Bình Dương nhắm vào một trong hai bên sẽ được coi là mối nguy hiểm đối với hòa bình và an toàn của bên còn lại. Mỗi bên sẽ hành động để đối phó với các mối nguy hiểm chung theo quy trình hiến pháp của mình.
- Điều V: Làm rõ rằng "tấn công vũ trang" bao gồm các cuộc tấn công vào lãnh thổ chính quốc, các đảo thuộc quyền tài phán của mỗi bên ở Thái Bình Dương, hoặc vào lực lượng vũ trang, tàu công vụ và máy bay của họ.
Với Mutual Defense Treaty, Mỹ muốn thiết lập một "chuỗi đảo" để ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại châu Á.
Sau Thế chiến II, Philippines vẫn lo ngại về khả năng tái quân sự hóa của Nhật Bản và muốn có sự bảo trợ an ninh từ Washington trước khi ký Hiệp ước Hòa bình San Francisco 1951.
Hiệp ước Phòng thủ chung trong bối cảnh địa chính trị hiện đại, các thỏa thuận như VFA (Thỏa thuận lực lượng thăm viếng) và EDCA (Thỏa thuận hợp tác quốc phòng tăng cường) đã bổ sung vào khung pháp lý này.
Hai nước đã mở rộng Thỏa thuận Hợp tác Phòng thủ Tăng cường (EDCA), cho phép quân đội Mỹ tiếp cận nhiều căn cứ quân sự tại Philippines hơn, nhằm tăng cường khả năng răn
Đối với Philippines, hiệp ước là "lá chắn" an ninh quan trọng nhất trước các áp lực từ bên ngoài. Đối với Mỹ, đây là mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới đồng minh tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, giúp duy trì sự hiện diện quân sự trực tiếp gần các điểm nóng như eo biển Đài Loan và Biển Đông.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét