Chuyển đến nội dung chính

FB. Nghiên Cứu Lịch Sử: VÌ SAO TÂY ÂU LÀ NƠI DUY NHẤT SẢN SINH KHAI SÁNG VÀ CÁCH MẠNG KHOA HỌC

VÌ SAO TÂY ÂU LÀ NƠI DUY NHẤT SẢN SINH KHAI SÁNG VÀ CÁCH MẠNG KHOA HỌC

Triết học Ánh sáng, tiếng Pháp gọi là Le Siècle des Lumières, tiếng Anh gọi là The Enlightenment, là phong trào tư tưởng, văn hóa và triết học bùng nổ mạnh mẽ nhất tại châu Âu, đặc biệt là Pháp, Anh, Đức, trong thế kỷ 18, khoảng từ năm 1685 đến năm 1789. Đúng như tên gọi "Ánh sáng", mục tiêu cốt lõi của phong trào này là dùng lý trí làm ánh sáng chiếu rọi, xua tan bóng tối của sự mê tín, hủ lậu, độc đoán phong kiến và sự chi phối tuyệt đối của Giáo hội.

Phong trào Ánh sáng không xuất hiện từ khoảng trống mà là kết quả trực tiếp của ba tiền đề lớn. Trước hết là cuộc Cách mạng Khoa học thế kỷ 17, khi các phát minh của Galileo và Isaac Newton chứng minh vũ trụ vận hành theo quy luật tự nhiên có thể tính toán bằng toán học chứ không phải do phép thuật hay sự can thiệp ngẫu nhiên của thần linh. Tiếp theo là sự bùng nổ thương mại cùng sự trỗi dậy của giai cấp tư sản, khi việc phát triển thuộc địa mang lại sự giàu có cho giới thương nhân và chủ xưởng, khiến tầng lớp này muốn xóa bỏ cơ chế phong kiến đang kìm hãm việc làm ăn tự do của họ. Cuối cùng là cuộc khủng hoảng niềm tin vào Giáo hội, khi các cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu ở châu Âu khiến giới trí thức bắt đầu hoài nghi thẩm quyền độc tôn của Giáo hội.

_____________________________________________

HỢP ĐỒNG XÃ HỘI VÀ CUỘC LẬT ĐỔ THẦN QUYỀN

Trước phong trào Ánh sáng, người dân châu Âu sống dưới chế độ phong kiến chuyên chế với một niềm tin gần như tuyệt đối gọi là thuyết thần quyền, Divine Right of Kings. Xã hội tin rằng vua cai trị là do ý Chúa, có quyền sinh sát, còn dân chúng chỉ là thần dân có nghĩa vụ phục tùng chứ không có quyền đòi hỏi. Các nhà triết học Ánh sáng phản bác tư tưởng đó bằng lý thuyết hợp đồng xã hội, khẳng định chính quyền không phải do thần quyền ban cho vua mà là một bản cam kết giữa nhân dân và người cai trị nhằm bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Nếu người cai trị bạo ngược và phá hỏng cam kết đó, nhân dân hoàn toàn có quyền lật đổ.

Bên cạnh hợp đồng xã hội, phong trào Ánh sáng đề cao lý trí như công cụ tối cao để con người khám phá sự thật, kiểm chứng mọi niềm tin và cải tạo xã hội, thay vì nhắm mắt tin vào truyền thống hay kinh thánh. Phong trào cũng khẳng định quyền tự nhiên mà mọi người sinh ra đều có, gồm quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản, không ai được phép xâm phạm. Đồng thời phong trào đòi tách biệt Giáo hội khỏi Nhà nước, bảo vệ quyền tự do ngôn luận và sự bình đẳng trước pháp luật.

Voltaire, sống từ năm 1694 đến năm 1778 tại Pháp, đấu tranh quyết liệt cho tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, chỉ trích sự tha hóa của Giáo hội và sự chuyên chế của chế độ phong kiến. Ông lên án gay gắt sự hủ lậu của Giáo hội và sự dâm dật, vô lý của giới quý tộc, giúp người dân hiểu rằng dù là nông dân hay quý tộc, khi phạm tội đều phải chịu cùng một khung hình phạt.

Jean-Jacques Rousseau, sống từ năm 1712 đến năm 1778, sinh tại Thụy Sĩ nhưng hoạt động chủ yếu ở Pháp, khẳng định chủ quyền thuộc về nhân dân trong tác phẩm Khế ước Xã hội, xuất bản năm 1762. Tác phẩm mở đầu bằng câu nói nổi tiếng

"Con người sinh ra tự do, nhưng ở khắp nơi anh ta đều mang xiềng xích."

Khác với Locke, Rousseau không lấy quyền sở hữu tài sản làm trọng tâm mà nhấn mạnh ý chí chung của cộng đồng phải là nền tảng của luật pháp, mỗi cá nhân khi tham gia khế ước xã hội từ bỏ quyền tự nhiên riêng lẻ để đổi lấy quyền tự do công dân gắn với tập thể.

Montesquieu, sống từ năm 1689 đến năm 1755 tại Pháp, trong tác phẩm Bàn về Tinh thần Pháp luật, xuất bản năm 1748, đưa ra lý thuyết tam quyền phân lập giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ông chỉ ra rằng nếu một mình vua nắm cả ba quyền này thì chắc chắn dẫn đến bạo ngược, nên cần chia nhỏ quyền lực để các nhánh kiểm soát lẫn nhau.

John Locke, sống từ năm 1632 đến năm 1704 tại Anh, đặt nền móng cho chủ nghĩa tự do trước cả phong trào Ánh sáng Pháp. Ông xây dựng lý thuyết về quyền tự nhiên và chính quyền do dân cử, trở thành tiền đề tư tưởng mà các nhà triết học Pháp sau này kế thừa.

Immanuel Kant, sống từ năm 1724 đến năm 1804 tại Đức, trong bài luận Trả lời câu hỏi Khai sáng là gì, xuất bản năm 1784, định nghĩa Khai sáng bằng khẩu hiệu nổi tiếng "Sapere aude", tạm dịch là hãy dám dùng trí tuệ của chính mình.

Denis Diderot, sống từ năm 1713 đến năm 1784 tại Pháp, chủ biên bộ Bách khoa toàn thư, khởi đăng tập đầu tiên năm 1751, một công trình đồ sộ nhằm tổng hợp và phổ cập tri thức tiến bộ cho toàn xã hội.

Tư tưởng của Voltaire và Rousseau không chỉ nằm trong những cuốn sách dày mà được thảo luận sôi nổi tại các buổi gặp mặt salon và quán cà phê ở Paris, lan từ tầng lớp trí thức xuống tầng lớp bình dân và thợ thủ công. Tầng lớp thứ ba của Pháp, gồm tư sản, nông dân và bình dân, vốn làm ra của cải nhưng không có quyền chính trị và bị đánh thuế nặng trong khi quý tộc cùng tăng lữ không phải đóng thuế, nay đã hiểu rõ vì sao trật tự đó vô lý. Khi Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789, tư tưởng Ánh sáng cung cấp ngay khẩu hiệu và kim chỉ nam hành động là tự do, bình đẳng, bác ái, cùng bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền được ban hành trong cùng năm đó.

Trước đó, Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, công bố ngày 4 tháng 7 năm 1776, đã trích dẫn trực tiếp tư tưởng về quyền tự nhiên của John Locke. Mô hình hiến pháp và bộ máy nhà nước chia ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp mà hầu hết các quốc gia hiện đại áp dụng ngày nay bắt nguồn từ lý thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu, trong khi nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân của Rousseau trở thành nền tảng tư tưởng cho các bản hiến pháp dân chủ hiện đại. Việc đề cao khoa học, thực nghiệm và lý trí của phong trào Ánh sáng cũng mở đường cho công nghệ phát triển vượt bậc trong thế kỷ 19, tạo tiền đề cho cuộc Cách mạng Công nghiệp.

_____________________________________________

VÌ SAO TÂY ÂU LÀ NƠI DUY NHẤT SẢN SINH KHAI SÁNG VÀ CÁCH MẠNG KHOA HỌC

Sự xuất hiện của phong trào Ánh sáng ở Tây Âu, đặc biệt là Pháp và Anh, mà không phải ở Nga hay các châu lục khác bắt nguồn từ những điều kiện lịch sử, kinh tế và xã hội đặc thù mà chỉ Tây Âu sở hữu vào thời điểm đó. Nhờ phát kiến địa lý và thương mại thuộc địa, Tây Âu hình thành một tầng lớp tư sản thương nhân và chủ xưởng cực kỳ giàu có, có học thức, nắm kinh tế nhưng lại bị chế độ phong kiến chèn ép, nên cần một hệ tư tưởng mới để bảo vệ tài sản và mở đường làm ăn. Ngược lại, kinh tế Nga phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ nông nô nên tầng lớp tư sản Nga vô cùng yếu ớt, còn ở Trung Quốc và Việt Nam, kinh tế tự cung tự cấp cùng quan niệm sĩ nông công thương khiến tầng lớp thương nhân bị coi thường và không tạo ra lực lượng đối trọng với giai cấp phong kiến.

Trước phong trào Ánh sáng, Tây Âu đã trải qua phong trào Phục hưng thế kỷ 15 và 16 cùng cuộc Cách mạng Khoa học thế kỷ 17 với Newton, Galileo, Descartes. Các phát minh khoa học chứng minh Trái Đất quay quanh Mặt Trời đã làm lung lay niềm tin tuyệt đối vào Giáo hội Công giáo, và tư duy dùng lý trí cùng thực nghiệm để giải thích thế giới dần thay thế niềm tin mù quáng vào thần quyền. Trong khi đó, Giáo hội Chính thống giáo Nga liên minh chặt chẽ với Sa hoàng và kiểm soát tuyệt đối đời sống tinh thần mà không trải qua cải cách tôn giáo hay bùng nổ khoa học tự nhiên như Tây Âu, còn ở châu Á, Nho giáo và Hồi giáo đóng vai trò hệ tư tưởng thống trị suốt hàng nghìn năm, tập trung vào sự phục tùng và trật tự xã hội hơn là khuyến khích hoài nghi hay tư duy phản biện.

Ở Tây Âu, quyền lực của vua chúa bị phân tán bởi giới tinh hoa độc lập, chẳng hạn ở Anh, Nghị viện đã kiềm chế quyền lực của vua từ rất sớm với Hiến chương Magna Carta năm 1215, và đến thế kỷ 18 không gian tranh luận công cộng qua quán cà phê, báo chí, salon triết học ở Tây Âu rất phát triển. Ngược lại, chế độ Sa hoàng Nga là chế độ chuyên chế tập trung tuyệt đối, không có lực lượng nào đối trọng. Nữ hoàng Catherine Đại đế của Nga thế kỷ 18 tuy rất thích đọc sách của Voltaire và từng mời các nhà triết học Pháp sang Nga, nhưng bà chỉ dùng tư tưởng Khai sáng để hiện đại hóa bộ máy cai trị chứ quyết không trao quyền tự do cho người dân hay xóa bỏ chế độ nông nô vì sợ mất quyền lực.

Mạng lưới đô thị Tây Âu phát triển dày đặc với Paris, London, Amsterdam, là nơi tập trung các trường đại học, nhà in, và những trí thức sống tự do bằng nghề viết lách, không phụ thuộc vào tiền chu cấp của triều đình hay giáo hội. Ở châu Phi, châu Mỹ và châu Á, tầng lớp trí thức như sĩ phu Nho học ở Đông Á đa phần thi cử để làm quan, mọi tri thức họ học đều nhằm phục vụ và bảo vệ bộ máy phong kiến hiện hành chứ không phải để sáng tạo ra tư tưởng lật đổ nó.

Cùng với các điều kiện kinh tế xã hội trên, sự suy yếu của Giáo hội châu Âu so với sức bền của Hồi giáo cũng góp phần lý giải vì sao Tây Âu là nơi duy nhất bật ra khỏi trật tự cũ. Giáo hội Công giáo có một hệ thống quản lý tập trung khổng lồ do Giáo hoàng đứng đầu, nên khi Giáo hội tha hóa vì bán thẻ giải tội, tham nhũng, độc quyền tri thức, sự phẫn nộ của xã hội dâng cao. Cuộc Cải cách Tôn giáo do Martin Luther khởi xướng ở thế kỷ 16 đã xé toạc châu Âu thành hai phe Công giáo và Tin Lành, dẫn đến các cuộc chiến tranh tôn giáo tàn khốc kéo dài hơn một thế kỷ, khiến người dân châu Âu kiệt sức và bắt đầu hoài nghi liệu tôn giáo có thực sự mang lại hòa bình, mở đường cho tư tưởng coi trọng lý trí ra đời. Ngược lại, Hồi giáo, đặc biệt là dòng Sunni, không có một giáo hoàng hay bộ máy giáo hội trung ương nào, quyền lực tôn giáo nằm ở tầng lớp các nhà giáo luật hoặc các thủ lĩnh tinh thần độc lập, nên không xuất hiện một cuộc xung đột quy mô toàn hệ thống làm sụp đổ vai trò của tôn giáo trong đời sống.

Ở châu Âu, Giáo hội Công giáo và các vua chúa phong kiến là hai lực lượng song song tranh chấp quyền lực, tạo ra kẽ hở cho giai cấp tư sản và các nhà triết học chen vào lật đổ cả hai. Trong các đế quốc Hồi giáo như đế quốc Ottoman, hoàng đế Sultan đồng thời cũng là thủ lĩnh tôn giáo Caliph, tôn giáo và bộ máy nhà nước hòa làm một, nên chống lại tôn giáo đồng nghĩa với hành vi mưu phản lật đổ nhà nước và các tư tưởng phản bác tôn giáo bị dập tắt ngay từ trong trứng nước bằng sức mạnh quân sự của triều đình.

Việc phát minh ra máy in của Gutenberg vào thế kỷ 15 đã tạo ra một cuộc cách mạng thông tin ở châu Âu, khi sách vở, kinh thánh bản tiếng dân tộc và các luận văn triết học được in hàng loạt với giá rẻ, vượt khỏi tầm kiểm duyệt của Giáo hội. Ngược lại, đế quốc Ottoman đã cấm in ấn bằng tiếng Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ trong hàng trăm năm, chỉ cho phép chép tay vì lý do bảo tồn sự linh thiêng của chữ viết, khiến tri thức bị thâu tóm hoàn toàn bởi tầng lớp giáo luật và người dân không có nguồn tài liệu ngoài luồng để tiếp cận tư tưởng mới.

Thương mại thuộc địa giúp châu Âu giàu có nhanh chóng, tạo ra tầng lớp tư sản mới có tiền, có học thức và có nhu cầu thay đổi luật lệ xã hội để làm ăn dễ hơn. Trong khi đó, khi các tuyến đường thương mại trên biển do châu Âu làm chủ, các con đường thương mại truyền thống như Con đường Tơ lụa đi qua thế giới Hồi giáo bị suy thoái, khiến các xã hội này có xu hướng co cụm lại, bám chặt vào giá trị truyền thống và tôn giáo như một điểm tựa tinh thần để duy trì ổn định xã hội, thay vì mở cửa cho các tư tưởng thử nghiệm mới.

Riêng với Đông Á, chế độ phong kiến chuyên chế ở Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam cũng rất đơn nhất khi hoàng đế nắm toàn bộ quyền lực và Nho giáo là quốc giáo thống trị, nhưng sự đơn nhất đó lại giữ cho xã hội đóng băng suốt hàng nghìn năm thay vì sản sinh tư tưởng tự do như châu Âu. Khác với Giáo hội Công giáo dựa vào thần quyền và lời hứa về kiếp sau nên sụp đổ khi khoa học chứng minh các hiện tượng tự nhiên không phải do Chúa, Nho giáo không quan tâm nhiều đến kiếp sau hay thần linh. Khi một học trò hỏi về việc thờ quỷ thần, Khổng Tử đáp

"Chưa biết đạo thờ người, sao biết được đạo thờ quỷ thần."

Học trò hỏi tiếp về cái chết, ông đáp

"Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự chết."

Nho giáo tập trung vào trật tự xã hội qua nguyên tắc Tam Cương Ngũ Thường, tức các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, cùng đạo đức cá nhân qua việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Khi khoa học tự nhiên phát triển, nó không làm lung lay Nho giáo vì Nho giáo dạy cách cư xử và quản lý con người chứ không giải thích vũ trụ, nên chống lại Nho giáo thời đó bị coi là vô đạo đức, bất hiếu, bất trung chứ không đơn thuần là sai lý thuyết.

Ở châu Âu, tầng lớp có học thức nhưng không phải quý tộc như tư sản, nhà văn, nhà khoa học bị gạt ra khỏi bộ máy quyền lực, giàu có nhưng không có vị thế nên tích tụ uất ức và dùng ngòi bút viết ra các tư tưởng lật đổ hệ thống. Ở Đông Á, chế độ khoa cử lại tạo ra một ảo tưởng bình đẳng và là van xả áp lực hiệu quả, khi con nhà nông dân chỉ cần chăm học và thi đỗ là có thể làm quan, thay đổi vận mệnh cả họ, khiến những bộ óc thông minh nhất của xã hội dồn hết trí tuệ vào việc học kinh sử Nho gia để đi thi làm quan, bị đồng hóa vào hệ thống cai trị thay vì sáng tạo ra tư tưởng lật đổ nó.

Ở châu Âu, thương nhân buôn bán thuộc địa giàu lên nhanh chóng, tạo thành tầng lớp tư sản có tiềm lực riêng, sống ở các thành thị tự do nằm ngoài tầm kiểm soát của chúa đất phong kiến và bỏ tiền nuôi các nhà triết học Ánh sáng. Các triều đại Đông Á lại áp dụng triệt để chính sách trọng nông ức thương, xếp thương nhân đứng cuối cùng trong trật tự sĩ nông công thương dù giàu có đến đâu, khiến thương nhân giàu lên thường mua đất đai và cho con học khoa cử để trở thành quan lại thay vì đầu tư mở rộng sản xuất hay thách thức trật tự cũ, nói cách khác tư bản Đông Á bị phong kiến hóa thay vì đứng lên tiêu diệt phong kiến.

Tư tưởng Ánh sáng châu Âu đề cao chủ nghĩa cá nhân và quyền tự nhiên của mỗi con người, trong khi tư tưởng Đông Á đặt cộng đồng, gia tộc, quốc gia lên trên cá nhân. Cá nhân nổi loạn hay đòi quyền tự do bị coi là mầm mống phá hoại sự ổn định của làng xã và gia tộc, khi trật tự xã hội Đông Á vận hành như một gia đình lớn với vua là cha và dân là con, nên việc chống lại vua không được coi là đòi tự do mà bị coi là tội nghịch đạo và bất hiếu.

Sự vắng mặt của tư tưởng tự do ở Đông Á cũng liên quan mật thiết đến một câu hỏi lịch sử khác, vì sao Trung Quốc và các văn minh phương Đông từng đi trước phương Tây hàng thế kỷ về kỹ thuật và phát minh như giấy, in ấn, thuốc súng, la bàn, nhưng cuộc Cách mạng Khoa học hiện đại lại bùng nổ ở phương Tây chứ không phải phương Đông. Câu hỏi này được gọi là Nghịch lý Needham, và giới sử học chỉ ra bốn nguyên nhân cốt lõi giải thích cho sự khác biệt.

Người Trung Quốc chế tạo thuốc súng, la bàn hay giấy dựa trên kinh nghiệm thực hành, làm thử và thấy tốt thì dùng rồi truyền lại bí quyết, quan tâm đến việc nó có dùng được không chứ không hỏi tại sao về bản chất nó lại hoạt động như vậy. Phương Tây, bắt nguồn từ triết học Hy Lạp cổ đại của Euclid và Aristotle, tìm cách giải thích thế giới bằng nguyên lý, logic và đặc biệt là toán học, và cuộc Cách mạng Khoa học của Galileo và Newton chỉ thực sự bùng nổ khi họ toán học hóa các hiện tượng tự nhiên, không chỉ quan sát quả táo rơi mà còn tính ra công thức của định luật vạn vật hấp dẫn.

Nhờ ảnh hưởng của Kitô giáo, phương Tây tin rằng Thiên Chúa đã tạo ra vũ trụ như một cỗ máy đồng hồ hoàn hảo vận hành theo những quy luật tự nhiên cố định, và nhiệm vụ của nhà khoa học là giải mã các quy luật đó nên họ quyết tâm tìm kiếm các công thức cố định. Nho giáo và Đạo giáo ở phương Đông coi vũ trụ là một cơ thể sống hữu cơ luôn biến đổi linh hoạt theo âm dương và ngũ hành, hướng tới sự hòa hợp với thiên nhiên chứ không có nhu cầu chẻ nhỏ, phân tích hay làm chủ thiên nhiên bằng các định luật cứng nhắc.

Châu Âu thời kỳ đó bị xé nhỏ thành hàng trăm quốc gia và công quốc tranh giành nhau, nên nếu một nhà khoa học như Galileo hay Descartes bị quốc gia hay giáo phận này cấm đoán, họ chỉ cần trốn sang quốc gia hàng xóm như Hà Lan hay Anh để tiếp tục nghiên cứu và xuất bản sách, còn sự cạnh tranh quân sự giữa các nước Âu châu buộc họ phải liên tục tài trợ cho khoa học và kỹ thuật mới để không bị tiêu diệt. Trung Quốc là một đại đế chế thống nhất nơi quyết định của hoàng đế là tuyệt đối trên toàn bộ lãnh thổ, nên khi triều đình quyết định đóng cửa hay cấm một lĩnh vực nào đó, toàn bộ đất nước sẽ dừng lại, như trường hợp hạm đội Trịnh Hòa của nhà Minh đi khắp Ấn Độ Dương ở thế kỷ 15 nhưng khi triều đình đổi ý và ra lệnh cấm đóng tàu biển, toàn bộ ngành hàng hải đỉnh cao của Trung Quốc bị xóa bỏ chỉ sau một đêm.

Từ thời Trung cổ, châu Âu đã hình thành các trường đại học tự trị như Bologna, Oxford, Paris, nằm ngoài sự quản lý trực tiếp của vua chúa, là nơi các nhà tri thức tự do tranh luận về triết học, toán học và tự nhiên mà không bị bắt đi làm quan. Ở Trung Quốc, tri thức bị trói buộc hoàn toàn vào bộ máy chính trị, người có học chỉ hướng tới kỳ thi khoa cử để làm quan, còn toán học, thiên văn học hay y học bị coi là tiểu đạo và không được giới tinh hoa coi trọng bằng kinh thư Nho gia, thậm chí thiên văn học còn bị triều đình độc quyền kiểm soát để làm lịch và dự đoán điềm báo cho vua, khiến người dân tư nhân nghiên cứu thiên văn có thể bị kết tội khi quân.

_____________________________________________

VOLTAIRE VÀ ROUSSEAU: HAI TRỤ CỘT ĐỐI NGHỊCH CỦA KHAI SÁNG PHÁP

Voltaire, sống từ năm 1694 đến năm 1778, và Jean-Jacques Rousseau, sống từ năm 1712 đến năm 1778, tuy cùng sống trong thế kỷ 18 và được coi là hai trụ cột vĩ đại nhất của phong trào Ánh sáng Pháp, lại có một mối quan hệ đầy ân oán. Mâu thuẫn giữa họ không chỉ là bất hòa cá nhân mà là cuộc đụng độ giữa hai triết lý sống và hai tầm nhìn hoàn toàn khác nhau về con người và xã hội.

Dù bất hòa sâu sắc, cả hai vẫn đứng chung dưới mái nhà Triết học Ánh sáng và chia sẻ những nền tảng tư tưởng tiến bộ chống lại chế độ cũ. Cả hai đều lên án sự tha hóa và mê tín của Giáo hội Công giáo cùng sự bất công và bạo ngược của chế độ phong kiến Pháp, đều khẳng định con người sinh ra có quyền tự do mà không ai được phép biến thành nô lệ hay cướp đi quyền sống, đều đòi bình đẳng trước pháp luật và phê phán đặc quyền đặc lợi của giới quý tộc và tăng lữ, và đều dùng ngòi bút văn chương làm vũ khí để thức tỉnh tầng lớp nhân dân.

Sự khác biệt giữa họ xuất phát từ xuất thân và thế giới quan. Voltaire xuất thân tư sản thượng lưu, giàu có, lịch thiệp, sắc sảo, sống trong nhung lụa và thích sự xa hoa, tin rằng văn minh là sự tiến bộ khi khoa học, nghệ thuật, kịch nghệ và sự sang trọng làm con người tốt đẹp hơn. Ông ủng hộ mô hình quân chủ sáng suốt, tin vào một nhà vua có học thức dùng lý trí để trị quốc, bảo vệ quyền tự do tài sản và coi việc tư hữu là động lực phát triển, đồng thời theo thuyết thần đạo coi Chúa chỉ là người thợ đóng đồng hồ tạo ra vũ trụ rồi để nó tự vận hành. Rousseau ngược lại xuất thân bình dân, nghèo khó, cô độc, nhạy cảm, sống lưu lạc và ghét sự giả tạo của giới thượng lưu, tin rằng văn minh là sự tha hóa khi khoa học và nghệ thuật làm con người suy thoái đạo đức và mất đi sự thuần khiết ban đầu. Ông ủng hộ dân chủ trực tiếp, khẳng định chủ quyền thuộc về nhân dân và người dân phải trực tiếp làm ra luật, phê phán quyền tư hữu tài sản coi đó là nguồn gốc của bất bình đẳng và tội ác trong xã hội, đồng thời tin vào Chúa bằng cảm xúc và trái tim chứ không bằng lý trí hay nghi lễ khô khan.

Mâu thuẫn giữa hai người lên đến đỉnh điểm qua ba cuộc đụng độ. Năm 1755, Rousseau gửi cho Voltaire cuốn Luận về nguồn gốc của sự bất bình đẳng, trong đó lập luận rằng thời kỳ con người sống tự nhiên là hạnh phúc nhất còn sự phát triển xã hội chỉ mang lại bất công. Trong thư phúc đáp đề ngày 30 tháng 8 năm 1755, Voltaire viết

"Tôi đã nhận được cuốn sách mới của ông chống lại loài người, và xin cảm ơn ông. Chưa ai từng dùng nhiều trí tuệ đến thế để cố biến chúng ta thành thú vật. Đọc sách của ông, người ta chỉ muốn bò bằng bốn chân. Tuy nhiên, vì tôi đã mất thói quen đó hơn sáu mươi năm nay, tôi đành nhường nó lại cho những ai hợp hơn."

Cũng trong năm 1755, trận động đất tại Lisbon, Bồ Đào Nha, khiến ít nhất 60.000 người thiệt mạng. Voltaire viết bài thơ thể hiện sự bi quan và hoài nghi về lòng nhân từ của Chúa cùng trật tự của thế giới. Rousseau viết thư chỉ trích lại, cho rằng lỗi không phải do thiên nhiên hay Chúa mà do chính con người, vì nếu không sống chen chúc trong các tòa nhà cao tầng chật chội ở thành phố mà sống rải rác ngoài tự nhiên thì đã không có nhiều người chết đến vậy.

Cuộc đụng độ thứ ba xoay quanh nghệ thuật và sân khấu kịch, khi Voltaire muốn mở một nhà hát ở Geneva, quê hương của Rousseau. Rousseau phát động chiến dịch phản đối gay gắt, cho rằng kịch nghệ là thứ văn minh xa xỉ sẽ làm đồi trụy đạo đức đơn sơ của người dân Geneva. Voltaire tức giận gọi Rousseau là kẻ điên rồ và con quái vật.

Voltaire qua đời ngày 30 tháng 5 năm 1778, còn Rousseau qua đời ngày 2 tháng 7 cùng năm đó, cách nhau hơn một tháng. Ngày nay, hài cốt của cả hai được đặt đối diện nhau trong điện Panthéon ở Paris, nơi tôn vinh các vĩ nhân của nước Pháp.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

VÌ SAO LÀNG BÁO VIỆT VỊ VỀ "CHUYỆN VỚI THANH"?

Link: https://www.facebook.com/share/p/14bTWDhbQqD/ 🔏VÌ SAO LÀNG BÁO VIỆT VỊ VỀ "CHUYỆN VỚI THANH"?  1. Bà hàng nước rốn rùa thủ thỉ kể: Theo bản tin của thông tấn xã vỉa hè, sơ bộ khoảng 20 tờ báo đăng tin bài khen ngợi "Chuyện với Thanh" của tác giả Nguyễn Thành Nam do Nxb Hội Nhà văn phát hành. Đã có 31 tin bài phải gỡ bỏ và các báo buộc phải đính chính, xin lỗi bạn đọc. Một sự kiện vô tiền khoáng hậu dịp Báo chí Cách mạng Việt Nam sinh nhật 101 tuổi.  Hầu hết các báo lớn của Trung ương và địa phương đều thủng lưới: Nhân dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Văn hoá, Dân trí, Vietnamnet, VNXpress, Sài Gòn giải phóng... và cả Đăk Lăk trên đỉnh Tây Nguyên.  Những chiến sĩ canh gác trên mặt trận văn hoá ê chề thất thủ. Có tờ báo đứng đầu binh chủng cũng lập kỷ lục đá phản lưới nhà tới 6 bàn liên tiếp. Lại có cầu thủ vừa đá phản lưới nhà vừa làm tung lưới đội đá thuê. Cú sút nào cũng mãn nhãn!  2. Vì sao các báo thủng lưới hàng loạt như vậy?  Nguyên nhâ...

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...