KỂ CHUYỆN CHO MẤY CHÁU ÍT HIỂU BIẾT
- Hà Nhật Tân -
(bài khá dài)
Bữa nay Chúa Nhật, nhân việc nghỉ xả hơi giữa buổi, bèn viết vài dòng nói về vụ phân biệt vùng miền.
Đây là việc mà tui nghĩ là tui phải có đôi lời, vì tui là dân Bắc kỳ chính hiệu, lại ăn cơm, uống nước Nam kỳ suốt gần 47 năm qua, cho nên tự tin là có đôi chút hiểu biết để nói vài điều.
Vừa rồi có 1 em (/cháu) trai lên mạng chê và mạt sát “dân miền Nam” thậm tệ, khiến cho dân mạng nổi sóng. Thật ra điều đó là sai hoàn toàn. Bài viết này không phải để mắng mỏ hay trách tội cháu trai kia, mà để nói vài điều chính tôi, mắt thấy tai nghe mà thôi.
Tôi theo gia đình vô Rạch Giá từ năm 4 tuổi, vào khoảng tháng 10 năm 1980, cái tuổi mà không nhiều đứa bé hiểu chuyện; nhưng tôi, chắc không giống ai, mà đã nhớ những chuyện từ lúc 2 tuổi, đi mẫu giáo trường làng ra sao, lớp có bao nhiêu bạn, hay mặc áo gì đến lớp, đến bây giờ tôi vẫn kể vanh vách. Cả cái nhà vách nện đất của ông bà nội, hàng xoan, cây cau, giếng nước; cây nào ở đâu tôi đều kể lại được. Đến nỗi sau 12 năm rời quê, tôi vẫn có thể “sục” khắp ngõ ngách của cái làng quê từ chỗ bị trâu chém ngã sõng xoài, đến chỗ ăn chuối xanh mà tôi và thằng Tùng ăn trộm được. Tất cả rõ mồn một mặc dù mà tôi đã ra đi từ hồi chưa được 4 tuổi và chưa 1 lần về thăm...
À, kể dài dòng vậy chỉ để thấy rằng, tôi “khôn” từ bé, cho nên chú ý, học hỏi được những điều mà ngay cả người lớn cũng bỏ qua. Và thật may mắn, tôi sống ở 1 cộng đồng rất ít người Bắc, cho nên toàn bộ tuổi thơ của tôi được thở trong một bầu không khí phải nói rằng thuần chất Nam bộ. Và cái không khí ấy luôn được “đối chất” hàng ngày với không gian trong gia đình tôi, vốn là 1 gia đình cán bộ ngoài Bắc, được “tăng cường” vào Nam từ 1976, cho nên tôi thấy và so sánh được những điều không phải ai cũng có.
Và tôi học được rất nhiều điều khi bên cạnh nhà tôi là 1 nhà “địa chủ” người Hoa khai khẩn đất Nam kỳ; còn sau lưng là một xóm người Khmer làm nghề đi ghe lưới.
* * *
Nãy giờ tôi viết theo văn phong Bắc kỳ. Còn bây giờ tôi viết theo lối viết Nam kỳ. Hehe…
… Ba mẹ tui khi vô Nam, được nhà nước cấp cho cái nhà gỗ nằm ở góc vườn (chắc hơn 2000m2) của ông “địa chủ” người Hoa. Căn nhà này được coi như nhà hoang, khi người coi vườn (là cậu bà con của “ông địa chủ”) tạ thế cách đó vài năm. Thế là nhà nước lấy lại, mang đi cấp cho cha mẹ tui.
Ông “địa chủ” này có cái nhà rất lớn, tất cả là trệt. Ngoài cùng là nhà khách, rất hiếm khi mở, nối nhà khách là dãy phòng ngủ, sau phòng ngủ là khoảng sân trong khoảng 200m2 nối với gian bếp cũng khoảng 200-300m2. Cả nhà có 5 người (ông bà già cỡ 70-80 tuổi, cô con con gái út gần 50 ở vậy để phụng dưỡng cha mẹ, 2 cô cháu nội) và 3 người làm cùng với con cái của họ.
Nhà họ chủ yếu sinh hoạt ở gian bếp, nơi có 1 bộ bàn ăn cẩn xà cừ, cặp đôn ngồi men sứ thời Minh Mạng, chiếc xích đu, võng của ông già, 3 cái bộ ngựa, không gian bếp. Và ấn tượng nhất là một cái tủ gia vị giống hệt tủ thuốc trong mấy tiệm thuốc bắc, nhưng to lớn hơn nhiều: nó dài gần 10m, ngăn không gian ăn và bếp ra làm 2 phần, và cao hơn 2m: muốn lấy gia vị thì phải cần 1 cái xe thang bằng gỗ.
Tôi gần như lớn lên trong gian nhà sau (bếp) đó, bởi vì tui sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm lại khá giống với người cháu đích tôn nhưng bị mất tích khi cùng cha mẹ vượt biên của ông “địa chủ”, nên được ông thương như cháu nội. Vì thế tôi có thể mặc sức đi lại trong nhà, ngay cả các xó xỉnh mà chỉ có tôi với chị Trâm - cô cháu gái của ông - trong khi cha mẹ tôi cùng với hàng xóm, chưa bao giờ được bước chân vào căn nhà thâm nghiêm ẩn sau mảnh vườn 2000m2 ấy.
Tôi cũng hay được ông Tư, tức ông “địa chủ”, cho ăn cơm cùng. Đây là 1 “vinh hạnh” đặc biệt khi được ông tư cho ăn cùng mâm; bởi lẽ ông Tư là người dùng bữa trước, sau đó là bà Tư và cô Năm, sau nữa hai cô cháu gái. Và người làm và con cái của họ ăn cuối cùng. Bữa cơm bắt đầu vào 10h sáng và kết thúc khoảng 12h trưa, khi người làm trong nhà dùng bữa xong. Mỗi lần dẫn tôi qua dùng bữa, ông Tư đều đến trước cửa căn nhà gỗ của cha mẹ tôi: “Thưa chú thím Hai, cho thằng Tân qua ăn cơm với tui”. Tui được cha mẹ mặc cho bộ quần áo mới và lon ton chạy sau ông Tư.
Cần nhớ là đó là những năm 1980s, khi cả nước ăn đói; bữa nhà tui tuy không đến nỗi đói, nhưng ăn cá khô mục và gạo đỏ trộn bông cỏ từ ngày này qua tháng khác. Và bữa cơm bên nhà ông Tư thật là cao lương mỹ vị: trên bàn cẩn xà cừ là khoảng chục chén canh nhỏ khác nhau, vài món xào, vài món kho, ăn với 1 chén cơm gạo Thái Lan thơm phức; và tráng miệng là 2 chén chè (tui được 1 chén) long nhãn hoặc thanh long dầm đá. Tui được ông thương và thường xưng là “nội”, cho nên được nếm thử nhiều món mà tới giờ tôi vẫn nhớ mãi.
Cũng ở gian bếp đó tui được biết cái chén Gia Long, cái tô Minh Mạng, đôi đũa kim giao mà chỉ có vua chúa mới biết. Tôi cũng được dạy cách cầm đũa hoa sen, cách lấy canh vào chén, cách ngồi ăn, ăn cái gì trước, ăn cái gì sau, cái gì chấm với cái gì; đến những chữ Hán đầu đời trong Tam thiên tự.
Tui cũng chứng kiến cô Năm dạy 2 cháu (5-10 tuổi) cách đi đứng, mỗi ngày phải dành ra bao nhiêu phút kẹp cái đồng xu vô hẻ mông, trái chanh vô giữa 2 đầu gối để tập đi đứng, đánh mông. Cô Năm đẹp và đài các, cô còn chỉ chị Trâm (lớn hơn tui 5 tuổi) làm thủ công, thêu thùa, bếp núc.
Tôi gần như lớn lên trong gia đình đó, đến năm 1992 thì cả gia đình đi Mỹ định cư.
* * *
Ở phía sau nhà tui là 1 xóm ghe lưới. Hầu như là người Khmer. Tui chơi thân với thằng Linh, nó lớn hơn tui 2 tuổi, người đen nhẻm, roi roi nhưng rắn chắc. Nó là người chuyên binh tui khi bị mấy đứa trong xóm ăn hiếp.
Tui chơi với thằng Linh và đám trẻ Khmer trong tất cả những giờ rảnh rỗi. Nhà nó là nhà bà Sáu, có cả thảy 13 người con, mà cha mẹ nó là thứ Hai. Tất thảy 13 người con đó đều đi ghe lưới, chỉ có chị Út tên Ngọc là ở vậy để làm nội trợ cho đại gia đình. Nhà mấy chục miệng ăn, nên chỉ thức từ 4h sáng là làm quần quật tới 11h đêm.
Chị Ngọc và bà Sáu nấu ăn ngon không thể tả. Người Khmer nấu ăn ngon lắm. Bà Sáu lại thảo ăn, hầu như ngày nào cũng mang cho “chú thím Hai” (là ba mẹ tui) khi thì tô canh, khi thì dĩa chả cá gói lá nhàu, khi thì tô lươn um. Ba mẹ tui người Bắc, cho nên rất “bảo thủ” ăn uống, ngoài mấy loại rau luộc, xào, bầu bí nấu canh và trứng luộc, chiên… mà nhà nấu ra thì không biết ăn các món của người Khmer. Thế là tui… dứt hết. Hehe…
Và tôi lớn lên bằng cơm của người Khmer. Hàng ngày đi đi chơi đã đời, tui và thằng Linh mò xuống bếp. Căn bếp rộng thênh thang lúc nào cũng có nồi cơm, nổi cháo, chè… hay nồi bún mắm với rổ rau và xống chén với đủ thứ tô, tộ…, để ai ảnh thì tạt qua ăn. Ăn rồi thì lại làm tiếp.
Họ làm cật lực; Luôn bận bịu vì 3-4 chiếc ghe vô cảng hàng ngày. Khi hiểu ra người Nam kỳ bận bịu thế nào mà ít có bữa cơm chung, thì mới thấy văn hoá có cái nồi đồ ăn sẵn trong bếp và mạnh ai nấy ăn nó khác với văn hoá bữa cơm là phải đông đủ của người Bắc. Và cả xóm, cỡ 400-500 nóc nhà có ghe lưới thì nhà ai cũng vậy. Và phụ nữ như chị Ngọc hầu như nhà nào cũng có. Họ giỏi kinh khủng khi nấu cho 1 “đội quân” (có cả cháu chắt) đến ăn và cùng làm. Mà họ không nấu 1 món, nào là các loại bánh, chè, cháo, món nào cũng ngon, tui sống gần họ gần 15 năm, mà vẫn chưa ăn hết món họ nấu.
Cho nên DẸP cái tư tưởng con gái miền Tây lười và vụng đi. Ngay như mẹ tui và các cô tui, những người phụ nữ đảm, thì cũng chỉ biết loanh quanh mấy món như gà luộc, xôi gấc, giò chả là… hết bài. Còn lam lũ hả? Hãy xuống bến cảng mà xem phụ nữ họ cào cá, khiêng vác các cần xé 50-70kg, v.v. xem đàn ông có kham nổi không nhé.)
…
Bác ruột tui ở miền Bắc vào chơi. Ông là thợ mộc có tiếng trong làng sau khi phục viên. Mới đầu vào, cũng như những người Bắc ít khi ra khỏi luỹ tre làng, hay chê.
Khi thấy ông Sáu (chồng bà Sáu đã nói ở trên) với cái búa và bộ đồ mộc cà tàng, bác tui lại chê. Tui bèn dẫn bác tui ra sau nhà, nơi có cái xưởng đóng ghe “tại gia” của ông Sáu Khmer. Nhìn mấy cái ghe (tàu) gỗ 150 tấn với cái máy dầu bự chảng do ông Sáu và mấy người con ông đóng - bác tui kể từ đó không còn chê nữa.
Tui cũng dẫn bác tui đi coi người ta đào hầm (ao). Thấy cả tốp cả người Việt lẫn Khmer đào đất mà đứng ở dưới sâu cả chục mét, quay lưng lại đào và hất… lên trời, cục đất cả chục ký rơi xuống xếp đều tăm táp như mái ngói ở cạnh rìa ao, nhìn xa không thấy người đâu, chỉ thấy các tảng đất tíu tít bay lên và rơi xuống như đặt - thì bác tui trợn mắt. Về sau không thấy chê người miền Tây không biết làm lụng nữa.
…
Tui có cái may mắn, được lớn lên giữa cộng đồng “thuần Nam kỳ”, cùng ăn, ở, làm lụng với họ nhiều năm, nên hiểu rõ họ hơn nhiều người khác. Ngay cả bạn tui, những người Bắc kỳ, con của cô chú cũng tăng cường 1 lượt với ba mẹ tui, cũng không được có cái may mắn lớn lên trong 1 cộng đồng có cả người Hoa mở đất và người Khmer như tui; nhiều nhận định của họ cũng phiến diện. Chứ không phải sống lâu ở chỗ nào đó là đã hiểu về nó.
…
Khép lại cái bài đã quá dài, tui xin kể một câu chuyện. Trên mạng dạo nọ, có 1 anh KTS khá nổi tiếng, cũng huỷ kết bạn với tui, vì tui “sửa lưng”, nói ảnh là “thánh phán”, mới đi miền Nam có năm bữa nửa tháng mà đã dám phán như đúng rồi, rằng “tao còn lạ gì đất Nam kỳ, tao đã từng… ỉ* cả cầu cá vồ nữa cơ!”.
Thưa anh bạn, tui ở xứ này ngót nửa thế kỷ, tập nói ở xứ Nam kỳ, biết nói chữ “v” chúm miệng thành “d”, biết xà âm “tr” rền như quý tộc Nam bộ xưa (vì được dạy), biết ca 6 câu vọng cổ mà không rớt nhịp, biết nghe 1 cái biết dân Mỹ Tho hay Rạch Giá…; mà còn chưa hiểu rõ xứ này - thì anh bạn và những người quen thói mục hạ vô nhân của dân xứ Bắc (tui là dân Bắc thì sao không biết được?) hãy tem tém lại.
…
À quên, tôi chưa kể về gia đình tôi. Ba tôi là kỹ sư, còn mẹ tôi là giáo viên, cả hai người đều được đào tạo ở miền Bắc. Hồi tôi mới vào Nam, dọn vào căn nhà gỗ, việc đầu tiên là ba tôi mua về 1 chiếc… xe cải tiến. Sau giờ làm là vợ chồng con cái hùng hục đẩy chiếc xe cải tiến ấy đi mua cám cho heo và chở đồ. Nhà tôi không có lối đi, vì ở cuối khu vườn cho nên đi nhờ qua cái sân của ông Tư. Cái sân đẹp vậy mà sau 1 thời gian bị chiếc xe cải tiến “cày”, thì gạch lát vỡ hết. Ngay cả ống cấp nước chôn ngang lối đi cũng bị cán bể. Ông Tư, năm đó hơn 70 tuổi, một mình xắn cái quần lụa trắng ngồi dùng dây cao su quấn lại cái ống nước.
Còn ba tui, với cái nón cối trên đầu và bộ quần áo cũ kỹ, vẫn “vô tư” ngày ngày đẩy chiếc xe cải tiến qua lại khúc ống gãy đó. Sau này ngồi nghĩ lại hình ảnh một gia đình quê mùa và bố lếu bố láo khi đùng đùng đánh xe vào giữa cái sân văn minh tột bực kia, tôi vừa xót xa, vừa thương lại vừa nhục.
* * *
Bây giờ thì ba tui đã mất. Ông bà Tư nghe nói đã mất từ lâu, cô Năm thì ngoài 90, vẫn còn sống ở Mỹ. Còn mẹ tui, năm nay cũng gần 80, do vài thập kỷ đi dạy ở miền Nam, được văn hoá miền Nam khai phóng nhiều điều, nên từ lâu đã không còn giống như những người Bắc mới vô Nam nữa…
14/6/26, Dáo xư Phễu

Nhận xét
Đăng nhận xét