Chuyển đến nội dung chính

Bình An: TẠI SAO VIỆT NAM DỄ THẮNG MÔNG CỔ HƠN THẮNG HÁN ?

- Bình An -

TẠI SAO VIỆT NAM DỄ THẮNG MÔNG CỔ HƠN THẮNG HÁN ?

Trong lịch sử, Việt Nam hầu như không có cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia độc lập mà thắng rõ ràng trước một triều đại người Hán. Phần lớn những gì thường được kể là khởi nghĩa giành lại độc lập sau thời kỳ bị đô hộ, không phải chiến tranh quốc gia–quốc gia ngay từ đầu.

Các cuộc "thắng Trung Quốc" nổi tiếng - Ngô Quyền năm 938, Lê Lợi đánh Minh, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí - thực chất đều là khởi nghĩa hậu đô hộ. Đây không phải chiến tranh giữa hai quốc gia có chủ quyền song song từ đầu, mà là thuộc địa nổi dậy chống mẫu quốc. Sự phân biệt này nằm ở trạng thái quyền lực ban đầu, không phủ nhận giá trị của các chiến thắng đó.

Trường hợp gần nhất có thể coi là chiến tranh quốc gia–quốc gia là Lý–Tống (1075–1077). Lúc đó hai bên đều là quốc gia độc lập, nhà Tống là triều đại người Hán, Đại Việt không bị đô hộ trước đó. Tuy nhiên kết quả thực tế cho thấy Đại Việt không tiêu diệt được quân Tống, phải chủ động cầu hòa, biên giới vẫn theo thế mạnh của Tống. Đây là chiến tranh phòng thủ thành công, không phải thắng lợi quyết định. Nhà Trần chống Nguyên bị loại ra khỏi danh sách vì Nguyên không phải triều đại người Hán dù có cai trị Trung Hoa.

Nếu chỉ xét chiến tranh giữa hai chính quyền độc lập với đối thủ là triều đại người Hán, Việt Nam thua nhiều hơn thắng, thậm chí thua là trạng thái mặc định:

Năm 111 TCN, Nam Việt bị Tây Hán tiêu diệt hoàn toàn, mở đầu Bắc thuộc lần 1 kéo dài hơn 1.000 năm.

Nhà Hồ thua Minh trong chưa đầy một năm kháng cự (1406–1407), Minh chiếm trọn Đại Việt và xóa luôn quốc hiệu.

Nhà Tiền Lý với quốc hiệu Vạn Xuân sụp đổ nhanh trước Tùy năm 602, trở lại Bắc thuộc.

Tiền Lê dưới thời Lê Hoàn tuy thắng vài trận với Tống năm 981, nhưng rồi chủ động xin phong và thần phục sớm.

Nhà Lý ngoài cuộc xung đột 1075–77 còn chịu nhiều đợt lấn ép biên giới từ Tống, thường phải nhượng bộ.

Đếm lại: Việt Nam thua dẫn đến mất nước hoặc đô hộ ít nhất 4 lần, thua phải thần phục hoặc ở thế yếu nhiều đợt, trong khi thắng rõ ràng trong chiến tranh quốc gia–quốc gia với Hán triều xấp xỉ bằng không.

Lịch sử Việt Nam không phải lịch sử "đánh bại Trung Hoa", mà là lịch sử nhiều lần bị nuốt, thoát ra, rồi cố không bị nuốt lại. Điều đặc biệt của Việt Nam không nằm ở tỷ lệ thắng, mà ở chỗ không bị Hán hóa vĩnh viễn dù thua rất nhiều lần - giữ được ngôn ngữ, cộng đồng, ký ức chính trị. Trong các nước nằm sát Trung Hoa, Việt Nam thuộc nhóm bị đô hộ trực tiếp lâu nhất nhưng vẫn phục hồi được nhà nước.

Có một hiện tượng đáng chú ý: vì sao sĩ phu "dễ thua" Hán nhưng "liều chết" chống Mông?

Trong hệ tư duy Nho giáo, Thiên triều không phải kẻ xâm lược. Thiên hạ chỉ có một trật tự hợp pháp, và Hoàng đế Trung Hoa là người giữ lễ nhạc, luật lệ, điển chương. Khi bị Hán, Đường, Tống, Minh đánh, điều này không phải bị man xâm mà là trật tự trung tâm tái lập kiểm soát. Chống lại trở thành nghịch lý đạo lý nếu không có chính danh cực mạnh.

Ngược lại, Mông–Nguyên bị nhìn là "phản trật tự". Dù Nguyên cai trị Trung Hoa, trong mắt sĩ phu, Mông Cổ không xuất thân từ hệ lễ–nhạc và không thuộc trật tự Hoa Hạ truyền thống. Chống Nguyên là bảo vệ văn minh, không phải phản nghịch. Điều này giải thích vì sao nhà Trần chống Nguyên đến cùng, trong khi tầng sĩ phu bị phân hóa khi đối mặt Minh: một bộ phận hợp tác (nhóm quan lại cũ thời Hồ), một bộ phận trung lập, một bộ phận kháng cự (Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn). Minh đô hộ thành công nhanh không chỉ vì quân sự, mà vì hệ thống trí thức địa phương bị chia rẽ.

Chiến thắng Nguyên không chứng minh Việt Nam mạnh hơn Hán. Nó chứng minh Việt Nam chống kẻ phá trật tự tốt hơn chống trật tự mà mình ngưỡng mộ. Và nó vẫn còn dư âm tới hiện đại: ngưỡng mộ chuẩn mực bên ngoài, dễ tự tê liệt khi đối phương có "chính danh văn minh".

Cấu trúc quyền lực trong cách kể sử

Logic "Thiên triều" không mất trong lịch sử Việt Nam, chỉ thay vỏ. Thời trung đại, trung tâm đạo lý là Trung Hoa, phiên thuộc là hợp đạo. Thời hiện đại, "chính nghĩa lịch sử" hay "cách mạng đúng đắn" trở thành Thiên triều mới. Cơ chế giống hệt, chỉ thay biểu tượng.

Vùng Thanh–Nghệ–Thuận–Quảng khác với trung tâm khoa cử về cấu trúc: ít gốc rễ khoa bảng lâu đời, ít phụ thuộc biểu tượng Trung Hoa, thực dụng chính trị cao. Không ngẫu nhiên mà các cuộc kháng chiến thường do người vùng này lãnh đạo: Lê Lợi từ Thanh Hóa, Quang Trung từ Bình Định, nhà Nguyễn từ trục Thuận–Quảng. Họ ít bị khóa tâm lý chính danh Thiên triều, dễ coi Trung Hoa là đối thủ chứ không phải "trung tâm đạo lý", nên dễ đánh và dễ đoạn tuyệt.

Trường hợp Nguyễn Ánh tiêu biểu: ông hội đủ ba "tội" trong mắt tầng tinh hoa truyền thống - xuất thân Đàng Trong, cầu viện ngoài hệ Hoa Hạ (Xiêm và Pháp), lập chính quyền không cần trung tâm khoa cử công nhận. Diễn ngôn "cõng rắn cắn gà nhà" là vũ khí diễn ngôn của trung tâm khoa cử, không phải kết luận lịch sử trung lập. Tầng tinh hoa truyền thống không ghét cầu ngoại viện mà chỉ ghét sai ngoại viện: theo Minh có thể biện minh, thần phục Thanh chấp nhận được, nhưng cầu viện Pháp thì tội đồ - không phải vì "bán nước", mà vì Pháp không nằm trong trật tự Hoa Hạ.

Nghịch lý đáng chú ý: sau khi đánh bại Minh, Lê Lợi phải tái tạo Nho giáo cực mạnh để hợp thức hóa quyền lực và trấn an tầng sĩ phu. Tương tự, nhà Nguyễn "Bắc hóa" mạnh dù xuất thân Đàng Trong - muốn cai trị toàn quốc phải dùng chuẩn chính danh của trung tâm khoa cử. Cả hai trường hợp đều là phòng thủ chính trị, không phải lựa chọn văn hóa: đánh bằng bạo lực nhưng củng cố quyền lực bằng hệ tư tưởng của kẻ bị đánh.

Tiêu chuẩn kép

Hai loại nhượng bộ được đối xử hoàn toàn khác nhau.

Nhượng bộ hay thần phục Thiên triều Trung Hoa được hợp thức hóa. Bắc thuộc được gọi là "thời kỳ bị đô hộ" không gắn trách nhiệm cá nhân, sĩ phu hợp tác với Minh được mô tả là "bị ép", "giữ văn mạch", "tùy thời". Biên giới phía Bắc nhiều lần bị nhà Lý, Trần, Lê điều chỉnh theo yêu cầu Thiên triều nhưng gọi là "phân định" chứ không phải "nhượng". Sau Minh thuộc, một số vùng tranh chấp như đất Tụ Long và các động vùng biên mất vĩnh viễn mà không có tên gọi nào gắn trách nhiệm.

Ngược lại, nhượng bộ phương Tây bị đạo đức hóa nặng: cầu viện Pháp bị gọi đích danh và gắn nhãn phản bội, không được phép diễn giải là "tùy thời". Cùng là mất chủ quyền nhưng cách kể hoàn toàn khác - vì Trung Hoa nằm trong hệ chính danh còn Pháp thì ngoài. Theo Trung Hoa là sai lầm lịch sử, theo Pháp là tội lỗi đạo đức. Tiêu chuẩn kép nhưng nhất quán trong hệ tư duy.

So sánh khu vực

Nếu xét năm cách "sống cạnh đế chế":

Nhật ở ngoại biên, chưa từng bị nuốt, nhấn mạnh liên tục văn minh và không ám ảnh "đánh thắng ai". Thua tuyệt đối năm 1945 nên viết lại toàn bộ sử học, chấp nhận thất bại và cải cách thành công.

Triều Tiên ở vị trí phiên thuộc ổn định, thần phục hình thức nhưng tự trị thực chất, không mất nhà nước, không cần "giành lại độc lập", nên không tạo huyền thoại "đánh thắng Trung Hoa". Nhấn mạnh văn hiến và lễ nghi, tự xưng "Tiểu Trung Hoa" như bản sao tốt hơn bản gốc.

Tây Tạng bị nuốt hẳn, kể lịch sử theo kiểu nạn nhân mất nước, bản sắc dựa vào đau khổ.

Ba Tư tuy bị Hy Lạp, Ả Rập, Mông Cổ chinh phục nhưng ngôn ngữ và văn hóa đồng hóa ngược kẻ chinh phục. Không phủ nhận thua trận mà kể "chúng ta vẫn là trung tâm văn minh". Xây "Thánh giá dân tộc" theo kiểu Ba Lan: thua quân sự không bằng thua lịch sử.

Việt Nam chịu áp lực đồng hóa sâu hơn Ba Lan vì mức độ tương đồng văn minh với Trung Hoa rất cao, và chịu áp lực tồn tại chính trị cao hơn Triều Tiên vì nhiều lần mất nhà nước hoàn toàn. Lối thoát là tái định nghĩa thắng–thua: "không bị xóa sổ" thành "toàn thắng".

Một học giả trung lập sẽ mô tả: Nhật - "ta là ta, không cần chứng minh"; Triều Tiên - "ta đúng vai trong trật tự"; Tây Tạng - "ta bị cướp"; Ba Tư - "ta lớn hơn kẻ thắng ta"; Việt Nam - "ta phải thắng để tồn tại". Điểm yếu của Việt Nam không phải "tự hào quá", mà là chưa có trụ cột khác ngoài chiến thắng để kể câu chuyện quốc gia.

Tâm lý "victory narrative"

Thực tế Việt Nam thua nhiều hơn thắng trước Trung Hoa là điều hiển nhiên không gây tranh cãi. Vậy vì sao diễn ngôn lại nhấn mạnh "ta thắng các nước lớn"? Đó là tâm lý sinh tồn của nước nhỏ, không phải tâm lý của kẻ chiến thắng.

Khi thua nhiều, nước yếu phải kể lại lịch sử theo lát cắt có lợi. Nước mạnh không cần nhấn mạnh chiến thắng và có thể thừa nhận thất bại. Nước yếu không chịu nổi ký ức thua kéo dài, phải "đóng khung" vài lần không bị tiêu diệt thành chiến thắng huyền thoại. Trong logic này, thắng có nghĩa là còn tồn tại, không phải thắng quân sự.

Diễn ngôn Việt Nam thường làm ba bước: bỏ qua toàn bộ giai đoạn thua (Bắc thuộc bị rút gọn thành "thời kỳ bị đô hộ" vô danh), phóng đại các mốc thoát ra (938, 1288, 1427, 1954 trở thành "đánh bại đế quốc"), và đồng nhất "không bị xóa sổ" với "thắng vĩ đại".

Việt Nam "gồng" mạnh hơn nhiều nước nhỏ khác vì hai lý do. Thứ nhất, bị đô hộ quá lâu bởi một nền văn minh rất gần - cùng chữ viết, thể chế, tư tưởng - nên có nguy cơ bị coi là "phiên bản lỗi", buộc phải khẳng định khác biệt bằng bạo lực biểu tượng. Thứ hai, quốc gia hiện đại Việt Nam sinh ra từ chiến tranh liên tục, không phải từ cải cách. Chính danh nhà nước gắn với kháng chiến thắng lợi, nên không thể kể lịch sử theo kiểu "chúng ta thua nhiều, sống sót nhờ thỏa hiệp".

Thực chất lịch sử Việt Nam là một "survival state" - nhà nước sinh tồn. Mục tiêu lịch sử thực là không bị xóa sổ và giữ quyền tự trị tối thiểu. Nhưng diễn ngôn buộc phải gọi là "toàn thắng" vì "sống sót" bằng thế yếu, còn "thắng" bằng chính danh.

Diễn ngôn "toàn thắng" cản trở cải cách qua ba ảo tưởng:

"Ta đúng về lịch sử thì ta sẽ đúng về tương lai" - nên không cần sửa hệ thống.

"Ta thắng bằng ý chí nên không cần năng lực" - nên khinh kỹ trị, khinh cải cách thể chế.

"Ngoại lực luôn thua nên không cần học họ" - nên tự cắt kênh học hỏi.

Hệ quả là mọi phê phán bị quy về "phủ nhận lịch sử" hay "tự nhục", không còn không gian cho cải cách kỹ thuật. Vì sao logic này sống dai ở Việt Nam hơn Nhật hay Ba Tư? Vì Việt Nam chưa từng có một "đứt gãy diễn ngôn hoàn toàn": Nhật thua 1945 nên viết lại toàn bộ, Đức thừa nhận thảm bại nên tái thiết thành công, Hàn Quốc bỏ huyền thoại và chấp nhận lệ thuộc nên phát triển. Việt Nam thay chế độ nhưng giữ trục chính danh - không có cú sốc ép phải viết lại sử theo hướng khiêm tốn.

Khi nào Việt Nam dám nói "chúng ta thua nhiều" và không sợ điều đó làm sụp đổ căn cước, khi đó mới là một quốc gia trưởng thành về mặt lịch sử.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...