ĐỦ GIỎI NHƯNG CHƯA ĐỦ TIN
- Nguyễn Thế Vinh -
Năm 2024, một khách hàng của tôi, công ty tư nhân lớn của Úc trong ngành điện, lần đầu quyết định tuyển kỹ sư kết cấu tại Việt Nam. Thị trường quen thuộc của họ trước đó là Philippines.
Tôi gửi sáu hồ sơ. Cả sáu được mời phỏng vấn trực tiếp. Khách hàng bay từ Australia sang Hà Nội, năm ứng viên từ TP HCM cũng bay ra. Người đầu tiên vừa bước khỏi phòng, hai thành viên đoàn tuyển dụng đã nói với nhau: “Đã trội hơn ứng viên giỏi nhất Philippines lần này!”
Cuối ngày, hai kỹ sư Việt Nam được chọn. Người xếp thứ tư trong nhóm Việt Nam cũng được đánh giá ngang người đứng đầu phía Philippines.
Tôi đã nghĩ một cánh cửa vừa mở. Rồi nó đóng lại.
Một người không đủ kiên nhẫn chờ thủ tục visa, quyết định kết hôn và ở lại Việt Nam. Người kia băn khoăn về mức lương – điều hoàn toàn chính đáng – nhưng cách thương lượng và ứng xử thiếu chuyên nghiệp khiến khách hàng mất niềm tin, dừng luôn hồ sơ visa. Kết cục cuối cùng, hai người được chọn, nhưng không ai đi.
Tôi gửi email hỏi về kế hoạch tuyển tiếp. Không có hồi âm. Tôi không tiếc hai vị trí đã mất bằng những vị trí có thể đã xuất hiện nếu trải nghiệm đầu tiên thành công. Bởi trong một thị trường mới, một cá nhân không chỉ đại diện cho mình. Một trải nghiệm tốt có thể mở cửa cho hàng chục người đi sau; một trải nghiệm tệ có thể đóng lại những cánh cửa chưa kịp mở. Deal “làm ăn” của tôi thất bại toàn tập.
Câu chuyện ấy khiến tôi nghĩ đến một bài toán lớn hơn.
Tại một hội thảo khoa học quốc gia ở Hà Nội gần đây, các nhà kinh tế cảnh báo rằng muốn trở thành nước thu nhập cao vào giữa thế kỷ này, Việt Nam phải dần rời mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và sản xuất của khu vực FDI. Một kịch bản cải cách hướng tới 2045 đặt mục tiêu tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) từ khoảng 0,2% lên 2% mỗi năm, chuyển từ “1i” – Investment – sang “3i”: Investment, Infusion, Innovation – đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một con số đáng chú ý: xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam hiện chiếm chưa đến 10% tổng xuất khẩu, so với mức bình quân khoảng 26% của ASEAN. Khoảng cách ấy cũng chính là dư địa.
Việt Nam đã thành công trong việc xuất khẩu những thứ có thể chất vào container. Nhưng một nền kinh tế không thể vừa muốn người dân giàu lên, vừa dựa mãi vào lợi thế lao động rẻ. Khi tiền lương tăng, câu hỏi phải đặt ra là: sau nhân công giá thấp, Việt Nam sẽ bán gì cho thế giới?
Một kỹ sư ở Hà Nội có thể thiết kế cho khách hàng ở Úc, một lập trình viên ở Đà Nẵng có thể làm việc cho công ty đang đóng tại Mỹ. Thứ được bán khi ấy không còn chủ yếu là đôi tay, mà là tri thức và khả năng giải quyết vấn đề.
Trải nghiệm của tôi cho thấy người Việt không thiếu năng lực ấy. Điểm nghẽn nằm ở một nơi khác. Thị trường quốc tế không chỉ mua năng lực: nó mua sự tin cậy.
Doanh nghiệp Úc hôm ấy không chỉ phỏng vấn sáu kỹ sư: họ đang thử Việt Nam, họ muốn biết người Việt có giỏi không, nhưng cũng muốn biết lời hứa có được giữ, bất đồng có được xử lý chuyên nghiệp, thủ tục có dự đoán được và thời gian họ bỏ ra có đáng hay không.
Một kỹ sư có thể tính đúng một kết cấu phức tạp nhưng vẫn mất cơ hội chỉ vì cách ứng xử thiếu chuyên nghiệp. Một quốc gia có thể có hàng vạn kỹ sư giỏi nhưng vẫn khó xuất khẩu dịch vụ nếu chi phí để người khác tin mình quá cao.
Chi phí ấy không nằm trên hóa đơn. Nó nằm trong một cam kết thay đổi phút cuối, một cuộc thương lượng vụng về, một thủ tục visa kéo dài, một quy trình khó dự đoán. Mỗi thứ đều nhỏ, nhưng cộng lại thành rủi ro. Và khi rủi ro đủ lớn, khách hàng không cần tranh luận.
Họ đi nơi khác.
Đó cũng là lợi thế của Philippines. Sau nhiều thập niên tham gia thị trường dịch vụ quốc tế, họ không chỉ có nhân lực mà còn có một thứ hạ tầng vô hình: niềm tin.
Doanh nghiệp biết tìm người ở đâu, hiểu quy trình và tương đối biết mình sẽ nhận được gì.
Vì vậy, câu hỏi không còn là “kỹ sư Việt Nam có giỏi không?”. Buổi phỏng vấn hôm ấy đã phần nào trả lời.
Câu hỏi quan trọng hơn là: “Làm việc với Việt Nam có đủ đáng tin để tôi quay lại?”
Xuất khẩu dịch vụ cũng không chỉ mang về ngoại tệ.
Một kỹ sư làm việc cho doanh nghiệp Australia học được tiêu chuẩn kỹ thuật, cách quản trị, kỷ luật nghề nghiệp và phương pháp tổ chức dự án của một thị trường phát triển. Tri thức ấy theo con người trở về và lan tỏa. Đó chính là Infusion, tiền đề để tiến tới Innovation.
Muốn đi con đường ấy, có lẽ chúng ta cũng phải định nghĩa lại “nguồn nhân lực chất lượng cao”. Bằng cấp, ngoại ngữ và chuyên môn chưa đủ.
Chất lượng còn là giữ lời, đúng hạn, biết thương lượng, tôn trọng quy trình và hành xử chuyên nghiệp. Bởi thương hiệu quốc gia không chỉ được xây bằng những chiến dịch quảng bá. Nó được tích lũy mỗi ngày qua một bản vẽ, một hợp đồng, một email, một lời hứa được giữ.
Tôi vẫn nhớ lời hai người Australia sau cuộc phỏng vấn đầu tiên: kỹ sư Việt Nam đã vượt ứng viên giỏi nhất Philippines. Và tôi cũng nhớ email cuối cùng không được trả lời.
Giữa hai khoảnh khắc ấy có lẽ là một lát cắt của Việt Nam: chúng ta đã đủ giỏi để được thế giới lựa chọn, nhưng chưa phải lúc nào cũng đủ đáng tin để họ quay lại.
Việt Nam đã xuất khẩu rất nhiều thứ có thể đóng vào container. Muốn bước lên nấc cao hơn của chuỗi giá trị, chúng ta phải xuất khẩu được những thứ vô hình hơn: tri thức, sự chuyên nghiệp và chữ tín. Bởi lẽ rằng bán được lần đầu là năng lực, nhưng để khách hàng quay lại mới là thương hiệu quốc gia.
Sài Gòn, tháng 8 năm 2026
Tác giả Nguyễn Thế Vinh
Nhận xét
Đăng nhận xét