LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC - TẠI SAO CAMPUCHIA CHỈ BỊ ÁP 10% KHI VẪN CÓ CÁC TRẠI SCAM?
Bài viết đầu tháng 6 đã trả lời thắc mắc của một số bạn, nhưng đến 22/7 và 23/7 đã có 3 điểm mới khiến khái niệm lao động cưỡng bức rộng hơn rất nhiều, và lý giải vì sao Campuchia vẫn được 10%.
1. So với đầu tháng 6, khái niệm LĐCB trong quyết định cuối 23/7 rộng hơn thế nào?
Đầu tháng 6, bài viết của tôi (ảnh) nêu 4 dấu hiệu: giữ giấy tờ, nợ ràng buộc, hạn chế đi lại, lừa đảo tuyển dụng. Đó là 4 trong 11 dấu hiệu của ILO, Mỹ hay dùng để tuyên truyền.
Đến quyết định cuối 23/7, USTR không tự định nghĩa LĐCB, mà viện dẫn định nghĩa ILO trong Công ước 29 năm 1930: mọi công việc làm dưới sự đe dọa của hình phạt và không tự nguyện. Và ILO diễn giải chi tiết thành 11 dấu hiệu, chỉ cần dính 1 dấu hiệu là có thể bị coi là LĐCB. Bao gồm: lạm dụng tình trạng dễ bị tổn thương, lừa dối, hạn chế đi lại, cô lập, bạo lực thể chất và tình dục, đe dọa, giữ giấy tờ tùy thân, khấu trừ lương, nợ ràng buộc, điều kiện sống và làm việc tồi tệ, làm thêm giờ quá mức.
Điểm mới nhất sau Nghị định 292 ngày 22/7 của Việt Nam là cách tiếp cận. Trước 22/7, Việt Nam hiểu LĐCB là hành vi xảy ra trong nước, xử lý bằng Bộ luật Lao động và Điều 297 Bộ luật Hình sự. Sau Nghị định 292, Việt Nam lần đầu tiên chấp nhận khái niệm LĐCB trong chuỗi cung ứng toàn cầu, tức là hàng hóa bị cấm nhập khẩu nếu được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi cưỡng bức lao động từ doanh nghiệp, quốc gia, vùng lãnh thổ phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Đây là bước nhảy từ chuẩn lao động nội địa sang chuẩn thương mại quốc tế. Mỹ dùng chuẩn thứ hai. Đó là lý do dù Việt Nam đã phê chuẩn 25 trên 8 công ước ILO cơ bản, trong đó có Công ước 29 và 105 về xóa bỏ LĐCB, USTR vẫn nói Việt Nam thiếu chốt chặn cửa khẩu.
USTR cũng làm rõ nguyên tắc nghi ngờ là giữ. Theo Mục 19 U.S.C. 1307 mà Mỹ áp gần 100 năm nay, chỉ cần có thông tin hợp lý cho thấy hàng hóa có dính LĐCB, hải quan Mỹ có quyền giữ lô hàng. Người nhập khẩu phải chứng minh ngược lại là hàng sạch. Vì vậy dữ liệu truy xuất đã nêu trong bài tháng 6 là điểm sống còn.
2. Tại sao Campuchia có nhiều khu scam bị thế giới lên án vẫn được 10%?
Đây là câu hỏi nhiều doanh nghiệp Việt Nam thắc mắc nhất tuần qua. Câu trả lời nằm trong chính văn bản USTR công bố ngày 23/7 và được White House đăng lại.
USTR chia 60 nền kinh tế thành hai nhóm để áp thuế, không phải dựa trên mức độ vi phạm nhân quyền thực tế, mà dựa trên mức độ pháp lý.
Nhóm 10% gồm 17 nền kinh tế: Argentina, Bangladesh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia, Mexico, Pakistan, Sri Lanka, Trinidad và Tobago, Vương quốc Anh. Nhóm này được hưởng 10% vì thỏa mãn một trong ba điều kiện: đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu hàng LĐCB nhưng chưa thực thi hiệu quả, đã cam kết thực hiện biện pháp này trong thỏa thuận thương mại đối ứng với Mỹ, hoặc đã áp dụng cơ chế một phần.
Campuchia rơi vào nhóm thứ hai. Campuchia đã ký Thỏa thuận về Thương mại Đối ứng với Mỹ, trong đó có cam kết về lệnh cấm nhập khẩu hàng LĐCB. Vì có cam kết trong hiệp định, Campuchia được xuống 10%, dù trên thực tế các khu lừa đảo trực tuyến và buôn người vẫn bị Liên Hợp Quốc lên án.
Nói cách khác, Mỹ đang dùng thuế 301 như đòn bẩy để ép các nước ký cam kết. Có cam kết thì 10%, không có thì 12,5%. Ấn Độ là ví dụ rõ nhất. Ban đầu bị đề xuất 12,5%, nhưng sau khi thông qua quy định chống nhập khẩu hàng LĐCB, Ấn Độ được chuyển xuống 10%.
Việt Nam trước 22/7 không có cả hai: không có lệnh cấm và không có cam kết trong hiệp định đối ứng về vấn đề này. Vì vậy bị xếp 12,5%. Nay đã có Nghị định 292, Việt Nam đã có lệnh cấm. Đây chính là điều kiện cần để xin chuyển nhóm.
3. Vậy để gỡ 12,5%, ngoài Nghị định 292 cần làm gì?
Quyết định 23/7 nói rõ thuế 301 có thể duy trì vô thời hạn, nhưng Tổng thống và USTR có quyền điều chỉnh nếu đối tác thay đổi chính sách. Quan chức Mỹ nói các nền kinh tế có tiến bộ có thể được giảm từ 12,5% xuống 10%. Vì vậy 4 việc cần làm ngay:
Một là ra thông tư hướng dẫn Nghị định 292. Nghị định mới nói cấm theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhưng chưa nói cơ quan nào xác định, dựa trên danh sách nào, quy trình tham vấn ra sao. Cần quy định rõ dựa trên Công ước 29, 105 của ILO và danh sách hàng hóa rủi ro của Bộ Lao động Mỹ.
Hai là lập cơ chế một phần với hai chuỗi rủi ro cao nhất mà USTR nêu đích danh là bông thô và polysilicon cho pin mặt trời. Đây là hai chuỗi có cáo buộc LĐCB toàn cầu cao nhất. Cấm trước hai chuỗi này sẽ tạo niềm tin thực thi.
Ba là đưa cam kết chống LĐCB vào Thỏa thuận Thương mại Đối ứng đang đàm phán với Mỹ, giống Campuchia, Bangladesh, Malaysia đã làm. Có cam kết trong hiệp định là điều kiện đủ để được 10%, thậm chí là cơ sở để xin vào danh sách miễn trừ Phụ lục A cho dệt may nếu dùng bông Mỹ.
Bốn là dùng bông Mỹ để làm sạch chuỗi cung ứng. USTR đã nói sẽ thiết lập hạn ngạch thuế quan cho dệt may nếu dùng bông Mỹ. Việt Nam là nước nhập bông Mỹ lớn nhất thế giới, đây là lợi thế kép vừa giảm thâm hụt thương mại vừa chứng minh hàng sạch.
Tóm lại, câu hỏi tại sao không phải là Mỹ buộc tội Việt Nam có lao động cưỡng bức hệ thống, mà là Mỹ hỏi hệ thống của bạn có đủ sức bảo chứng hàng sạch không.
Nghị định 292 ngày 22/7 đã trả lời vế đầu: đã có lệnh cấm. Bốn việc còn lại sẽ trả lời vế thứ hai: lệnh cấm đó có được thực thi không. Khi đó, việc chuyển từ 12,5% xuống 10% như Campuchia và Ấn Độ là hoàn toàn khả thi.
- Lợi Phan Mai -
Nhận xét
Đăng nhận xét