Năm 1973, Trung Quốc có một Phó Chủ tịch Đảng mới.
Đó là một người đàn ông 38 tuổi. Anh ta chưa từng điều hành một tỉnh hay có kinh nghiệm trong chính quyền. Chưa từng chỉ huy một đơn vị quân đội nào dù ở cấp tiểu đội. Cũng không phải nhà lý luận, nhà kinh tế, nhà ngoại giao hay một nhân vật có uy tín lâu năm trong phong trào cộng sản. Vài năm trước đó, anh ta còn là một công nhân ở Nhà máy Dệt bông số 17 tại Thượng Hải.
Tên anh ta là Vương Hồng Văn.
Nếu sống trong một thời đại khác, có lẽ Vương sẽ kết thúc đời mình như hàng triệu công nhân Trung Quốc cùng thế hệ: đi làm, lĩnh lương, họp tổ, nuôi con, già đi trong một khu tập thể nào đó. Anh có thể trở thành tổ trưởng sản xuất, cán bộ công đoàn, thậm chí giám đốc nhà máy nếu vừa có năng lực vừa gặp may. Nhưng Vương không sống trong một thời đại khác. Anh sống đúng vào lúc lịch sử Trung Quốc bỗng nhiên cần những người có một loại năng lực rất đặc biệt: khả năng chỉ ra ai là kẻ thù.
Đó là món quà của thời thế dành cho anh.
Vương Hồng Văn không tạo ra Cách mạng Văn hóa. Anh cũng không để lại một hệ tư tưởng nào đáng gọi là tư tưởng. Người ta không học “học thuyết Vương Hồng Văn”, đơn giản vì chẳng có gì để học. Nhưng anh hiểu được một điều quan trọng hơn lý luận: trong một cơn bão chính trị, không nhất thiết phải biết gió từ đâu đến; chỉ cần biết chạy về phía nào.
Năm 1966, khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu, Vương tham gia viết đại tự báo, công kích lãnh đạo nhà máy, lập tổ chức công nhân tạo phản và dần trở thành một trong những thủ lĩnh nổi bật tại Thượng Hải. Trong “Cơn bão tháng Giêng” năm 1967, những lực lượng tạo phản lật đổ bộ máy lãnh đạo thành phố. Vương từ một công nhân bình thường bước vào Ủy ban Cách mạng Thượng Hải, rồi tiếp tục tiến lên trung ương. Đến Đại hội X năm 1973, anh được đưa vào Thường vụ Bộ Chính trị và giữ chức Phó Chủ tịch Đảng, đứng rất cao trong trật tự quyền lực chính thức.
Một hành trình phi thường.
Nhưng phi thường theo nghĩa nào?
Không phải cuộc hành trình của một tài năng bị vùi lấp cuối cùng được phát hiện. Đây là cuộc hành trình của một kiểu người bỗng trở nên hữu dụng khi tiêu chuẩn lựa chọn lãnh đạo bị đảo ngược. Kinh nghiệm quản lý có thể bị xem là dấu tích của bộ máy cũ. Sự thận trọng dễ bị quy thành dao động. Khả năng thỏa hiệp biến thành thiếu lập trường. Ngược lại, phá được một tổ chức là thành tích. Hạ được một cán bộ là bản lĩnh. Phát hiện thêm một “phái tư sản” là nhãn quan chính trị.
Trong một xã hội bình thường, nếu anh phá tan một nhà máy, người ta thường không giao cho anh quản lý cả thành phố. Trong cách mạng, đó lại là lá thư giới thiệu tốt nhất.
Vương hiểu bản năng của thời đại. Ông hiểu rằng lòng trung thành không thể chỉ được giữ kín trong tim. Nó phải có hình thức bên ngoài. Phải được nhìn thấy, nghe thấy, đo đếm được. Ca ngợi Mao là một cách. Nhưng ca ngợi quá nhiều rồi ai cũng giống ai. Cách hiệu quả hơn là phát hiện ra những người chưa đủ trung thành với Mao.
Mỗi chế độ chính trị dựa trên thanh lọc đều có một nền kinh tế đặc biệt của sự tố cáo. Ở đó, kẻ thù là một loại tài nguyên. Ai tìm được kẻ thù mới sẽ trở thành người có công. Ai chứng minh được kẻ thù nguy hiểm hơn dự kiến sẽ càng có công hơn. Và khi số kẻ thù thật bắt đầu cạn, hệ thống sẽ không vì thế mà ngừng hoạt động. Nó chỉ hạ thấp tiêu chuẩn thế nào là một kẻ thù.
Từ phản cách mạng đến xét lại. Từ xét lại đến hữu khuynh. Từ hữu khuynh đến thiếu nhiệt tình. Từ thiếu nhiệt tình đến im lặng không đúng lúc.
Cuối cùng, ngay cả một cái nhíu mày, hay một sự im lặng, cũng có thể mang nội dung chính trị.
Vương Hồng Văn không phải người đầu tiên phát hiện ra con đường ấy. Lịch sử Trung Quốc đã có nhiều người đi trước, chỉ khác là họ không dùng đại tự báo và không mặc áo đại cán.
Dưới thời Võ Tắc Thiên, hơn một nghìn năm trước Cách mạng Văn hóa, triều đình cũng trải qua một thời kỳ mà sự nghi ngờ trở thành phương pháp trị nước. Võ Tắc Thiên cần loại bỏ những người trung thành với hoàng tộc nhà Đường, những quan lại chống đối bà và bất cứ ai có thể trở thành trung tâm của một âm mưu. Để làm việc đó, bà sử dụng một lớp quan lại nổi tiếng tàn bạo, được sử sách gọi là “khốc lại”.
Trong số ấy, Lai Tuấn Thần là cái tên đặc biệt.
Lai xuất thân thấp, từng có lý lịch không mấy vẻ vang, nhưng đã bước vào quyền lực nhờ mật báo. Ông ta biết dựng án, tạo chứng cứ, ép cung và khiến người bị bắt khai ra thêm nhiều người khác. Những viên khốc lại như Lai Tuấn Thần và đồng nghiệp của ông ta là Chu Hưng không chỉ trừng trị kẻ thù của triều đình. Công việc tinh tế hơn của họ là sản xuất ra kẻ thù cho triều đình.
Một hệ thống thanh trừng không thể phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung âm mưu tự nhiên. Cũng như một nhà máy phải có nguyên liệu, bộ máy trấn áp phải có bị cáo.
Võ Tắc Thiên sử dụng Lai Tuấn Thần và Chu Hưng để phá các mạng lưới đối lập và thanh toán những nhân vật bị coi là nguy hiểm. Các nguồn lịch sử mô tả họ như những viên chức pháp trị cực đoan, nổi tiếng bởi sự tàn nhẫn và nhiệt tình trong việc hủy diệt đối thủ của nữ hoàng đế.
Rồi đến lượt Chu Hưng bị tố cáo.
Tương truyền, Lai Tuấn Thần mời Chu Hưng uống rượu và hỏi: nếu có một phạm nhân ngoan cố không chịu nhận tội thì nên làm gì? Chu Hưng, vốn là chuyên gia trong ngành, hào hứng trình bày một phương pháp: lấy một cái chum lớn, đốt lửa xung quanh rồi mời phạm nhân bước vào. Lai nghe xong, cho người mang chum đến và lịch sự nói đại ý: có người tố cáo ông, vậy xin mời ông vào chum.
Từ đó có điển tích “thỉnh quân nhập úng”: mời ngài vào chính chiếc chum của ngài.
Không rõ lịch sử đã bảo tồn từng chi tiết của câu chuyện chính xác đến đâu, nhưng nó tồn tại lâu dài vì chứa đựng một chân lý chính trị mà người Trung Quốc hiểu quá rõ: người sáng chế công cụ trừng phạt thường không được miễn trừ khỏi công cụ ấy.
Chu Hưng bị đày rồi chết trên đường. Lai Tuấn Thần sống thêm vài năm. Sau cùng, ông ta cũng đi quá xa, định dựng án nhằm vào những người quá gần hoàng tộc và bị xử tử năm 697.
Quyền lực chuyên chế thích những người tố cáo. Nhưng hiếm khi cần đến nó.
Nó cần sự tàn nhẫn của họ, cần sự nhanh nhạy của họ, đôi khi còn cần cả tiếng xấu của họ. Chính vì mang tiếng xấu, họ rất thích hợp để thực hiện những công việc mà người đứng trên không muốn trực tiếp mang trách nhiệm. Nhưng khi công việc xong xuôi, tiếng xấu ấy lại trở thành lý do hoàn hảo để loại bỏ họ.
Lai Tuấn Thần có lẽ đã quên một điều giản dị: lưỡi dao dù sắc đến đâu vẫn không phải là bàn tay cầm dao. Và sau ông ta, Yakoda, Yezhov, Abakumov, Ernst Röhm, Khang Sinh, Lâm Bưu…cũng quên điều đó.
Vương Hồng Văn cũng không là ngoại lệ.
Khi Mao chọn ông đưa lên hàng lãnh đạo cao nhất, sự lựa chọn không hoàn toàn phi lý. Vương có nhiều giá trị biểu tượng. Ông còn trẻ. Ông là công nhân. Ông trưởng thành từ Cách mạng Văn hóa. Ông không thuộc lớp cách mạng lão thành, những người có uy tín, quan hệ và ký ức riêng đủ để đôi khi nói với Mao rằng ông đã sai.
Quan trọng hơn, Vương không có một cơ sở quyền lực độc lập đủ mạnh.
Chế độ cá nhân trị luôn gặp một nghịch lý khó giải: người kế vị phải đủ mạnh để kế tục lãnh tụ, nhưng không được mạnh đến mức có thể thay thế lãnh tụ quá sớm. Phải đủ nổi bật để thiên hạ biết mặt, nhưng đủ phụ thuộc để không thể tự đứng vững. Phải có tương lai, nhưng tốt nhất là không có hiện tại riêng.
Có thể Mao từng nhìn thấy ở ông một biểu tượng cho thế hệ mới. Cũng có thể ông đơn giản là một quân cờ dùng để cân bằng với các nhà lãnh đạo kỳ cựu. Dù thế nào, Vương có một phẩm chất rất được các lãnh tụ tối cao đánh giá cao ở người kế vị: chưa đủ lớn để trở thành đối thủ.
Nhưng một đất nước không thể được điều hành mãi bằng khả năng tạo phản. Sau khi được đưa ra khỏi môi trường đấu tranh ở Thượng Hải, Vương không chứng tỏ được năng lực tương xứng với vị trí. Ông thiếu kinh nghiệm, không nắm quân đội, không có chiều sâu lý luận của Trương Xuân Kiều và cũng không có vị thế đặc biệt như Giang Thanh. Từ năm 1974, ảnh hưởng của ông suy giảm; Hoa Quốc Phong dần trở thành lựa chọn kế vị thực tế hơn. Sau khi Mao qua đời, Vương cùng ba thành viên còn lại của “Bè lũ bốn tên” bị bắt ngày 6 tháng 10 năm 1976. Ông bị kết án tù chung thân năm 1981 và chết trong tù năm 1992.
Từ xưởng dệt đến đỉnh cao quyền lực trong đất nước đông dân nhất thế giới: chưa đầy một thập niên.
Từ đỉnh cao quyền lực đến nhà tù: chưa đầy một tháng sau cái chết của Mao.
Tất nhiên, quy toàn bộ Cách mạng Văn hóa cho “Bè lũ bốn tên” là một cách kể chuyện quá tiện lợi. Bốn người ấy không từ trên trời rơi xuống, cũng không bí mật thôi miên hàng trăm triệu người Trung Quốc. Họ được hệ thống tạo ra, sử dụng và đưa lên. Một xã hội đã phá bỏ thiết chế, sùng bái lãnh tụ, biến đấu tranh thành đạo đức và liên tục đòi hỏi phải tìm ra kẻ thù thì sớm muộn cũng sản xuất được Vương Hồng Văn.
Bắt Vương không xóa được cơ chế đã tạo ra Vương. Giết Lai Tuấn Thần không làm biến mất nhu cầu tìm kiếm một Lai Tuấn Thần khác.
Đó là Trung Quốc, Còn Việt Nam thì sao? Khó tìm được một nhân vật lịch sử tương tự như Lai hay Vương. Nhưng lấp lóe đâu đó, có những hình hài từa tựa như vậy: Như nhân vật Vũ Đình Phúc trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường.
Phúc không đi từ nhà máy lên quyền lực ở cấp Trung ương. Phạm vi quyền lực của ông ta chỉ loanh quanh trong một cái làng có tên là làng Giếng Chùa. Nhưng làng quê cũng có cung đình của làng quê, có phe phái, huyết thống, chức vụ, âm mưu và những kẻ muốn làm hoàng đế trên vài mẫu ruộng.
Phúc từng tham gia du kích. Đến Cải cách ruộng đất, ông ta cùng vợ tham gia đấu tố chính cha mình, cụ Vũ Đình Đại. “Địa chủ Đại, mày có biết tao là ai không?”. Và sau đó Phúc trở thành cán bộ lãnh đạo xã và là trưởng họ Vũ Đình.
Trong đời sống thông thường, tố cáo cha là một sự ô nhục. Trong một cuộc vận động mà thành phần giai cấp được đặt cao hơn quan hệ máu mủ, nó có thể trở thành bằng chứng của giác ngộ. Tố cáo người xa lạ chứng minh sự nhiệt tình. Tố cáo người thân chứng minh sự đoạn tuyệt. Mà đã đoạn tuyệt được với cha mẹ, người ta xem ra không còn điều gì không thể hy sinh cho lý tưởng.
Cách mạng đã trao cho Vũ Đình Phúc một cơ hội hiếm có: biến bất hiếu thành thành tích chính trị, rồi biến thành tích chính trị thành chức vụ.Vũ Hoàng Linh
Phúc không kết thúc như Lai Tuấn Thần hay Vương Hồng Văn. Sau khi quyền lực chính thức suy giảm, ông vẫn tiếp tục sống giữa làng, tham gia kiện cáo, vận động và đấu đá với họ Trịnh Bá.
Không còn bục đấu tố nhưng họ hiểu, quyền lực vẫn cần có sự đấu tố Không còn đội cải cách nhưng vẫn có thể viết đơn. Không còn tiếng hô hào trời long đất lở của đám đông nhưng vẫn có cách khiến cả làng mất ngủ.
Thời nay, không cần một triều đình của Võ Tắc Thiên. Cũng không cần một Cách mạng Văn hóa hoàn chỉnh. Nhiều chức năng của khốc lại đã được công nghệ phổ cập.
Ngày trước, muốn tổ chức một cuộc lên án, cần đại tự báo, loa phóng thanh, một quảng trường và những kẻ đi theo hồ hào chấn động. Ngày nay, chỉ cần điện thoại còn pin.
“Đại tự báo” trở thành status. Quảng trường thành newsfeed. Tiếng hô thành bình luận viết hoa. Đội tạo phản được thay bằng một cộng đồng chia sẻ nội dung. Còn thuật toán, không có ý thức hệ riêng, vẫn biết rất rõ rằng phẫn nộ giữ chân người dùng tốt hơn sự cân nhắc.
Công nghệ đã dân chủ hóa nhiều thứ, kể cả khả năng tổ chức một phiên đấu tố.
Trong bối cảnh ấy, sự xuất hiện của những người như quý ông C. đáng được nhìn như một hiện tượng văn hóa, hơn là vội vàng nâng lên thành một âm mưu chính trị. Qua những bài viết công khai và các tranh luận được lan truyền trên mạng, ông được biết đến như một tiếng nói thường xuyên cảnh báo về những tác phẩm, quan niệm và biểu hiện văn hóa mà ông cho là sai lệch hoặc có hại.
Ông có quyền làm việc đó.
Một xã hội có tự do tranh luận không thể chỉ dành tự do cho những người có gu thẩm mỹ tinh tế, quan điểm khai phóng và cách diễn đạt dễ chịu. Người bảo thủ có quyền bảo thủ. Người nghiêm khắc có quyền khó chịu. Một độc giả có quyền cho rằng Nỗi buồn chiến tranh là một tác phẩm tồi, sai lệch, thậm chí nguy hiểm, cũng như người khác có quyền xem nó là một tiểu thuyết lớn. Tranh luận công khai quanh tác phẩm của Bảo Ninh cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa yêu cầu bảo vệ một diễn giải chính thống về chiến tranh và yêu cầu tôn trọng sự đa dạng của ký ức văn học.
Vấn đề không nằm ở quyền phê bình.
Nó bắt đầu ở khoảnh khắc phê bình một tác phẩm chuyển thành thẩm tra tư cách của tác giả; khi câu hỏi “cuốn sách này hay hay dở?” trở thành “tại sao người ta lại cho phép cuốn sách này tồn tại? Âm mưu nào đằng sau nó?”; khi bất đồng về thẩm mỹ, lịch sử hoặc cách biểu đạt được nâng lên thành dấu hiệu của sự suy thoái đạo đức, lệch lạc chính trị hay thiếu lòng trung thành.
Một cuốn sách bỗng biến thành hiện trường vụ án.
Những người như ông C. không phải là Vương Hồng Văn của Việt Nam. Những giữa họ có một sợi dây mảnh nối họ với nhau: niềm tin rằng việc tìm ra những biểu hiện nguy hiểm là một nghĩa vụ đạo đức; rằng xã hội luôn có những người mất cảnh giác và cần được ai đó cảnh báo; rằng sự khoan dung quá mức với cái sai có thể nguy hiểm hơn chính cái sai.
Đó không phải độc quyền của một cá nhân. Nó là một kiểu tâm thế.
Tâm thế ấy có thể xuất hiện ở cánh hữu hoặc cánh tả, ở người bảo thủ hay người cấp tiến. Người ta có thể đấu tố một nhà văn vì không đủ yêu nước; cũng có thể đấu tố một học giả vì không đủ cấp tiến. Danh mục tội lỗi thay đổi, nhưng niềm khoái cảm đạo đức khi đứng trong đám đông đúng đắn thì khá bền vững.
Điều đáng sợ ở Vương Hồng Văn không phải Vương là kẻ ác độc. Trước cách mạng Văn hóa, ông ta chỉ là một người công nhân bình thường, một cựu chiến binh yêu nước, một lòng tin tưởng vào Đảng và lãnh tụ. Không phải những người như Vương tự mình tạo ra thời đại. Thời đại tìm thấy họ, gọi tên họ, trao cho họ một chiếc loa.
Đó mới là điều đáng lo. Bởi khi con người hoàn toàn tin mình đại diện cho chính nghĩa, họ không còn cảm thấy cần phải bị giới hạn những gì có thể làm với người bị xem là sai trái.
Một xã hội trưởng thành cần những người phê bình. Cần có những người gay gắt, người thách thức, người trái ý, người bảo thủ, người cấp tiến... Nhưng nó không cần những công tố viên tự phong. Nó không nên biến mỗi cuốn sách trở thành một hồ sơ phạm tội, mỗi câu nói đùa trong không gian nội bộ trở thành một dấu hiệu phản phúc và mỗi sự bất đồng trở thành một vụ án.
Khi việc bảo vệ chân lý biến thành hình thức săn tìm và kết tội ai đó là “lệch lạc” thì chân lý sẽ là nạn nhân đầu tiên.
Và một xã hội sợ hãi trước bất cứ một nỗ lực đổi mới, khám phá hay tìm kiếm chân lý nào thì không thể là một xã hội “vươn mình”.
Đó chỉ có thể là một xã hội “co mình”.
- Vũ Hoàng Linh -
#China #CommunistChina #MaoZedong

Nhận xét
Đăng nhận xét