Những ông vua Việt Nam nhục nhã vì dính Tàu
- Nguyễn Gia Việt -
Việt tộc là dân văn minh lúa nước, biết đúc trống đồng làm tế khí, biết chia thời gian xuân hạ thu đông, biết nhìn tinh tú trên bầu trời, nhìn nước lớn nước ròng, chim bay cò bay mà làm ra Kinh Việt và Tàu sau này kêu là Kinh Dịch.
Việt nằm về phía nam Tàu, một nước rất lớn, rất thâm độc bạo tàn.
Giống Việt đã cố gắng trường tồn, tranh đấu cho sự độc lập, giữ vững văn hóa Việt của mình hàng ngàn năm nay.
Triệu Võ Đế Triệu Đà (207-137 TCN) là vị Hoàng Đế Việt để lại cho con cháu lòng tự trọng thinh thang một cõi.
Nam Việt ban đầu không chịu thần phục nhà Hán, Triệu Đà xưng Đế, khi sứ nhà Hán qua Phiên Ngung phong vương cho Triệu Võ Đế khinh khi tới mức ngồi quay mặt vô vách, ngồi chàng hảng (xổm) trên bộ ngựa mà nói chuyện.
Rốt cuộc nhận ra người phía bắc nếu đánh hoài thì mệt nhọc, Triệu Võ Đế làm bộ nhún nhường nhận Vương của Tàu. Tuy nhiên là danh nghĩa vì trong nước vua Việt vẫn xưng Hoàng Đế, ấn triện là Đế.
Chúng ta là một dân tộc có văn hiến, qua nhiều triều đại,từ Nam Việt, Đại Cồ Việt tới Đại Việt, Đại Nam (Đại Việt Nam), Việt Nam đều đề cao chữ Việt linh thiêng của giống dòng máu đỏ da vàng này.
Người Việt sống với Tàu 1050 năm Bắc thuộc nhưng không bị đồng hóa. Có bốn chiêu để chiếm đóng một dân tộc, người Tàu xài:
-Mỹ nhân kế
-Chánh sách đồn điền
-Chiêu tằm thực
-Đồng hóa bằng văn hóa, chữ viết.
Rút kinh nghiệm vụ Cù Thị mà Nam Việt bị mất nước, sau này triều đình Việt có ba không:
-Không bao giờ nạp phi tần người Tàu
-Không cho thái tử qua Tàu làm con tin
-Hoàng đế Việt không bao giờ bước chưn qua Tàu chầu.
Trung Hoa là một quốc gia phong kiến lớn với thể chế tập trung chuyên chế cao độ, luôn thể hiện tư tưởng bá quyền thôn tính nước khác. Thành ra người Việt phải nhún nhường. Việt tộc phải thực hiện những lễ nghi như triều cống, xin phong vương, báo tang, chúc mừng Thiên Tử lên ngôi hay chia buồn.
Vua Tàu sắc phong Vương cho vua Việt, ban cho cái ấn. Nhưng vua Việt chỉ xài cái ấn đó khi thông thương với Tàu, với các nước khác xài ấn Đế của riêng Việt.
Nhưng đọc sử chúng ta cũng "lượm" được ra 4 ông vua "có vấn đề" với người Tàu, người thứ 4 là Lê Chiêu Thống, nhưng ông này thực ra chẳng có thực quyền, nên không kể chi tiết.
1. Hoàng Đế Việt mà tự mình quì xuống ở Nam Quan dâng bản đồ cho Tàu: Mạc Đăng Dung
Nhân vật này sử ít ai xài miếu hiệu, xài tên cúng cơm ra nói mới xứng.
Mạc Đăng Dung (1483 – 1541) là người lập ra nhà Mạc (1527-1592).
Năm 1527 Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tôn cướp ngôi nhà Lê thì hoàng tử Lê Duy Ninh còn nhỏ được bồng chạy trốn sang Ai Lao (Lào). Sáu năm sau, năm 1533 Nguyễn Kim thủ lãnh nhóm cựu thần nhà Lê dựng cờ chống Mạc đã đích thân qua Ai Lao đón Lê Duy Ninh về làm vua –đó là vua Lê Trang Tôn.
Nguyễn Kim tạo ra một thời kỳ lịch sử mà sử gia Việt Nam gọi là Nam-Bắc triều (1533 - 1592).
Tức là nhà Mạc cầm quyền tại Thăng Long gọi là Bắc triều và nhà Lê trung hưng trị từ Thanh Hóa trở vào Nam gọi là Nam triều.
Thế lực Nguyễn Kim ngày càng mạnh. Cha con Mạc Đăng Dung bị kẹp ở giữa, nam có Nguyễn Kim, phía bắc có nhà Minh của Tàu.
Và Mạc Đăng Dung chọn một cách đê hèn dơ dáy để giữ quyền lực dòng họ mình, hành động này sau được các sử gia "không biết nhục" khen là “vì quốc gia quên mình”(??)
Trấn Nam Quan năm 1540 sứ thần triều Minh đi qua và vua tôi nhà Mạc hơn 40 người ở trần, tóc xoã đi chưn không,tự trói nhau như tù binh bằng một cọng dây dài, quì hai tay dâng biểu, dâng bản đồ Đại Việt, quì trước mặt sứ nhà Minh xin đầu hàng và thần phục.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi như sau:
"Đăng Dung cùng cháu là Văn Minh và bè đảng là bọn Vũ Như Quế hơn 40 người do đường Nam Quan đi sang; ai nấy buộc dây vào cổ, đi chân không, gieo mình vào mạc phủ tướng Minh, khúm núm, phủ phục, khấu đầu lạy, dâng tờ biểu xin hàng, nộp trình sổ sách đất đai và nhân dân do mình cai quản.
Đăng Dung lại xin hàng, dâng đất các động Ti Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù, An Lương thuộc châu Vĩnh An ở An Quảng để lệ thuộc vào Khâm Châu.
Lại xin nhà Minh ban cho chính sóc và ấn chương đã làm từ trước để Đăng Dung coi giữ việc nước trong khi chờ đợi mệnh lệnh có thay đổi hoặc quyết định ra sao.
Nhà Minh đổi nước An Nam làm An Nam đô thống sứ ty, trao cho Đăng Dung chức Đô thống sứ, đổi đặt toàn quốc làm mười ba tuyên phủ ty, cho lệ thuộc vào đất nhà Minh."
Tức là nhà Minh ban cho vua Bắc Triều Mạc Đăng Dung chức Đô thống sứ và nhận bảo hộ họ Mạc.
Trí thức và sử gia VN xưa rày mạt sát Mạc Đăng Dung dữ nhứt vì cái quì gối này. Trần Trọng Kim viết:
”Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến đỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ.”
Năm 1793 Ngô Thời Nhiệm đi sứ cho Tây Sơn, đi ngang qua Nam Quan chổ cái nơi Mạc Đăng Dung quì năm xưa tức cảnh làm bài thơ Thụ hàng thành tức là thành đầu hàng.
Chép ra hai câu cuối như sau:
"Đô thống Hàng Thành thành thậm sự
Linh nhân thiên tải mạ Nghi Dương."
(Đô thống xin hàng, trò khốn nạn
Ngàn năm bán nước tiếng Nghi Dương.)
Kinh Dịch nói: "Biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua."
Khiêm nhường giữ nước, hòa hiếu để tránh binh đao là làm bộ nhận Vương của Tàu và các vua Việt sau này cũng làm cái thủ thuật đó với Tàu, nhưng thực chất bên trong vẫn là Hoàng Đế.
Chứ quì xuống đê hèn mà rốt cuộc Tàu ban cho chức "Đô thống sứ" thì không giống ai. Nhìn cái đường Mạc Đăng Dung mà ghi là Mạc Thái Tổ chình ình ngoài Hà Nội mà phát ớn lạnh!
2.Vua Việt lưu vong sang Tàu, chết bên Tàu: Hồ Quý Ly
Hồ Quý Ly (1336–1407).
Hồ Quý Ly dựng lên nhà Hồ (1400-1407) nhờ mấy chục năm làm gian thần, cướp ngôi vua của cháu ngoại là vua Trần Thiếu Đế mới 3 tuổi, trước đó giết con rể là vua Trần Thuận Tôn, giết tôn thất nhà Trần cả thảy hơn 370 người.
Quản lý kinh tế lạm phát nên đồng bạc không còn, in tiền giấy như đồ mã.
Thôi thì, chuyện cung đình, đảo chánh, cướp ngôi là chuyện thường. Trần Thủ Độ cướp ngôi giết tôn thất nhà Lý, dù có công đánh Nguyên Mông lần nhứt nhưng lịch sử vẫn chép là “lộng thần”, gian hùng kia kìa!
Hồ Qúy Ly tự lập làm vua, niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu.
Hồ Qúy Ly có một số cải cách về giáo dục, ruộng đất,quan lại thi cử như thi tuyển có môn toán vào, nhưng không có tác dụng chi hết.
Kinh tế cuối Trần suy vi, Hồ Qúy Ly lên không làm cho nó sáng sủa thêm mà còn góp tay làm nát bấy.
Hồ Qúy Ly lo củng cố ngai vàng, xây đắp triều đại nhà Hồ trước sự xầm xì của dân chúng và họa xâm lăng từ nhà Minh.
Ông nuôi quân đội đông hơn, nuôi an ninh dò xét dân đông hơn, chi phí bộ máy an ninh cao hơn, tăng cường xây dựng thành lũy, tính kế dời đô.
Tiền đâu ra? Đó là tăng thuế.
Thuế, sưu, lao dịch của nhà Hồ nặng nề hơn cả nhà Trần, thuế điền gấp ba bốn lần nhà Trần.
Nhà Hồ vét sạch đồng, sắt rèn binh khí, lấy tiền đồng đúc binh khí luôn, thành ra cùng đường in tiền bằng giấy.
Phát hành tiền giấy “Thông Bảo hội sao” gồm ba mệnh giá là quan, đồng và mạch thay thế tiền đồng. Tức là dân chúng phải đổi tiền.
"Thông Bảo hội sao" là tiền giấy đầu tiên trong lịch sử tiền tệ Việt Nam phát hành vào năm 1396 không phải vì "tiến bộ văn minh" mà do suy thoái kinh tế, cùng đường mà in giấy lộn.
Hồ Qúy Ly tự định giá trị tiền giấy, một quan tiền đồng đổi được một quan hai mạch tiền giấy. Người dân nào không đi đổi tiền, cố tình cất giấu, tàng trữ tiền đồng sẽ bị xử chết.
Sau này mấy anh "fan đỏ" khen Hồ Qúy Ly “tiến bộ” vì xài tiền giấy, thực ra là giấy lộn, như tiền âm phủ không giá trị gì cả.
Thuế quá cao, lao dịch nặng nề, dân bị bắt lính thảm khốc, xã hội dần dần cùng kiệt. Do đó, những cái gọi là” cải cách kinh tế xã hội” của Hồ Quý Ly không có một biến chuyển gì, tình hình càng tệ hơn.
Cho nên tháng 9 năm 1406 quân Minh qua lần thứ hai thì dân chúng xa lánh, cha con họ Hồ đánh không lại, bị bắt làm tù binh và dẫn về Tàu.
Hồ Qúy Ly không tôn trọng luật chơi, vua Việt không thể để bị bắt về Tàu, tất nhiên phải tự sát. Nhưng Hồ Qúy Ly lại không dám tự sát.
Tướng Ngụy Thức tâu rằng: “Nước đã mất, làm vua không nên để bị bắt, xin bệ hạ tự đốt để chết” làm Hồ Quý Ly nổi cơn rút kiếm chém chết Ngụy Thức tại chỗ.
Hồ Qúy Ly là ông vua duy nhứt trong sử Việt lấy tên nước là ”Đại Ngu” để nhắc gốc tích bên Tàu của dòng họ Hồ. Là ông vua duy nhứt bị bắt trói về Tàu làm tù binh.
Khi cha con họ Hồ bị bắt về Tàu thì cha con lại hợp tác cống hiến cho nhà Minh. Hồ Nguyên Trừng giúp nhà Minh hoàn thiện súng đại bác để mấy năm sau nhà Minh ôm súng qua Việt Nam nả vô binh lính kháng chiến của hai vua Hậu Trần là Giản Định Đế và Trùng Quang Đế.
Họ Hồ phản động.
Sử gia chánh thống VN xếp triều Hồ là ngụy triều.
3. Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Huệ và chiêu Giả Vương trốn tránh trách nhiệm vang lừng trong lịch sử
Ngay sau khi đánh xong quân Thanh (1789), Quang Trung cử sứ sang Yên Kinh đưa thư cầu hòa.
Trong thư cầu hòa này, Quang Trung viết:
“Kể ra lấy đường thiên triều so được thua với nước mọi rợ nhỏ mọn, tất phải đánh đến cùng… chắc lòng thánh đế không nỡ thế. Lỡ ra quân đánh triền miên mãi không thôi… thật không phải lòng thần mong muốn.”
Tự nhận Việt tộc là "mọi rợ nhỏ mọn" nghe không vui, nhưng thôi,coi như nhún nhường để tìm hòa bình, cũng được.
Nhà Tây Sơn là triều đình siêng đi sứ qua Tàu nhứt trong lịch sử Việt Nam, năm nào cũng có đoàn qua Tàu và rất vui vẻ thích thú.
Xin nhắc lại nguyên tắc của Việt Nam xưa nay: "không nạp phi Tàu", "vua không qua Tàu chầu", "thái tử không qua Tàu làm con tin".
Lịch sử của thời Nguyễn Huệ mập mờ giữa giả và thực, ông này rất biết cách uốn éo đặng cố tình qua mặt lịch sử Việt Nam.
Trước đó khi dâng biểu cầu phong, Nguyễn Huệ xưng là "An Nam quốc tiểu mục thần Nguyễn Quang Bình cẩn tấu".
Càn Long gửi cho Nguyễn Huệ một dụ, nói là không phong vương, muốn phong thì Nguyễn Quang Bình phải đích thân sang Tàu chầu.
Không thể sai cháu là Nguyễn Quang Hiển thay mặt đặng. Nhưng sau đó Càn Long lại đồng ý sắc phong cho Nguyễn Huệ ở VN và nhận là ở Thăng Long.
Nguyễn Huệ ba lần bảy lượt tìm cách không ra Thăng Long nhận sắc phong, thậm chí than bịnh hoạn, kêu sứ thần vô Huế phong, Nguyễn Huệ nói câu "Phú Xuân là đất đô hội, Thăng Long đã hết vượng khí."
Việc nhận sắc phong trễ một tháng trời.
Đó là năm 1789, phe Tây Sơn tung tin nói Quang Trung "giả" lại ra Thăng Long nhận sắc. Nhưng thực tế thì Nguyễn Huệ ra Bắc là thiệt 100%.
Thanh sử khẳng định là Nguyễn Huệ (Nguyễn Quang Bình) thiệt, làm lễ tại điện Kính Thiên nhận sắc phong.
Dụ ngày 19-12-1789:
“Lại dụ rằng: “Tôn Vĩnh Thanh tâu: “Theo lời bẩm của Thành Lâm, Nguyễn Quang Bình đến thành nhà Lê vào ngày 14 tháng 10 (âm lịch), chọn giờ tốt vào ngày 15 làm lễ tuyên phong. Nguyễn Quang Bình hoan hỉ cảm động phát ra tự tấm lòng thành, định vào tháng 3 năm sau (Canh Tuất) đích thân đến kinh đô khấu đầu chúc thọ.”
Đó là 14/10/1789 Nguyễn Huệ đến Thăng Long, ngày hôm sau được phong làm An Nam quốc vương.
Nguyễn Huệ hứa là sẽ qua Tàu năm sau, Càn Long 55 (1790) để mừng lễ 80 tuổi vua Càn Long.
Nhiều sử gia khẳng định rằng người cầm đầu phái đoàn 1790 là một người đóng vai "giả vương" chứ không phải là Nguyễn Huệ.
Đã xuất hiện ba người được cho là đóng giả Quang Trung sang triều kiến Càn Long năm 1790, đó là Phạm Công Trị, Nguyễn Phước (Cửu) Trị và Nguyễn Quang Trực.
“Sang đến Yên Kinh, vua Càn Long nhà Thanh tưởng là Nguyễn Quang Trung thật, vời đến chầu ở Nhiệt Hà, cho vào làm lễ ôm gối, như là tình cha con một nhà, và cho ăn yến với các thân vương. Đến lúc về nước, vua lại sai thợ vẽ làm một bức ảnh truyền thần để ban cho ân lễ thật là hậu."
Khi quốc vương tới Yên Kinh, vua Thanh mừng lắm, không hề biết đó là Quang Trung giả. Lúc “quốc vương” vào yết kiến, vua Thanh cho cùng ăn yến với các vị thân vương, lại ban ơn đặc biệt cho làm lễ ôm gối hệt như tình cha con trong nhà… (Hoàng Lê Nhất Thống Chí)
Sử nhà Nguyễn "nghe ngóng" cũng bị dính "chiêu" khi chép người đóng thế vua Quang Trung là Phạm Công Trị, cháu gọi vua Quang Trung bằng cậu.
Tuy nhiên sau này qua nhiều nguồn sử liệu khẳng định Càn Long không có ngu mà trọng thị "đồ giả", Càn Long không phải con nít mà Nguyễn Huệ lừa cho xài đồi giả. Thiên Triều Trung Hoa không phải là kẻ dưới tay của Nguyễn Huệ .
Càn Long tổ chức lễ khá linh đình rình rang đón Quang Trung, với sự hách dịch và cao ngạo của Càn Long cho thấy Càn Long không bao giờ chấp nhận "vua giả" Quang Trung.
Cái cách ngoại giao mà nói là vua "giả" qua Tàu chỉ là chiêu Quang Trung lừa chánh sử VN để tìm cách chối trách nhiệm.
Nguyễn Huệ đi Tàu là thiệt. Trong phái đoàn dự bát tuần thượng thọ có cả Quang Trung lẫn Phạm Công Trị.
Trong cuốn "Đi tìm chân dung vua Quang Trung" ông Nguyễn Duy Chính khẳng định đích thân Quang Trung đã sang Thanh vào năm 1790 và quì xuống ôm chân Càn Long.
Nguyễn Duy Chính kết luận: "Người sang nhà Thanh chính là Quang Trung."
Sử Việt đã um sùm vụ giả hay thiệt, rồi còn um sùm vụ Nguyễn Huệ quì gối "ôm chân" hay "ôm lòng" Càn Long?
Đại Nam liệt truyện chép bão tất 抱膝, tức Quang Trung quì "ôm đầu gối" thì nhiều sử gia theo phe Tây Sơn nói là thiên kiến, bôi bác.
Họ lôi ra cái "bão kiến thỉnh an-抱見請安" (ôm vào lòng để thăm hỏi) và lý luận rằng Càn Long ôm Quang Trung như đón thượng khách.
Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim kêu là "ôm gối" nhưng làm nhẹ đi bằng "tình cha con"(??) :
"Sang đến Yên Kinh, vua Càn Long nhà Thanh tưởng là Nguyễn Quang Trung thật, vời đến chầu ở Nhiệt Hà, cho vào làm lễ ôm gối, như là tình cha con một nhà."
Hoa Bằng, một fan Tây Sơn viết trong cuốn "Quang Trung" rằng:
"Để tỏ ý ưu đãi khác thường, vua Càn Long, khi tiếp giả vương ở hành cung Nhiệt Hà, cho làm lễ “bão kiến, thỉnh an” trong một bầu không khí cực êm đềm, thân mật. Lễ đó, theo như lời dụ của vua Thanh Cao Tông, chỉ những ai trong bọn đại thần có nhiều huân lớn, công to mới được dùng."
Cái "có nhiều huân lớn, công to" là gì? là nhờ trận Đống Đa à?
Nhờ dí Lê Chiêu Thống chạy ngược qua Tàu mà trước đó đã được Càn Long phong là An Nam Quốc Vương à?
Trong thế kỷ 18, Càn Long đã 4 lần dai nhách tấn công Miến Điện và Miến Điện đã 4 lần đánh tan 4 cuộc xâm lược của Thanh năm 1765, 1766, 1767 và 1769. Việc chinh phục Miến Điện nằm trong 10 chiến dịch lớn (Thập toàn võ công) dưới thời Càn Long.
Càn Long thua Miến Điện xiểng niểng. Trận cuối tướng Miến Điện Maha Thiha Thura đã chủ động đưa ra 4 điều khoản nghị hòa:
-Quân Thanh phải trao lại tất cả các chúa mường, những kẻ phản loạn, những kẻ lẩn tránh pháp luật Miến Điện và bỏ trốn vào lãnh thổ nhà Thanh
-Nhà Thanh phải công nhận chủ quyền của Miến Điện trên các tiểu quốc Shan vốn thuộc Miến Điện
-Tất cả tù binh chiến tranh phải được phóng thích
-Vua Tàu và vua Miến Điện duy trì quan hệ hữu hảo, thường xuyên trao đổi sứ thần mang quốc thư hữu nghị và tặng phẩm.
Quân Thanh phải đồng ý.
Trong trận chiến lần thứ tư, quân Thanh bị Miến vây chặt không chỉ bị phải đầu hàng, mà còn bị bắt làm tù binh và phải chất đống đại bác, gươm giáo... đốt cho nóng chảy trước mặt quân Miến rồi lủi thủi về nước.
Vậy mà Càn Long cũng dám ghi đánh Miến trong "Thập toàn võ công" của ông ta, phim Hoàn Châu cách cách còn dám diễn tả
Càn Long gián tiếp cứu Xiêm La.
Năm 1767 vua Miến là Hsinbyushin mang quân vây hãm Ayutthaya trong 14 tháng thành công. Miến cướp tất cả tài sản, đốt sạch kinh đô Ayutthaya kể cả các ngôi chùa và bắt theo tất cả hoàng gia Thái cùng 90 ngàn người, dẫn về Miến Điện.
Nền văn minh của Thái Lan trong 4 thế kỷ đã bị hủy diệt.
Trong khi kinh đô Ayutthaya bị vây hãm, một vị tướng trẻ vốn là xã trưởng gốc Tàu tên là Phya Taksin (Trịnh Quốc Anh) đem theo số ít quân chạy về Chantaburi ở bờ biển phía đông nam của vịnh Thái Lan.
Miến cử binh rượt theo truy sát, thời may, Càn Long đem đại binh qua đánh Miến nên Miến phải rút quân về gấp, Trịnh Quốc Anh thoát chết.
Taksin đã làm vua và lập kinh đô mới tại Thonburi, bên bờ phía tây của dòng sông Chao Phya.
Với Việt Nam, Càn Long cũng ghi trong 'Thập toàn võ công" nhưng tại sao Nguyễn Huệ phải qua Tàu "ôm gối ôm chân", trong khi vua Miến là Hsinbyushin thì không?
Trong lễ nghi nhà Thanh cũng chưa từng thấy có cái kiểu cách nào gọi là “ôm gối”, "ôm ấp" mà những sử gia Việt Nam thường “tám” thêm là “như tình cha con” để gỡ gạc thể diện cho Nguyễn Huệ.
Sau khi ba quì chín lạy, rồi bò tới "ôm chân", "ôm gối". Quang Trung giả ma giả quỷ tung ra cái vụ "giả" rồi bản thân lại qua Tàu, rồi lại cầu hôn công chúa Tàu??
Mà cứ cho "giả vương" đi thì cái nhục ôm chân, ôm gối đó là thực.
Cái khúc sử này cần làm lại cho rõ, viết lại cho đúng, không để con cháu cứ bị lừa mãi.
Anh hùng công trạng gì thì thẳng thừng nhìn nhận, không có anh hùng giả ma giả quỷ, thực thực hư hư che đậy.
Các vua Việt phải nhận cầu phong là một nguyên tắc ngoại giao, nhưng Mạc Đăng Dung, Hồ Qúy Ly và Nguyễn Huệ là ba trường hợp vượt qua sĩ diện tối thiểu của dân tộc.
Việt nhận cầu phong Tàu kết thúc năm 1885 với hoà ước Thiên Tân giữa Pháp và Tàu thì đã chấm dứt vĩnh viễn quan hệ thượng quốc – chư hầu giữa Việt Nam với Trung Quốc.
Hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre) ký kết ngày 6-6-1884 xác lập chế độ bảo hộ của Pháp đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ (Nam Kỳ là thuộc địa).
Cái ấn "An Nam Quốc Vương" của nhà Thanh phong cho vua Gia Long bằng bạc mạ vàng, hình lạc đà ngồi bị hủy vào ngày 6-6-1884 tại Huế chấm dứt sự dính líu của Tàu vào Việt.
Vài dòng nhắc lại lịch sử.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét