Chuyển đến nội dung chính

AI: TẠI SAO TRUNG QUỐC CÓ KHỔNG TỬ, ẤN ĐỘ CÓ PHẬT ĐÀ, PHƯƠNG TÂY CÓ HEGEL, CÒN VIỆT NAM CHƯA CÓ MỘT HỆ TƯ TƯỞNG RIÊNG?

 (AI viết)

Link: https://www.facebook.com/share/1ELpMb8pUs/

TẠI SAO TRUNG QUỐC CÓ KHỔNG TỬ, ẤN ĐỘ CÓ PHẬT ĐÀ, PHƯƠNG TÂY CÓ HEGEL, CÒN VIỆT NAM CHƯA CÓ MỘT HỆ TƯ TƯỞNG RIÊNG?

Nhìn ảnh Nguyễn Hữu Liêm đăng hai chồng sách của mình và Ken Wilber, nhiều người chỉ thấy một học giả già đang đùa vui trên Facebook.

Nhưng nếu đọc đủ những gì ông viết suốt mấy chục năm, người ta sẽ nhận ra có lẽ ông đang theo đuổi một câu hỏi khác hẳn.

Một câu hỏi lớn hơn rất nhiều.

Liệu Việt Nam có thể sản sinh một hệ tư tưởng của riêng mình hay không?

---

Mỗi nền văn minh lớn đều có một câu chuyện để kể về chính mình.

Người Ấn Độ có Upanishad.

Có Phật Đà.

Có Vedanta.

Có hàng ngàn năm suy nghĩ về bản ngã, giải thoát và bản thể.

Người Trung Hoa có Khổng Tử.

Có Lão Tử.

Có Trang Tử.

Có cả một kho tàng suy tư về thiên mệnh, đạo trời, nhân luân và trật tự xã hội.

Phương Tây có Plato.

Có Aristotle.

Có Kant.

Có Hegel.

Có Nietzsche.

Họ tranh cãi nhau suốt hơn hai ngàn năm về chân lý, tự do, lý tính và lịch sử.

---

Còn Việt Nam thì sao?

Đây là câu hỏi khó.

Người Việt có lịch sử.

Có văn học.

Có anh hùng.

Có chiến tranh.

Có những chiến công hiếm dân tộc nào sánh được.

Nhưng khi bước sang địa hạt triết học, chúng ta thường nói bằng ngôn ngữ của người khác.

Nói bằng Khổng giáo.

Nói bằng Phật giáo.

Nói bằng Marx.

Nói bằng Lenin.

Nói bằng chủ nghĩa tự do.

Nói bằng chủ nghĩa dân tộc.

Ít khi nói bằng một hệ thống tư tưởng do chính mình kiến tạo.

---

Điều này không phải vì người Việt kém thông minh.

Lịch sử giải thích phần nào điều đó.

Suốt hàng nghìn năm, ưu tiên lớn nhất của dân tộc là tồn tại.

Giữ nước.

Chống ngoại xâm.

Khai hoang.

Sinh tồn.

Những dân tộc phải chiến đấu liên tục thường sản sinh anh hùng nhiều hơn triết gia.

Họ tạo ra chiến lược hơn là siêu hình học.

Tạo ra kinh nghiệm sống hơn là hệ thống tư tưởng.

---

Nhưng khi một dân tộc bắt đầu giàu lên, ổn định hơn và bước vào thời đại tri thức, câu hỏi cũ lại quay về.

Chúng ta là ai?

Chúng ta tồn tại để làm gì?

Lịch sử Việt Nam có ý nghĩa gì đối với lịch sử nhân loại?

Không phải với tư cách một quốc gia.

Mà với tư cách một kinh nghiệm tinh thần.

---

Tôi cho rằng đây chính là câu hỏi ngầm xuất hiện trong nhiều cuốn sách của Nguyễn Hữu Liêm.

Từ "Sử tính và Ý thức".

Đến "Thời tính, Hữu thể và Ý chí".

Đến "Phác thảo một triết học cho lịch sử thế giới".

Đến "Ta Là".

Ông liên tục quay lại những chủ đề tưởng như rất xa nhau.

Nhưng thực ra đều xoay quanh một trục.

Con người.

Ý thức.

Lịch sử.

Tự do.

Hiện hữu.

---

Đó cũng là lý do ông đọc Ken Wilber.

Không phải vì Wilber nổi tiếng.

Mà vì Wilber là một trong số ít người còn dám đặt câu hỏi ở quy mô văn minh.

Ông muốn xây dựng một lý thuyết về sự tiến hóa của ý thức nhân loại.

Nguyễn Hữu Liêm dường như muốn làm điều tương tự, nhưng từ trải nghiệm của người Việt.

---

Có thể nhiều người sẽ phản đối.

Việt Nam cần kỹ sư hơn triết gia.

Cần doanh nghiệp hơn học giả.

Cần công nghệ hơn siêu hình học.

Điều đó không sai.

Nhưng lịch sử cũng cho thấy một sự thật khác.

Không có nền văn minh lớn nào chỉ sống bằng kỹ thuật.

Trung Quốc không tồn tại hơn hai nghìn năm nhờ thuốc súng.

Mà nhờ Khổng giáo.

Ấn Độ không tồn tại nhờ các vương triều.

Mà nhờ các hệ thống tư tưởng.

Phương Tây không dẫn dắt thế giới chỉ bằng công nghệ.

Mà còn bằng những ý niệm về tự do, cá nhân, khoa học và lý tính.

---

Một dân tộc muốn đi xa cần hai thứ.

Sức mạnh vật chất.

Và một thế giới tinh thần đủ lớn để chứa những người tài năng nhất của mình.

Nếu không có thế giới tinh thần ấy, người giỏi sẽ lần lượt đi tìm nơi trú ngụ trong các hệ tư tưởng ngoại nhập.

Điều đó đã diễn ra suốt hơn một thế kỷ qua.

---

Có thể Nguyễn Hữu Liêm sẽ không tạo ra được "triết học Việt Nam".

Có thể mọi cố gắng ấy sẽ thất bại.

Nhưng tôi nghĩ điều đáng quý không nằm ở kết quả.

Mà nằm ở việc ông dám thử.

Bởi từ lâu rồi, trong đời sống trí thức Việt Nam, người ta quen với việc bình luận các hệ tư tưởng.

Ít người còn đủ kiên nhẫn để xây dựng một hệ tư tưởng.

Và nhìn hai chồng sách trên Facebook, tôi không thấy một người đang khoe sách.

Tôi thấy một học giả già đang âm thầm gửi đi một tín hiệu.

Rằng sau hàng chục năm đọc Hegel, đọc Phật giáo, đọc Ken Wilber, đọc lịch sử Việt Nam, ông vẫn còn đang theo đuổi một giấc mơ rất cổ xưa của triết học.

Không phải hiểu một cuốn sách.

Không phải hiểu một học thuyết.

Mà hiểu con người, lịch sử và dân tộc mình như một chỉnh thể thống nhất.

Đó là giấc mơ mà từ Plato đến Hegel, từ Ken Wilber đến Nguyễn Hữu Liêm, chưa ai từ bỏ hoàn toàn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguyễn Trọng Tạo - TẠI SAO ĐÔNG LA BỊ CƯ DÂN MẠNG “NÉM ĐÁ”?

Link :  http://nguyentrongtao.info/2014/12/30/tai-sao-dong-la-bi-cu-dan-mang-nem-da/ NTT:  M ấy hôm nay, sau khi Đông La công bố trên  blog của mình việc bị BCH Hội Nhà Văn VN không kết nạp vào Hội, và Đơn khiếu nại gửi các tổ chức và các nhà lãnh đạo VHNT, chính trị, tư tưởng… lập tức bị cư dân mạng “ném đá” tơi bời. Có người gọi Đông La là “thằng đa lông”, có người gọi là “thằng điên”, có người gọi là “dư lợn viên”, có người gọi là “con lừa”… Nhà thơ Lệ Bình viết: Tôi có cảm giác lý trí con người không còn tồn tại trong Đông  La, khi ông tự  khoe mình là “đại tài”, … và gọi các ông Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng … đáng tuổi bố mình bằngthằng, chửi bới Trần Mạnh Hảo, Phạm Xuân Nguyên , Thu Uyên…là chó… Tò mò, tôi vào blog  Đông La  và đọc mộ lát. Xin trích một số đoạn từ các bài viết của Đông La để ai chưa biết thì đọc xem có đáng “ném đá” hắn không: “Đông La ngày đêm trằn trọc viết bảo vệ chế độ thế mà một khúc xương cũng không được gặm”. ...

Nam Đan - Ưu tư diễn nghĩa

Link : http://www.procontra.asia/?p=4227 Tháng 4 25, 2014 Nam Đan Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Nă m   nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy. Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát   ca , nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm! Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Tôi vừa đọc bài “ Ưu tư ngày 30-4 ” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blog   Quê Choa . Theo như nội dung của bài viết...

FB Rùa Tiên Sinh (Bùi Anh Chiến): Ngạo nghễ nó cũng có chừng mực thôi, vui đừng có vui quá

Thôi thì tự sướng cũng vừa phải thôi mấy cha, hết chữ thì thôi đừng có viết, một báo chính thống lớn như VnExpress mà giật cái tít thật đúng là không biết xấu hổ, ngạo nghễ nó cũng có chừng mực thôi, vui đừng có vui quá. Cứ mang GDP ra lòe thiên hạ mà méo có biết Thái Lan nó có GDP rất thực chất, Việt Nam thì ảo lòi ra mà vẫn cứ ru ngủ đồng bào cho được, giặc ngu luôn nguy hiểm hơn giặc thật. GDP danh nghĩa Thái Lan nhiều năm quanh mốc 500–520 tỷ USD, có năm vượt 540 tỷ. Việt Nam đang ở khoảng 430–470 tỷ USD. Khoảng cách không còn quá xa, nhưng vẫn là khoảng cách. GDP bình quân đầu người Thái Lan trên 7.000 USD, Việt Nam loanh quanh 4.000–4.500 USD. Chênh lệch thu nhập kéo theo chênh lệch năng suất, mức tiêu dùng nội địa, chất lượng hạ tầng và khả năng tích lũy vốn. Đó là nền móng thật, không phải mấy status tự sướng. Tôi chán phân tích cái GDP của Việt Nam rồi, cứ cá trong ao của mình là nhận về hết cả, mà có biết là cá thằng hàng xóm nó gửi ở đó, nuôi lớn nó mang về nhà thịt méo đâu....