💥MÔ HÌNH TUYỂN SINH ĐẠI HỌC ĐỘC ĐÁO CỦA MIỀN NAM TRƯỚC 1975.
💥MÔ HÌNH ĐẠI HỌC THI TUYỂN VÀ ĐẠI HỌC GHI DANH Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975.
Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ. Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.
1. Đại học ghi danh - Biểu tượng của giáo dục đại chúng
Đây là hình thức mà người học chỉ cần có bằng Tú tài II là được ghi danh vào học, không phải qua kỳ thi tuyển sinh riêng. Các phân khoa điển hình là Văn khoa, Luật khoa, Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn.
Ưu điểm:
Thứ nhất, nó thể hiện triệt để triết lý giáo dục nhân bản, dân tộc, khai phóng. Mọi thanh niên có khả năng, không phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, đều có cơ hội bước vào đại học. Học phí ở các trường công lập hoàn toàn miễn phí, xóa bỏ rào cản tài chính. Đây là bước tiến rất lớn so với mô hình Pháp trước đó chỉ đào tạo một số ít tinh hoa.
Thứ hai, nó đáp ứng được nhu cầu bùng nổ về nhân lực có trình độ sau 1954, khi gần một triệu đồng bào di cư vào Nam và nhu cầu xây dựng quốc gia tăng cao. Chỉ trong 20 năm, tổng số sinh viên đã tăng từ vài nghìn lên khoảng 150.000 người vào năm 1975.
Thứ ba, mô hình ghi danh tạo ra một môi trường học thuật tự do, tự trị. Sinh viên được tự chọn chứng chỉ, tự chọn giáo sư, học theo tín chỉ. Người không thích ngành này có thể ghi danh thêm ngành khác. Điều này nuôi dưỡng tinh thần tự học, tự nghiên cứu, rất khác với việc học theo lớp niên chế gò bó.
Khuyết điểm:
Khuyết điểm lớn nhất là sự quá tải và thiếu kiểm soát chất lượng đầu ra. Lấy ví dụ Đại học Văn khoa Sài Gòn giai đoạn 1959-1963, lớp Dự bị có lúc sinh viên phải ngồi cả dưới đất, phải ném tập sách vào giữ chỗ. Giảng đường vài trăm chỗ mà có khi hơn nghìn sinh viên.
Vì đầu vào mở hoàn toàn, nhưng đầu ra lại thi rất khó theo chế độ chứng chỉ, nên tỷ lệ rớt, bỏ học rất cao. Nhiều người ghi danh 4-5 năm vẫn chưa lấy đủ chứng chỉ để ra trường. Điều này dẫn đến lãng phí nguồn lực xã hội, sinh viên kéo dài thời gian học, vừa học vừa làm, chất lượng đào tạo không đồng đều.
Ngoài ra, việc miễn phí hoàn toàn và không giới hạn chỉ tiêu khiến ngân sách giáo dục luôn eo hẹp. Trong khi ngân sách quốc gia phải dành hơn 40% cho quốc phòng, chỉ khoảng 7% cho giáo dục, việc duy trì các đại học ghi danh khổng lồ là một gánh nặng.
2. Đại học thi tuyển - Biểu tượng của giáo dục tinh hoa
Ngược lại, các trường thi tuyển như Y khoa, Dược khoa, Nha khoa, Sư phạm, Quốc gia Hành chánh, Kỹ thuật Phú Thọ thì áp dụng chế độ thi tuyển vô cùng khắc nghiệt.
Ưu điểm:
Ưu điểm rõ nhất là chất lượng. Vì chỉ tiêu có hạn, tỷ lệ chọi có thể lên tới 1/10 hoặc 1/20, nên những người trúng tuyển thực sự là những người xuất sắc nhất. Chương trình học được thiết kế chặt chẽ, kỷ luật, học theo lớp, thực hành nghiêm ngặt. Nhờ vậy, bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, giáo sư tốt nghiệp từ các trường này có trình độ được quốc tế công nhận, nhiều người sau 1975 ra nước ngoài hành nghề được ngay.
Thứ hai, nó đảm bảo hiệu quả đầu tư công. Vì đào tạo các ngành này tốn kém, đòi hỏi phòng thí nghiệm, bệnh viện thực tập, nên nhà nước không thể đào tạo đại trà. Việc thi tuyển giúp chọn đúng người, dùng đúng chỗ. Đặc biệt, sinh viên Sư phạm và Quốc gia Hành chánh còn được cấp học bổng hàng tháng, được xem là công chức tập sự, tạo động lực rất lớn và gắn trách nhiệm phục vụ sau khi ra trường.
Thứ ba, tính công bằng tuyệt đối trong thi tuyển. Việc tuyển chọn chỉ dựa trên điểm thi, không xét lý lịch gia đình. Con của một gia đình nghèo hoàn toàn có thể đậu Y khoa nếu học giỏi, và sau khi ra trường có địa vị xã hội vững chắc. Đây là con đường thăng tiến xã hội quan trọng.
Khuyết điểm:
Hạn chế lớn nhất là tính đào thải quá sớm và áp lực tâm lý khủng khiếp. Hệ thống giáo dục miền Nam vốn đã có 4 kỳ thi loại trừ liên tiếp: Tiểu học, Trung học đệ nhất cấp, Tú tài I, Tú tài II với tỷ lệ đậu Tú tài I chỉ 15-30% và Tú tài II chỉ 30-45%. Sau khi vượt qua tất cả để có Tú tài II, học sinh giỏi lại phải đối mặt với một kỳ thi tuyển còn khó hơn nữa vào Y, Dược.
Điều này tạo ra một xã hội trọng thi cử, học sinh phải học luyện thi vất vả. Những người không đậu vào trường thi tuyển buộc phải dạt sang hệ ghi danh, đôi khi không đúng với nguyện vọng, gây chán nản.
Mặt khác, vì chỉ tiêu quá ít, miền Nam trước 1975 luôn thiếu trầm trọng bác sĩ, kỹ sư. Đến năm 1974, cả miền Nam chỉ có khoảng hơn 100.000 sinh viên đại học cho 20 triệu dân, trong đó số sinh viên ngành kỹ thuật chỉ chiếm 0,5%. Nhu cầu phát triển công nghiệp và y tế không được đáp ứng đủ.
3. Nhận định chung
Hai mô hình này thực chất là bổ sung cho nhau. Đại học ghi danh lo phần phổ cập tri thức, tạo ra một tầng lớp trung lưu có học thức, biết luật, biết văn chương, khoa học cơ bản. Đại học thi tuyển lo phần đào tạo cán bộ chuyên môn cao cấp, nòng cốt cho bộ máy nhà nước và xã hội.
Cái hay của miền Nam trước 1975 là đã không chọn một cực đoan. Nếu chỉ có thi tuyển, giáo dục sẽ thành đặc quyền của thiểu số. Nếu chỉ có ghi danh, sẽ thiếu đi những chuyên gia đầu ngành. Sự kết hợp này, dù còn nhiều bất cập do chiến tranh và thiếu thốn, vẫn là một thử nghiệm đáng tham khảo về việc làm sao vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa giữ được chất lượng đỉnh cao.
Copy từ Facebook Nguyen Thyanh

Nhận xét
Đăng nhận xét