- Nam Phan -
Cách tăng đáng kể số lượng học sinh chọn các môn khoa học tự nhiên!
Kể từ ngày trở thành môn tự chọn ở cấp 3, tỷ lệ học sinh chọn các môn KHTN (Lý, Hóa, Sinh) ngày càng thấp. Trong khi đó, chính phủ thì đang đặt ra mục tiêu Việt Nam phải có đột phá phát triển về KHCN, rồi suốt ngày nói chuyện vi mạch bán dẫn hay công nghệ sinh học. Thấy có gì đó sai sai. Như nhiều người đã cảnh báo, hiện tượng học sinh né tránh các môn KHTN sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nhân lực cho khối khoa học- công nghệ-kỹ thuật trong tương lai, và dĩ nhiên mình hoàn toàn đồng ý với nhận định đó.
Mình thì còn quan tâm đến một vấn đề rộng hơn, đó là chất lượng cuộc sống hàng ngày của tất cả mọi người dân một khi thiếu kiến thức cơ bản về KHTN. Nếu có chút kiến thức cơ bản về KHTN, sẽ không có những chuyện cười ra nước mắt như chị Hằng New Zealand sáng sớm dội nước sôi vào kiếng xe hơi, rồi chuyện nhỏ nước cốt chanh vào mắt trị bệnh, tin rằng vài viên kẹo Kera tương đương với một đĩa rau xanh, tin tưởng vào quảng cáo kiểu “Nhà tôi 3 đời chữa bệnh”, mua đồng kim loại về trữ như trữ vàng, và còn nhiều ví dụ cười ra nước mắt khác nữa.
Dĩ nhiên khi gánh nặng cơm áo gạo tiền vẫn là mối bận tâm hàng đầu, thì thiếu chút kiến thức về KHTN cũng không sao, phải lo kiếm tiền trước cái đã. Dù sao thì cũng chưa có nhiều người chết hay tự rước bệnh vào mình vì thiếu kiến thức cơ bản về KHTN. Tuy nhiên, khi đã có của ăn của để, mà vẫn bị thiên hạ lừa vì bản thân mình thiếu kiến thức cơ bản về KHTN, thì cũng cần phải suy nghĩ. Có ai trong chúng ta muốn con cháu mình sau này bị thiên hạ lừa vì thiếu kiến thức cơ bản về KHTN không, chắc chắn không có ai.
Trở lại chuyện học trò né các môn KHTN, đó không phải là lỗi của học trò. Các cháu đang rất tỉnh táo với quyết định của mình, để có thể cầm chắc tấm vé vào đại học. Bộ GD đưa ra luật chơi, các cháu vẫn đang theo đúng luật chơi của Bộ đấy thôi, các cháu không làm gì sai cả. Một số người còn trách các thầy cô dạy KHTN khô khan, không thu hút học trò. Mình thì thấy trình độ chuyên môn của thầy cô dạy KHTN ở Việt Nam không quá khác biệt với thế giới. Theo mình, chuyện học trò né các môn KHTN cũng không phải là lỗi của các thầy cô.
Một số anh chị em đồng nghiệp của mình đang nổ lực để khơi gợi tình yêu khoa học ngay từ bậc phổ thông thông qua hoạt động giáo dục STEM, và bản thân mình rất trân trọng nỗ lực của họ. Dĩ nhiên thúc đẩy việc phát triển giáo dục STEM trong các trường phổ thông sẽ góp phần tăng tỷ lệ học sinh chọn các môn KHTN, tuy nhiên mình nghĩ là cũng không đáng kể so với con số hiện tại. Mình nghĩ rằng giáo dục STEM thật ra lại rất có ích với các học trò vốn đã muốn chọn các môn KHTN ngay từ đầu, chứ cũng khó làm xoay chuyển tình thế.
Trong tình hình hiện tại, cách để có thể làm tăng đáng kể số lượng học trò chọn các môn KHTN nằm ở các đề thi. Trước hết, đề thi tốt nghiệp tú tài các môn Lý Hóa Sinh của Bộ GD phải thật sự dễ hơn đề thi hiện tại. Đề thi và đề kiểm tra các môn Lý Hóa Sinh ở các trường phổ thông cũng phải tiếp bước, phải thật sự dễ hơn hiện tại. Bộ GD phải mở đầu, các trường mới dám làm theo. Từ đó, các cháu học trò sẽ tin rằng chọn các môn KHTN sẽ giúp các cháu có thể cầm chắc tấm vé vào đại học. Đó là cách hiệu quả nhất có thể làm xoay chuyển tình thế.
Một nền GD vị thi cử, thì phải bắt đầu từ chuyện thi cử để xoay chuyển tình thế thôi, đừng tránh né sự thật này.
Mình hiểu là thế nào cũng có những nhà sư phạm truyền thống sẽ nhân danh chất lượng GD mà không đồng ý với đề xuất của mình. Tuy nhiên, xin mời bình tĩnh đọc tiếp.
Ngay ở bậc ĐH, 30 năm trước có những môn học rất khó, tỷ lệ rớt rất cao, là nỗi ám ảnh của nhiều thế hệ SV, trong đó có mình. Tuy nhiên, theo thời gian, các thầy cô thế hệ sau này từ bi hơn xưa rất nhiều. Hoặc như chuyện ngày xưa BS nội trú thật sự là tinh hoa của ngành Y, nhưng như năm rồi, ĐH Y Hà Nội cũng tăng chỉ tiêu lên tận hơn 400 BS nội trú chứ không ít như ngày xưa nữa. Hơn 20 năm trước, đề thi tuyển sinh vào bậc ThS và TS rất khó, nhưng ngày nay, ai đủ chuẩn tối thiểu đều hầu như đậu hết, thi rớt mới là chuyện lạ.
Điều này, chính là thuận theo thời thế mà sống! Nơi nào không thuận theo thời thế thì sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi thôi.
Thế giới cũng có chuyện học trò né các môn KHTN. Tuy nhiên, Việt Nam mình sẽ không có đủ tiền để cấp nhiều học bổng cho SV theo các ngành KHCN như Mỹ hay Châu Âu. Mình cũng không thể làm như Úc, khi quy đổi điểm học bạ về điểm ATAR để xét vào đại học, các môn Lý Hóa Sinh được nhân hệ số cao hơn các môn XH. Nói nôm na, cùng là 7 điểm nhưng các môn Lý Hóa Sinh có thể tương đương 7.5 chẳng hạn, trong khi các môn XH thì vẫn là 7 hay 7.2, tùy năm và tùy trường. Việt Nam mình mà làm như Úc thì thiên hạ cũng sẽ đại loạn.
Mình hiểu là những nhà sư phạm truyền thống sẽ bận tâm về những vấn đề sau: (1) Đề thi dễ quá thì học trò sẽ không đủ kiến thức để làm việc sau này, (2) Đề thi dễ quá thì không phân loại được thí sinh khi các ĐH tuyển sinh, (3) Đề thi dễ quá thì các học trò có năng lực cao hơn sẽ thấy chán và khó phát triển.
Thật ra, các ĐH đào tạo ngành KHCN chưa bao giờ yêu cầu học trò cấp 3 phải làm được các bài tập Lý Hóa Sinh thật khó và lắt léo. Ngược lại, các ĐH đòi hỏi học trò phải nắm vững phần kiến thức cơ bản nhất thôi. Xin hãy yên tâm là các ĐH sẽ có cách để SV tốt nghiệp có đủ kiến thức ra đời làm việc. Chuyện tuyển sinh cũng là chuyện riêng của các ĐH, họ tự biết phải làm gì là tốt cho họ. Còn để phát triển các học trò có năng lực tốt, thì đó là trách nhiệm của các trường chuyên chứ cũng không phải là trách nhiệm của các trường phổ thông đại trà.
Bởi vậy, xin chương trình phổ thông đại trà đừng cố gắng làm thay trách nhiệm của các ĐH, cũng xin đừng cố gắng làm thay trách nhiệm của các trường chuyên. Xin chương trình phổ thông đại trà hãy làm đúng trách nhiệm và đúng ý nghĩa của hai từ “phổ thông”, phần việc còn lại, xin hãy yên tâm để cho các trường chuyên và các ĐH làm nhiệm vụ của họ.
Sau khi giảm độ khó của đề thi, và từ đó giảm độ khó của chương trình Lý Hóa Sinh phổ thông đại trà, thì thời gian còn lại dùng để làm gì? Đó là dạy kỹ kiến thức cơ bản hơn nữa, và dạy cho học trò biết, trong cuộc sống hàng ngày, có vô số ví dụ liên quan đến kiến thức Lý Hóa Sinh. Thông qua những ví dụ cụ thể liên quan đến cuộc sống hàng ngày, học trò sẽ thấy thật ra các môn Lý Hóa Sinh cũng khá thú vị. Kết hợp với chuyện thi cử nhẹ nhàng, từ đó mới có thể xoay chuyển tình thế, làm tăng đáng kể số lượng học trò chọn các môn KHTN.
Cũng cần phải nói thêm, để có thể xoay chuyển tình thế như vậy, nhiệm vụ của các thầy cô dạy KHTN các lớp 7, 8, 9 là vô cùng quan trọng, rồi sau đó mới đến các thầy cô dạy Lý Hóa Sinh ở cấp 3. Bởi vậy, cũng cần có những chính sách thích hợp cả về vật chất lẫn tinh thần để động viên khuyến khích các thầy cô dạy KHTN các lớp 7, 8, 9 có thể cháy hết mình. Xưa nay, người ta thường xem trọng các thầy cô dạy cấp 3 hơn cấp 2, nhưng trong chuyện này, để thu hút học trò chọn Lý Hóa Sinh ở cấp 3, vai trò của các thầy cô cấp 2 lại quan trọng hơn.
Có người vốn được đào tạo từ cái thời Lý Hóa Sinh là môn bắt buộc, do đó ra đề thi càng khó thì càng chứng tỏ đẳng cấp. Tuy nhiên, thời thế đã thay đổi rồi, phải chấp nhận sự thật này. Để học trò né tránh các môn KHTN là phụ lòng Tiền nhân và có lỗi với hậu thế, tội lỗi này cũng lớn lắm. Chính các ĐH truyền thống cũng phải thay đổi, chính chuyện tuyển sinh vào bậc ThS hay TS cũng phải thay đổi, cớ sao chương trình phổ thông đại trà lại không thể. Mà thật ra, là thay đổi về cho đúng với ý nghĩa của hai từ “phổ thông” thôi, chứ đâu có gì sai.
Ở đời, chuyện gì cũng vậy, muốn phát triển bền vững lâu dài, thì phải thuận theo thời thế mà sống!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét