Link: https://www.threads.com/@lukastuyettung/post/DYPE4TXj-Dx?xmt=AQG0-gW5OgDKReCQKwQC33CIvF0WBqK7mLLZf6C-bzpCKNqZqS-ot32Y4X76WomYXp7BTt9u&slof=1
1 lần chơi đá (Meth) có thể mang đến cảm giác của 10 lần làm tình
Năm 18 tuổi, mình từng đọc được ở đâu đó rằng: 1 lần chơi đá (Meth) có thể mang đến cảm giác của 10 lần làm tình. Mình từng viết 1 truyện ngắn với tiêu đề này (lạc đâu mất rồi), và sau đó cứ băn khoăn mãi về cái fact này, tự hỏi khi nào mình được kiểm chứng? 20 năm sau, có hôm ngồi với lũ bạn ở quán café nói xấu thiên hạ, chúng mình tự hỏi nhau là nếu bây giơ giả dụ muốn chơi thuốc, thì cũng chả biết đường mua ở đâu. Từng này tủi rồi mà cũng không biết, chán tụi mình thật chứ.
Tóm lại thì, cảm giác của mười lần làm tình là thế nào? Và tại sao dân châu Á lại thích Meth đến vậy, trong khi dân Mỹ lại chuộng Cocain, còn dân Âu lại mê MDMA. Hôm nay rảnh rồi ngồi ôn lại bài một chút nhá:
*Dopamine – Nguồn cơn khoái lạc
Trước hết hãy nói về Dopamine (hormone của động lực và niềm vui) cái đã. Hiểu đơn jản thì nó là một phân tử tín hiệu. Cơ chế hoạt động là: Khi neuron A muốn nói chuyện với neuron B, nó phóng dopamine vào khe synapse, cái khoảng trống giữa hai tế bào thần kinh. Dopamine bay vèo vèo qua khe đó, gắn vào thụ thể ở neuron B, truyền tín hiệu xong. Sau đó neuron A sẽ có một cái “máy hút” để kéo dopamine trở ngược về A và tái sử dụng. Đây gọi là “tái hấp thu” Dopamine.
*Meth – Cái tôi bền bỉ
Methamphetamine (Đá) có cơ chế rất tàn bạo mặt thần kinh học: Trong quy trình mới nhắc phía trên, nó chui vào và khóa cái máy hút đó lại. Dopamine không bị kéo về mà cứ nằm lềnh fềnh trong khe synapse, tiếp tục kích thích neuron B liên tục. Neuron B nhận được tín hiệu khoái lạc mạnh hơn và kéo dài hơn bình thường rất nhiều lần. Chưa hết, meth còn kích thích giải phóng ngược dopamine từ các túi dự trữ và nó phá hủy các đầu dây thần kinh dopaminergic theo thời gian.
Mức dopamine tăng cao gấp mười lần so với bình thường, và kéo dài nhiều h. Đó là lý do vì sao meth được xem là thuốc của sự chịu đựng lâu dài chứ không phải là những cơn khoái lạc tức thì. Người chơi đá có thể thức trắng 3 ngày, làm việc liên tục, chịu đói và lạnh, không cảm thấy mệt. Về mặt tiến hóa, “đá” mô fỏng trạng thái sinh tồn khẩn cấp của cơ thể khi phải chạy trốn hay săn mồi trong nhiều ngày.
Có một sự thật thú zị là, Meth được sinh ra ở châu Á, và trong hơn 100 năm qua, địa hạt phát triển mạnh mẽ nhất của nó vẫn là ở châu Á. Ở Đông Nam Á, một bộ phận lớn người dùng meth là lao động di cư, ngư dân, tài xế đường dài, công nhân xây dựng, những người cần phải vượt giới hạn thể chất để kiếm đủ tiền gửi về nhà.
Đá bị xem như một công cụ lao động, một thực tế cực kỳ đau lòng và ít được thảo luận. Ở Nhật và Hàn Quốc, một hình thức khác của cùng vấn đề: văn hóa công ty đòi hỏi sự hiện diện tuyệt đối, văn hóa gia đình đòi hỏi ta vắt kiệt đời mình. Meth trong môi trường đó là cách cơ thể người bị vắt đến giới hạn để đáp ứng một kỳ vọng xã hội mà không ai dám từ chối công khai.
Ở khía cạnh tình dục, việc giải phóng lượng Dopamine quá mức của đá đôi khi khiến người ta có cảm giác như đang… làm tình 10 lần. Nếu baseline bình thường của dopamine là 100. Quan hệ tình dục đẩy mức đó lên khoảng 150-200, thì Meth có thể đẩy lên đến khoảng 1000 đến 1200 (tùy nghiên cứu). Nên nói nôm na là một lần chơi đá sướng bằng 10 lần làm tình có lẽ cũng không sai.
Tuy nhiên, quan hệ tình dục là một hoạt động có chu kỳ tự nhiên: kích thích nhẹ nhàng, hưng phấn tăng dần, đỉnh điểm, rồi giai đoạn refractory (còn gọi là giai đoạn trơ) với oxytocin và prolactin tạo ra cảm giác thỏa mãn và muốn nghỉ ngơi. Cơ thể có cơ chế tự nhiên để kết thúc vòng lặp. Khi dùng Meth thì đố bạn kết được đấy =)), dopamine cứ duy trì ở mức cao và não không nhận được tín hiệu bão hòa, người dùng cứ muốn tiếp tục không có điểm dừng.
Chưa kể, quan hệ tìnhà dục còn kích hoạt nhiều hệ thống song song. Ngoài Dopamine, Oxytocin tạo ra kết nối và tin tưởng. Endorphin tạo ra cảm giác ấm áp thể chất. Prolactin tạo ra sự thỏa mãn và buồn ngủ sau đỉnh điểm. Đây là lý do quan hệ tình dục để lại dư âm dễ chịu kéo dài và không tạo ra cảm giác thiếu hụt ngay sau đó. Meth thì gần như chỉ dopamine và norepinephrine, cực kỳ đơn chiều về mặt hóa học, và khi nó hết thì hết sạch thì không có dư âm hay vĩ thanh vẹo gì hết =)).
Nhưng mà, nếu vừa làm tình vừa đập đá thì sao? Về mặt lý thuyết ngắn hạn thì nó là sự khuếch đại của cả hai hệ thống phần thưởng cùng lúc. Khi hai nguồn kích thích cùng đổ vào, cảm giác thể chất sẽ cực kỳ mãnh liệt, da nhạy cảm hơn, và ức chế xã hội biến mất hoàn toàn. Đây là lý do tại sao chơi đá gắn liền với hành vi tình dục bốc đồng và kéo dài nhiều giờ trong văn hóa chemsex ở các cộng đồng nhất định.
Có một nghịch lý sinh lý học thú vị: ngoài ức chế tái hấp thu và sản sinh Dopamine, nó còn ức chế tái hấp thu và làm tăng cả norepinephrine. Nore thì khác hẳn về chức năng. Nó là chất của sự tỉnh táo và phản ứng khẩn cấp. Khi nore tăng, tim đập nhanh hơn, đồng tử giãn, máu dồn về cơ bắp, não chuyển sang chế độ tập trung cao độ. Đây là chất làm cho người ta cảm thấy sắc bén, alert, không bỏ sót chi tiết nào. Về mặt tiến hóa nó được thiết kế để hoạt động trong vài phút khi săn mồi hoặc chạy trốn.
Dùng “đá” khi làm tình, norepinephrine tăng cao gây co mạch ngoại vi, bao gồm mạch máu ở vùng sinh dục. Ở nam giới điều này thường dẫn đến khó cương hoặc không cương được dù ham muốn rất cao. Cơ thể muốn nhưng hệ thống thủy lực không hoạt động =)). Đây là hiện tượng được gọi trong tiếng lóng là “meth dick” và được ghi nhận rộng rãi trong y văn. Đó chính là nghịch lý của đập đá: vừa khuếch đại ham muốn tâm lý vừa phá hoại khả năng thực hiện sinh lý.
Ở một khía cạnh khác, dùng meth lâu dài có thể dẫn đến mất cảm giác với tình dục, và cơ chế là thứ tui đã có nói ở bên trên: tổn thương đầu dây dopaminergic. Não sau khi bị ngập dopamine ở mức 1000% liên tục sẽ tự giảm thụ thể, giảm số lượng và độ nhạy của thụ thể. Khi bạn không dùng đá nữa, não có quá ít thụ thể để nhận dopamine tự nhiên từ bất kỳ nguồn nào, bao gồm tình dục.
Tình trạng này gọi là anhedonia tình dục - không thể cảm nhận khoái cảm hoặc sự thỏa mãn trong hoạt động tìnhà dục, dù cơ thể vẫn có phản ứng sinh lý (cương cứng, tiết nước nhờn :v). Trong nghiên cứu lâm sàng về cai đá, anhedonia tình dục là một trong những triệu chứng phổ biến và kéo dài nhất, thường từ 6 tháng đến 2 năm sau khi cai hoàn toàn.
Một số người không hồi phục hoàn toàn nếu tổn thương đầu dây thần kinh quá nặng. Đây là một trong những lý do tái nghiện với meth cao đến vậy, trong giai đoạn cai người ta phải sống trong một thế giới phẳng lặng hoàn toàn, không có gì kể cả tình dục tạo ra bất kỳ cảm giác đáng kể nào.
Có một tầng nữa về mặt tâm lý học. Não người học qua association rất mạnh. Nếu hàng chục lần trải nghiệm tình dục của ai đó gắn liền với meth, não dần dần đặt meth vào như một điều kiện tiên quyết. Tới chỗ này thì ko còn là nghiện chất nữa mà là nghiện context rùi, và nó khó gỡ hơn nhiều vì về mặt lý thuyết tình dục là hoạt động lành mạnh nhưng não đã rewire để không thể tách hai thứ ra.
Người trong tình huống đó thường mô tả cảm giác tình dục không có meth như đang xem phim câm không có âm thanh, hình ảnh vẫn đó nhưng toàn bộ chiều sâu cảm xúc biến mất.
Tóm lại là, làm tình thui đã đủ rồi bạn ơi, bớt đập đá đi.
*Đến đoạn này thì định chuyển sang viết về các cái khác, nhưng sực nhớ là có chiếc phim Mỹ rất đỉnh về Meth là Breaking Bad trong khi phần đầu tui có nói là Meth phổ biến và hợp văn hóa châu Á nhất, vậy tại sao phim Mỹ lại làm về Meth chi? Thực tế thì Meth vẫn có ở khắp nơi trên thế giới, tùy vùng thôi.
Breaking Bad ra đời năm 2008 tại Albuquerque, New Mexico, một trong những bang nghèo nhất nước Mỹ. Vince Gilligan chọn bối cảnh này là vì Albuquerque nằm trên hành lang vận chuyển từ Mexico lên, là điểm trung chuyển thực tế của nhiều loại ma túy, và cộng đồng ở đó đã sống với hậu quả của meth đủ lâu để câu chuyện có độ tin cậy địa lý. Nhưng lý do sâu hơn là meth phù hợp với câu chuyện Mỹ theo cách heroin hay cocaine không làm được.
Nếu Heroin là thuốc của người đã bỏ cuộc, cocaine là thuốc của người đã thành công (hai cái này lát giải thích sau nhen), còn meth là thuốc của người đang cố gắng tuyệt vọng để không tụt lại phía sau (giống xài Doping trong thể thao zị á). Đó chính xác là tâm lý của tầng lớp trung lưu thấp Mỹ trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008, thời điểm phim ra mắt.
Walter White là giáo viên có bằng tiến sĩ hóa học làm thêm ở tiệm rửa xe để trả hóa đơn, một hình ảnh cộng hưởng rất mạnh với khán giả Mỹ thời đó. Và cuối cùng, cũng là lý do Meth rất phổ biến ở Đông Nam Á và các vùng thu nhập thấp: meth là thứ có thể được sản xuất ở mọi nơi, trong bếp nhà, trong xe tải, trong sa mạc. Không cần đại bản doanh lớn hay cánh đồng bao la.
(thứ chịu trách nhiệm cho vòng lặp suy nghĩ về quá khứ và tương lai). Cần sa ức chế chức năng điều tiết lo âu và trí nhớ, kết quả là người dùng mất khả năng duy trì lo âu dài hạn và bị kéo về hiện tại.
Điều này giải thích tại sao cần sa phổ biến đặc biệt trong các xã hội có mức lo âu nền cao nhưng không có khủng hoảng cấp bách cần giải quyết, nó là thuốc của người bị kẹt giữa quá nhiều lựa chọn và quá ít ý nghĩa, tức là đặc sản của tầng lớp trung lưu phương Tây hiện đại. Nhưng ở tầng lớp thấp hơn, cần sa đóng vai trò khác hẳn: nó là giảm đau rẻ tiền và dễ tiếp cận cho những người không có bảo hiểm y tế hay không đủ tiền mua thuốc giảm đau hợp pháp.
*Heroin – Cái tôi tuyệt vọng
Heroin và opioid là nhóm được dùng để xử lý đau đớn thể chất và xã hội nhiều nhất, bao gồm cả nỗi đau của sự từ chối, mất mát và cô đơn. Heroin/opioid không tạo ra khoái lạc dữ dội như như cocaine hay meth, mà nó ức chế cơn đau. Người dùng heroin lần đầu thường mô tả cảm giác như toàn bộ lo âu, xấu hổ và đau đớn tích lũy cả đời biến mất trong vài phút.
Đó là lý do vì sao Heroin được xem là thuốc của những người muốn ngừng cảm thấy (chứ không phải muốn tốt hơn) và đó cũng là một trong những biểu hiện mạnh mẽ nhất của sự tuyệt vọng. Người nghiện cocaine, meth, ketamine, LSD, cần sa… thường vẫn có động lực tìm kiếm thứ gì đó trong cuộc sống. Người nghiện heroin thường đã từ bỏ cuộc tìm kiếm đó từ lâu.
Tóm lại thì, nói thẳng ra thì không phải chất kích thích nào cũng như nhau, và muốn dùng nó để đáp ứng được mục đích thì cũng cần lắm kiến thức, kinh nghiệm và trải nghiệm, chứ không phải cứ lao đầu vào ai rủ gì dùng đó ba lăng nhăng rồi lên giường lột đồ quất nhau là thấy zui đâu nhá.
*P/S: Nghệ sĩ từng dùng chất cấm yêu thích nhất của mình là Amy Winehouse.
Cô được xác nhận đã từng dùng cần sa, cocaine và heroin, nhưng đã bỏ tất cả trước khi mất. Người dắt cô vào con đường sa đọa này là chồng cô, Blake Fielder-Civil, đã giới thiệu heroin và các chất gây nghiện khác cho cô. Amy từng có một ca khúc tên là Rehab (Cai nghiện) trong album Back to Black, và có một sự thật thú zị về bối cảnh sáng tác của bài này. Khi manager của Amy kiu cô vào trại cai nghiện, cô từ chối. Và thay vì đi rehab, cô lại về nhà viết bài hát về việc từ chối vào rehab =)) Đó là một hành động vừa thiên tài vừa tự hủy hoại theo cách rất đặc trưng của Amy Winehouse.
Câu “they tried to make me go to rehab, I said no, no, no” nghe nó phản loạn dã man. Ca khúc này đã thắng Grammy, được phát trên radio khắp nơi, trở thành một biểu tượng.
Nhưng sau khi Amy mất vào năm 27 tuổi, người ta nghe lại bài hát và thấy ẩn bên dưới là rất nhiều lời… kêu cứu? Câu “I ain’t got the time and if my daddy thinks I’m fine” là chi tiết đáng chú ý. Amy nói rằng “cha tôi nghĩ tôi ổn”, cho thấy chính bản thân cô biết mình không ổn, nhưng Amy đã dùng nhận thức của người khác như lá chắn để không phải đối mặt với nhận thức của chính mình.
Câu I’d rather be at home with Ray cũng zị, Ray Charles là thần tượng âm nhạc của cô, người mà cô cảm thấy kết nối sâu nhất. Trong trại cai nghiện cô sẽ không có nhạc, không có rượu, không có thứ gì lấp đầy khoảng trống đó. Có lẽ Amy không thực sự sợ cai nghiện, cô chỉ sợ phải đối mặt với bản thân mình khi không có gì che chắn.
Có một nghịch lý bi kịch ở đây mà trong tâm lý học sẽ gọi là anosognosia (chứng mất nhận thức bệnh) một phần, tức là nhận thức không đầy đủ về tình trạng của chính mình. Cô đủ tỉnh táo để viết một bài hát cực kỳ thông minh về việc từ chối điều trị, nhưng không đủ khoảng cách với chính mình để nhận ra bài hát đó đang mô tả chính xác vấn đề mà cô cần giải quyết. Nghệ thuật của cô và bệnh của cô dùng chung một nguồn nguyên liệu, và đó là lý do cô không thể tách hai thứ ra, hay không muốn.
Amy từng nói thẳng rằng cô sợ điều trị tâm lý sẽ làm hỏng khả năng sáng tác của mình. Đây là một nỗi sợ có cơ sở tâm lý thực sự. Nhiều nghệ sĩ tin rằng đau đớn là nhiên liệu cho sáng tạo, và nỗi sợ mất đau đớn đó cũng là nỗi sợ mất bản thân. Winehouse không chỉ nghiện rượu và chất kích thích, cô nghiện chính trạng thái đau đớn đó vì nó là thứ duy nhất cô biết cách biến thành nghệ thuật.
Back to Black, album ra đời cùng năm với Rehab, là bằng chứng cho điều đó. Toàn bộ album được viết trong giai đoạn tan vỡ với Blake Fielder-Civil, và nó là một trong những album về mất mát hay nhất trong lịch sử nhạc pop hiện đại. Amy không thể biết lúc đó rằng mình đang đánh đổi sức khỏe lấy nghệ thuật theo nghĩa rất literal. Và câu hỏi mà không ai có thể trả lời là nếu cô vào rehab năm 2005 và hồi phục, liệu Back to Black có tồn tại không.
Dẫu vậy, cái này mới đáng nói nè: Theo kết quả độc chất học lúc Amy mất vào năm 27 tuổi, người ta không tìm thấy bất kỳ chất gây nghiện bất hợp pháp nào trong người cô. Thứ giết cô là rượu với nồng độ cồn trong máu là 416mg/100ml.
Có người tin rằng thứ thực sự giết Amy Winehouse không phải là uống rượu mà là cai rượu không có giám sát y tế. Trong người cô có Librium, thuốc kê toa dùng để kiểm soát triệu chứng cai nghiện rượu. Cô đã nhịn hoàn toàn gần hai tuần rồi uống lại đột ngột, và não đã mất tolerance sau thời gian nhịn nên không chịu được lượng cũ.
Đây là điều ít được biết về rượu:withdrawal của nó về mặt y tế nguy hiểm hơn withdrawal của heroin. Cai heroin đau đớn kinh khủng nhưng hiếm khi tử vong trực tiếp. Cai rượu đột ngột ở người nghiện nặng có thể gây co giật, delirium tremens (sảng rượu) và ngừng tim. Rượu là chất duy nhất trong danh sách các chất kích thích mà việc dừng đột ngột có thể giết người.
Amy Winehouse có thể được xem là ví dụ điển hình cho mô hình “chuyển dịch nghiện”. Cô cai được cocaine và heroin nhưng rượu lấp vào chỗ trống đó vì về mặt xã hội nó vô hình hơn, dễ tiếp cận hơn, và không có stigma (kỳ thị xã hội). Khi nói rượu không có stigma như heroin hay cocaine, nghĩa là trong hầu hết văn hóa phương Tây và cả Việt Nam, uống rượu là hành vi được bình thường hóa hoàn toàn. Người ta uống rượu trong tiệc cưới, trong bữa tối công ty, trong buổi xem bóng đá, trong tang lễ. Không ai nhìn người cầm ly rượu vang và nghĩ “má này có vấn đề”. Nhưng nếu người đó cầm ống tiêm thì câu chuyện khác hoàn toàn.
Hậu quả thực tế của việc không có stigma là người nghiện rượu có thể che giấu tình trạng của mình rất lâu, kể cả với chính họ. Ranh giới giữa “uống xã giao bình thường” và “phụ thuộc rượu về mặt sinh lý” không có vạch đỏ rõ ràng về mặt xã hội như với các chất khác. Người nghiện heroin biết mình nghiện heroin vì xã hội phản chiếu điều đó lại với họ ngay lập tức và liên tục. Người nghiện rượu có thể mất nhiều năm trước khi tự nhận ra hoặc được người xung quanh gọi thẳng tên vấn đề đó.
Với Amy Winehouse cụ thể, chuyển từ heroin sang rượu trong mắt nhiều người xung quanh trông như tiến bộ, như đang tốt hơn. Không còn kim tiêm, chẳng có crack pipe, chỉ là vodka thôi mà? Nhưng về mặt thần kinh học, não cô vẫn đang tìm phân tử lấp vào hệ thống phần thưởng đang thiếu hụt, chỉ là thứ phân tử đó lần này được bán hợp pháp ở mọi siêu thị.
Nhận xét
Đăng nhận xét