Chuyển đến nội dung chính

FB. Chuyện xưa: Kỳ thi "Tú tài IBM"

Hình ảnh bài báo Sài Gòn xưa, nói về chuyện lần đầu tiên tổ chức kỳ thi Tú tài được chấm bằng máy điện tử IBM. Tính tới nay đã hơn 50 năm rồi. Những cô cậu học trò đi thi Tú tài năm ấy, giờ chắc cũng đã lên ông lên bà, có cháu chắt đầy đủ. Nhưng có lẽ, ký ức về kỳ thi đặc biệt đó thì khó mà quên được.

Khó quên là vì kỳ thi Tú tài niên khóa 1973-1974 có quá nhiều điều đặc biệt. Đây là kỳ thi Tú tài cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời cũng là lần đầu tiên Bộ Quốc Gia Giáo Dục dùng máy điện toán IBM, tức International Business Machines, để chấm thi Tú tài.

Bên dưới, ad có biên lại câu chuyện về kỳ thi này hơi dài một chút. Nếu bạn muốn biết thêm, hoặc muốn nhìn lại một kỷ niệm của một thời đi học ở miền Nam trước 1975, thì mời đọc tiếp nhe.

---

Ngày nay nghe tới máy điện toán hay máy tính điện tử thì không có gì lạ. Nhưng ở Việt Nam vào đầu thập niên 1970, đó vẫn còn là một thứ rất mới mẻ. Máy điện toán trên thế giới đã có từ năm 1924, nhưng tại miền Nam thời đó, ngay cả mấy tiếng như "máy điện toán" hay "máy tính điện tử" cũng chưa thiệt sự phổ thông trong đời sống thường ngày.

Để chấm thi bằng máy điện toán, Bộ Quốc Gia Giáo Dục lúc bấy giờ đã ký hợp đồng với một đơn vị quân đội Mỹ để sử dụng máy IBM. Máy này được đặt trong căn cứ quân sự, còn người vận hành là quân nhân Mỹ. Máy điện toán hồi đó không nhỏ gọn như máy tính bây giờ, mà to như một cái tủ lớn, dây điện chằng chịt nối máy này qua máy kia, nhìn vô là thấy đúng hình ảnh của một thời kỹ thuật còn cồng kềnh nhưng rất hiện đại đối với Việt Nam lúc ấy.

Máy IBM chỉ chấm được bài trắc nghiệm theo mẫu. Vì vậy, học sinh trước kỳ thi phải được cho làm thử bài trắc nghiệm, rồi được hướng dẫn rất cụ thể cách làm bài sao cho máy có thể chấm tự động. Từ chuyện phải dùng loại bút nào, chọn đánh "x" hay khoanh câu trả lời ra sao, nếu bỏ câu này để chọn câu kia thì phải làm thế nào cho hợp lệ, tất cả đều phải đúng quy định.

IBM là một cỗ máy, nên nó cần sự rõ ràng tuyệt đối trong cách làm bài. Có rõ ràng thì máy mới chấm chính xác được. Bài nào làm không đúng "kỹ thuật" đã được hướng dẫn trước thì sẽ bị loại ra thành bài thi không hợp lệ.

Nha Khảo Thí lúc đó cũng đã dự liệu trước trường hợp có thí sinh "vô tình hay cố ý" làm cho bài thi không hợp lệ. Vì vậy, họ điều thêm một số giám khảo để chấm tay những bài bị máy loại ra. Dù kỳ thi có cả người chấm lẫn máy chấm, nhưng dân gian vẫn gọi gọn kỳ thi đó là Tú tài IBM.

Kỳ thi Tú tài IBM được tiến hành vào năm 1974, nhưng kế hoạch này đã được đề xuất từ trước đó khá lâu. Ngay từ đầu năm 1972, tờ nhật báo Hòa Bình đã có bài viết mang tựa đề: "Tú Tài 1: sẽ cho thi trắc nghiệm và chấm bằng máy điện tử IBM", dẫn lời của chính ông Tổng trưởng Giáo Dục.

Bài báo cho biết, nhân dịp đến tham dự cuộc tiếp tân kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày thành lập lực lượng nhân dân kiến quốc tại số 448/19 Trương Minh Giảng vào tối 16/1/1972, ông Ngô Khắc Tỉnh, Tổng trưởng Giáo Dục, đã tiết lộ với báo chí rằng vào năm 1973, các kỳ thi có thể sẽ được tổ chức theo lối trắc nghiệm, tùy từng địa phương, rồi bài thi sẽ được chấm bằng máy IBM.

Ông Tổng trưởng Giáo Dục cũng cho biết, lúc đó Bộ Giáo Dục đang xúc tiến việc nghiên cứu bãi bỏ kỳ thi Tú tài 1. Tuy nhiên, chuyện này không đơn giản, vì nếu bỏ Tú tài 1 thì có thể ảnh hưởng rất lớn tới Bộ Quốc Phòng. Cho nên Bộ Giáo Dục phải hết sức cẩn thận trong vấn đề này.

Theo ông, nếu bỏ kỳ thi Tú tài 1 thì phải mở thêm trường ốc, đồng thời phải kiểm soát chặt chẽ các trường tư thục. Vì vậy, việc bãi bỏ Tú tài 1 là chuyện rất khó.

Cũng theo lời ông Ngô Khắc Tỉnh, vì việc bãi bỏ kỳ thi Tú tài 1 có thể không thành, nên Bộ Giáo Dục phải nghĩ tới biện pháp mở những kỳ thi trắc nghiệm do từng địa phương đảm trách, sau đó gửi bài về trung ương cho máy chấm, hoặc chấm ngay tại chỗ nếu địa phương có máy IBM.

Ông cũng nói, đáng lẽ năm 1971 đã có những cải tổ quan trọng về thi cử, nhưng vì thiếu chuyên viên, còn máy IBM thì chưa đầy đủ, nên chưa thể thực hiện. Bộ hy vọng tới niên khóa 1972-1973 sẽ có những đổi mới toàn diện.

Như vậy, theo bài báo trên, thời gian dự kiến tổ chức thi Tú tài IBM là năm 1973. Nhưng trên thực tế, phải tới năm 1974 kỳ thi này mới được thực hiện.

Trước kỳ thi đó, dư luận cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Có người cho rằng Bộ Giáo Dục chưa chuẩn bị kỹ. Có người lại nói chuyện chấm thi mà đưa vô căn cứ quân sự là không văn hóa. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh Liêm, Chánh Thanh Tra, Thứ trưởng Giáo Dục, một trong những người có trách nhiệm tổ chức kỳ thi này, sau đó đã nói rõ hơn trong bài "Nền giáo dục ở miền Nam 1954-1975".

Theo ông Nguyễn Thanh Liêm, về mặt thủ tục và giấy tờ, từ đầu thập niên 1970, Nha Khảo Thí đã ký khế ước với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ. Từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, cấp chứng chỉ trúng tuyển, cho tới các con số thống kê cần thiết, tất cả đều được đưa vào hệ thống điện toán.

Còn đề thi trắc nghiệm khách quan thì cũng không phải tới năm 1974 mới có. Từ niên khóa 1965-1966, các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II đã dùng trắc nghiệm cho môn Công Dân, Sử và Địa. Nhưng phải tới năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi Tú tài mới gồm toàn những câu trắc nghiệm khách quan có nhiều lựa chọn, tức multiple choice.

Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều có dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi trắc nghiệm. Các câu hỏi cũng được đem thử nghiệm với hơn 1.800 học sinh ở nhiều nơi. Sau đó, người ta phân tích câu trả lời của học sinh, tức làm item analysis, để xác định độ khó của từng câu hỏi, rồi từ đó lựa chọn hoặc điều chỉnh câu trắc nghiệm cho thích hợp.

Tín độ, tức reliability, với hệ số tín độ của các bài trắc nghiệm từ 91 đến 94, và hiệu độ, tức validity, với hệ số hiệu độ từ 60 đến 73, đều được tính theo đúng phương pháp thống kê khoa học.

Bảng trả lời được đặt từ Mỹ. Bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm sau khi chấm xong được chuyển sang máy 534, tức punching machine, để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này, hay punched cards, sau đó được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, tính độ lệch tiêu chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính percentile và thứ hạng trúng tuyển.

Nhóm mẫu và nhóm định chuẩn cũng được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp khoa học của thống kê học, để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Nói dễ hiểu hơn, kỳ thi Tú tài IBM không chỉ là chuyện đưa bài vô máy rồi máy chấm điểm. Đó là cả một hệ thống điện toán hóa rất rộng, từ hồ sơ thí sinh, phiếu báo danh, bảng trả lời, điểm số, thống kê, cho tới xếp hạng trúng tuyển.

Đúng theo cách làm đó, bằng Tú tài IBM có ghi hạng trúng tuyển như thứ, bình thứ, bình, ưu... và có cả điểm từng môn thi.

Ngày trước, thi cử ít có chuyện đậu 100%. Kỳ thi Tú tài IBM cũng vậy. Kết quả kỳ thi này được ông Nguyễn Thanh Liêm ghi lại khá rõ. Khóa 1 năm 1974 có 142.356 thí sinh ghi tên, nhưng thật sự dự thi chỉ có 129.406 người. Trong số này, có 53.868 người thi đậu, tức 41,6%.

Khóa 2 có 94.606 thí sinh ghi tên, nhưng thật sự dự thi là 76.494 người. Trong số này, chỉ có 8.607 người thi đậu, tức 11,3%.

Nhìn vào con số đó có thể thấy, tỷ lệ thi đậu Tú tài thời điểm này đã cao hơn khá nhiều so với trước đó. Tính chung cả hai khóa thì hơn 45%, trong khi những thập niên trước có khi tỷ lệ đậu chỉ khoảng 10%. Kỳ thi quốc gia lúc này không còn nặng tính gạn lọc, loại bỏ như xưa nữa, mà mở ra nhiều cơ hội hơn cho học sinh được bước vào đại học. Nhờ vậy, trình độ dân trí cũng có điều kiện được nâng cao hơn.

Người đậu Tú tài thì có nhiều lựa chọn. Nhưng người rớt thì sao?

Hồi đó có câu nghe rất buồn: "Rớt Tú tài anh đi trung sĩ". Trừ nữ sinh và những người còn điều kiện tiếp tục học để thi lại, nhiều thanh niên thi rớt Tú tài thường phải vào lính. Tình hình chiến sự từ năm 1970 đến 1975 vô cùng ác liệt. Hàng triệu thanh niên, những người đang ở độ "tuổi Tú tài", bị gọi vào quân đội.

Có những người dù thi đậu, nhưng rồi cũng phải bỏ ngang việc học. Cái không khí đó từng được Phạm Duy viết trong những câu hát rất buồn:

"Trả lại em yêu khung trời đại học,

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

...

Anh sẽ ra đi về miền cát trắng,

Nơi có quê hương mịt mù thuốc súng

...

Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về"

Nhắc tới Tú tài thời đó, vì vậy không chỉ là nhắc tới thi cử, điểm số hay bằng cấp. Nó còn gắn với số phận của một thế hệ thanh niên miền Nam trong những năm chiến tranh cuối cùng.

Cũng xin nhắc sơ qua về các kỳ thi trước và sau năm 1975.

Ở miền Nam từ năm 1954 đến 1974, học sinh phải trải qua nhiều kỳ thi trong hệ thống phổ thông. Lớp 5 thi Tiểu học, lớp 9 thi Trung học đệ nhất cấp, lớp 11 thi Tú tài 1, và lớp 12 thi Tú tài 2.

Thời Pháp thuộc, việc thi cử còn phức tạp hơn. Mỗi kỳ thi lại có hai phần: thi viết, tức écrit, và vấn đáp, tức oral. Thí sinh phải qua phần viết trước mới được vô phần vấn đáp. Ai qua được cả hai phần thì mới xem như đậu hẳn. Riêng Tú tài 2 lại tổ chức hai khóa trong một năm. Khóa 1, tức première session, tổ chức vào đầu hè. Khóa 2, tức deuxième session, tổ chức vào cuối hè.

Cách thi cử như vậy, vào thời đó đã bị nhiều người chê là nặng nề và lạc hậu. Vì vậy, Bộ Giáo Dục miền Nam bắt đầu chỉnh sửa và loại bỏ dần các kỳ thi. Ban đầu là bỏ thi Tiểu học. Năm 1967 bỏ thi Trung học đệ nhất cấp. Năm 1973 bỏ thi Tú tài 1.

Đến năm 1974, chỉ còn một kỳ Tú tài IBM, không còn gọi là Tú tài 1 hay Tú tài 2 như trước nữa. Như vậy, nếu theo kế hoạch của Bộ Giáo Dục miền Nam lúc đó, từ năm 1974 trở đi, học sinh học 12 năm bậc phổ thông chỉ còn một kỳ thi lớn cuối cùng. Kế hoạch là vậy, nhưng lịch sử sau đó đổi hướng, nên không thể biết nếu tiếp tục thực hiện thì kết quả sẽ tốt xấu ra sao.

Sau năm 1975, đất nước thống nhứt, giáo dục cũng được thống nhứt theo một hệ thống mới. Các kỳ thi lại được phục hồi, gồm thi tốt nghiệp cấp I, có năm gọi là Tiểu học; thi tốt nghiệp cấp II, tức Trung học cơ sở; và thi tốt nghiệp cấp III, tức Trung học phổ thông.

Cấp I và cấp II có năm không thi, trường lập hội đồng xét công nhận. Có năm thì thi theo trường, theo cụm. Ngoài ra còn có các kỳ thi tuyển vào trường chuyên.

Về sau, Bộ Giáo Dục lại bỏ thi Tiểu học và Trung học cơ sở, nhưng vẫn giữ kỳ thi vào lớp 10. Cách thức thi cũng dần cải tiến, có cả tự luận và trắc nghiệm. Rồi gần đây, kỳ thi tốt nghiệp trung học và xét tuyển đại học được nhập lại thành kỳ thi "2 trong 1", nhằm giảm bớt số lượng kỳ thi cho học sinh.

Sau đây là lời kể của giáo sư Dương Đình Đống, một "người trong cuộc", cũng là một trong những giám thị tham gia kỳ thi Tú tài IBM duy nhứt của Việt Nam.

Theo ông, đó là một kỳ thi đặc biệt, lạ lùng nhứt thời đó. Kỳ thi được tổ chức theo sáng kiến của ông Bộ trưởng Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh và các cố vấn của ông, vào cuối thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Trước kỳ thi khoảng hơn 1 tháng, một thông cáo từ Bộ Giáo Dục ở Sài Gòn, qua Nha Trung học, được gửi về các trường, yêu cầu chọn và gửi danh sách đề nghị các giám khảo cho kỳ thi này. Điều kiện là các giáo sư được chọn phải có thành tích công bằng và liêm khiết.

Trường Nguyễn Huệ ở Tuy Hòa sau đó chỉ chọn duy nhứt giáo sư Dương Đình Đống. Nhưng mãi tới trước khi lên đường đi làm nhiệm vụ, ông mới biết mình được chọn.

Theo sự vụ lệnh, ông được cử làm giám thị ở Trường Trung học Lương Văn Can, quận 8, và làm giám khảo tại Nha Trung học, số 7 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận Nhứt, Sài Gòn.

Cho đến năm 1974, hầu hết người Việt vẫn còn xa lạ với 3 chữ "máy điện toán", kể cả trong giới học đường. Nói đi thi Tú tài IBM, nhưng nhiều thầy trò lúc đó thiệt ra cũng chưa thể mường tượng được đó là cái gì.

Trước đó vài năm, một số thầy cô được xem là "tiến bộ" đã cho học sinh làm bài "trắc nghiệm". Học sinh quen gọi kiểu này là "a, b, c khoanh". Nghĩa là thầy cô, nhứt là ở các môn Văn, Sử, Địa, Triết, tức các môn văn chương và xã hội, ra đề theo lối mỗi câu hỏi có 3 hoặc 4 câu trả lời, học sinh chọn câu đúng nhứt rồi khoanh lại hoặc đánh chéo. Với thầy cô, cách này có cái tiện là dễ chấm, chấm mau.

Còn những môn có tính tự luận như Toán, Lý, Hóa, Sinh vật thì ít dùng trắc nghiệm hơn, vì ra đề khó hơn và mất nhiều công sức hơn. Nhưng khó không có nghĩa là không thể làm được.

Ở Trường Nguyễn Huệ, nhiều thầy dạy Toán, Lý, Hóa đã từng ra đề thi trắc nghiệm cho học sinh. Ví dụ, đề Toán có 3 hoặc 4 đáp án khác nhau, ứng với a, b, c hoặc a, b, c, d. Thí sinh phải tự giải bài rồi mới chọn câu chính xác nhứt. Điều này buộc học sinh phải biết cách giải, hơn nữa còn phải giải thật đúng trước khi đánh dấu vào ô chữ. Không thể nhắm mắt đánh cầu may như một số đề văn chương hay xã hội được.

Có lẽ Bộ Giáo Dục lúc đó muốn giới trí thức, nhứt là học sinh và sinh viên, mau mau bắt kịp thế giới văn minh bên ngoài. Vì vậy, từ năm 1974, lệ thi Tú tài IBM được áp dụng cho tất cả 8 môn học: Văn, Sử, Địa, Triết, Toán, Lý, Hóa và Sinh vật.

Theo quy định, thí sinh phải dùng bút chì 2B, loại bút chì có nét mềm và màu tương đối đậm, để đánh dấu chéo vào các ô tròn phía dưới những chữ a, b, c, d, hoặc A, B, C, D. Học sinh không được dùng bút bi, bút mực, hay các loại bút chì 1B, 3B, vì như vậy máy có thể không chấm được. Những bài đó chỉ còn cách chấm tay bằng mắt thường, cho nên cần có thêm các giám khảo để chấm lại.

Một điều đáng chú ý nữa là trên mỗi tờ giấy thi của từng môn, thí sinh có ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sanh và địa chỉ. Tờ giấy thi đó không thể cắt phách như kiểu chấm thi tự luận truyền thống. Vì vậy, giám khảo có thể nhìn vào là biết rõ bài thi của ai, ở đâu. Điều này đòi hỏi giám khảo phải hết sức liêm chính.

Giám khảo được chia làm 3 tốp. Mỗi tốp lại chia riêng theo 8 bộ môn: Văn, Triết, Sử, Địa, Toán, Lý, Hóa và Sinh vật. Khi chấm bài thì bộ môn nào ngồi tách biệt theo bộ môn đó.

Bộ Giáo Dục lúc đó không có máy IBM riêng, nên phải mướn máy của quân đội Mỹ. Cơ sở đặt ở Tân Sơn Nhứt, rất rộng, có tường cao, nằm bên kia đường Trường Sơn ngày nay, đối diện phi trường Tân Sơn Nhứt.

Mỗi tốp giám khảo làm việc mỗi ngày khoảng 5 giờ. Có ca từ 6 giờ tới 11 giờ, có ca từ 12 giờ tới 17 giờ, và có ca từ 18 giờ tới 23 giờ. Ăn uống thì tự túc. Các tốp phải có mặt ở số 7 Nguyễn Bỉnh Khiêm trước giờ vào ca 1 tiếng. Những ca làm việc được sắp xếp luân phiên để công bằng và cũng để đỡ chán.

Đến giờ đã định, những chiếc xe Hải Âu màu vàng của Mỹ, do chính tài xế người Mỹ lái, chạy tới đón giám khảo rồi đưa thẳng vô căn cứ DAO.

Người Mỹ trong căn cứ rất kỷ luật, đúng giờ, và đặc biệt là giữ im lặng, giữ bí mật. Suốt cả tháng làm việc, từ tài xế cho tới nhân viên trong căn cứ, không ai nói chuyện với giám khảo Việt Nam. Các giám khảo được thông báo phải mang theo áo ấm. Ai ngồi đâu thì phải ngồi yên đó suốt buổi làm việc, không được chạy lộn xộn, không được nói chuyện ồn ào.

Muốn vào phòng máy phải đi qua 3 dãy nhà, đúng hơn là 3 luồng nhà nối tiếp nhau. Mỗi luồng có độ lạnh khác nhau, càng đi sâu vô trong càng lạnh. Căn nhà trong cùng, nơi đặt máy, là nơi lạnh nhứt.

Ngày đầu tiên, có giám khảo tự thấy mình khỏe nên không đem theo áo ấm. Nhưng khi vô tới phòng máy, gặp cái lạnh khủng khiếp, ai nấy run lập cập, thất kinh. Phòng đặt máy lớn bằng nửa sân vận động, bên trong đặt hàng vài trăm cái máy IBM, cái nào cũng to và cao như tủ đứng lớn, xếp quay lưng vào nhau.

Chỉ có người Mỹ lo việc chạy máy chấm bài. Nhưng trong lúc các giám khảo Việt Nam làm việc thì gần như không thấy bóng dáng người Mỹ nào cả. Trước mặt họ chỉ là những chồng bài đã được xếp sẵn, chờ đem ra xử lý. Đó chính là những bài thi không hợp lệ bị máy loại ra, phải chấm lại bằng tay.

Nhìn lại, kỳ thi Tú tài IBM năm 1974 là một dấu mốc rất lạ trong lịch sử giáo dục miền Nam. Nó vừa mang dáng dấp hiện đại, khi lần đầu tiên máy điện toán được đưa vào chấm thi quy mô lớn, vừa vẫn còn nét thủ công, vì những bài máy không đọc được thì con người phải ngồi chấm lại.

Nó cũng cho thấy một nỗ lực cải tổ thi cử rất rõ của Bộ Giáo Dục miền Nam thời điểm đó: giảm bớt sự nặng nề của các kỳ thi cũ, đưa trắc nghiệm khách quan vào trường học, dùng thống kê và điện toán để xử lý điểm số, đồng thời mở rộng cơ hội học lên cao cho nhiều học sinh hơn.

Nhưng kỳ thi ấy cũng diễn ra trong một bối cảnh rất đặc biệt: chiến tranh đang đi tới những năm cuối, xã hội miền Nam đầy biến động, và tương lai của nhiều học sinh không chỉ nằm ở điểm thi, mà còn bị chi phối bởi lệnh động viên, bởi quân đội, bởi thời cuộc.

Bởi vậy, nhắc tới Tú tài IBM không chỉ là nhắc tới một kỳ thi bằng máy điện toán. Đó còn là nhắc tới một lát cắt của Sài Gòn và miền Nam trước 1975, nơi một nền giáo dục đang cố gắng đổi mới giữa lúc thời cuộc đầy bất trắc.

Một kỳ thi chỉ diễn ra đúng một lần.

Một cái tên rất lạ: Tú tài IBM.

Và với nhiều học sinh năm đó, nó không chỉ là chuyện thi đậu hay thi rớt. Nó có khi là ngã rẽ của cả đời người. Người đậu thì có thể bước tiếp vô đại học. Người rớt thì có khi phải khoác áo lính, đi vô một cuộc chiến mà không biết ngày nào mới trở về.

chuyenxua.net biên soạn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

Lớp 5 ( lớp Nhất ) bậc Tiểu học , trường làng nhé ! 100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!! 1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa? 3. Tướng nào bẻ gậy phò vua? 4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông? 5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng? 6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang? 7. Kiếm ai trả lại rùa vàng? 8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào? 9. Còn ai đổi mặc hoàng bào? 10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai? 11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài? 12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương? 13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương? 14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha? 15. Anh hùng đại thắng Đống Đa? 16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày? 17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây? 18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình? 19. Vua Bà lừng lẫy uy danh? 20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm ...