Lê Quốc Ca: Nhân việc trang Đạo sỹ việt râu giải thích lý do: Vì sao Liên xô sụp đổ. Tôi đăng lại bài này từ năm 2025
TẠI SAO LIÊN XÔ SỤP ĐỔ?
Tác giả: Trung Sỹ - Viết nhân ngày Quốc khánh Liên xô 7/11/2025
Ba mươi tư năm đã trôi qua kể từ ngày Liên Xô tan rã, nhưng câu hỏi "Tại sao Liên Xô sụp đổ?" vẫn còn nguyên giá trị.
Bởi đây không chỉ là câu chuyện của một quốc gia.
Đó là bài học về quy luật phát triển của mọi tổ chức, mọi thể chế và mọi nền văn minh.
Nhiều người cho rằng Liên Xô sụp đổ vì âm mưu của phương Tây.
Có người cho rằng do sai lầm của Gorbachev.
Có người lại quy toàn bộ nguyên nhân cho cuộc chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ.
Nhưng tất cả những điều đó chỉ là những nguyên nhân trực tiếp.
Nguyên nhân sâu xa hơn nằm ở một quy luật bất biến của lịch sử:
Bất kỳ hệ thống nào không tự đổi mới để thích ứng với thực tiễn đều sẽ bị thực tiễn đào thải.
THÀNH CÔNG ĐÃ TẠO NÊN SỰ TRÌ TRỆ
Điều nghịch lý là Liên Xô không chết trong thất bại.
Liên Xô bắt đầu suy yếu từ chính những thành công của mình.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô trở thành siêu cường.
Họ sở hữu nền công nghiệp khổng lồ.
Họ chế tạo bom nguyên tử.
Họ đưa con người đầu tiên bay vào vũ trụ.
Họ xây dựng hệ thống giáo dục và khoa học thuộc hàng mạnh nhất thế giới.
Những thành tựu ấy tạo ra niềm tin rằng mô hình hiện tại là hoàn hảo.
Và khi một hệ thống tin rằng mình đã hoàn hảo, nó sẽ ngừng tự phê bình.
Khi ngừng tự phê bình, nó sẽ ngừng đổi mới.
Đó chính là điểm khởi đầu của sự suy thoái.
BỘ MÁY QUAN LIÊU ĐÃ CHIẾN THẮNG THỰC TIỄN
Mọi tổ chức khi mới ra đời đều phục vụ mục tiêu.
Nhưng nếu không được kiểm soát, đến một lúc nào đó tổ chức sẽ quay sang phục vụ chính nó.
Liên Xô đã rơi vào vòng xoáy ấy.
Bộ máy quản lý ngày càng đồ sộ.
Các tầng nấc trung gian ngày càng nhiều.
Các báo cáo ngày càng đẹp.
Các con số ngày càng hoàn hảo.
Nhưng thực tế đời sống người dân lại ngày càng khác xa các báo cáo.
Trong nhiều trường hợp, cấp trên không còn điều hành đất nước bằng thực tiễn.
Họ điều hành bằng những bản báo cáo đã được làm đẹp qua nhiều tầng trung gian.
Và lịch sử đã nhiều lần chứng minh:
Một quốc gia không chết vì thiếu tài nguyên. Một quốc gia chết khi lãnh đạo không còn nhìn thấy sự thật.
KINH TẾ MẤT ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN
Con người không chỉ cần lý tưởng.
Con người còn cần động lực.
Liên Xô đã xây dựng được một hệ thống phân phối tương đối công bằng.
Nhưng theo thời gian, cơ chế này dần làm mờ đi mối liên hệ giữa năng suất và thu nhập.
Người làm tốt và người làm kém hưởng lợi ích không khác biệt đáng kể.
Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và doanh nghiệp hoạt động yếu kém đều được bao cấp.
Cạnh tranh bị hạn chế.
Sáng tạo bị giảm động lực.
Khi đó nền kinh tế vẫn vận hành, nhưng không còn phát triển mạnh.
Giống như một cơ thể vẫn sống nhưng ngày càng mất sức đề kháng.
Một nền kinh tế muốn phát triển lâu dài phải giải phóng được năng lực sáng tạo của hàng triệu con người.
Không có động lực thì không có sáng tạo.
Không có sáng tạo thì không có tăng trưởng bền vững.
KHOẢNG CÁCH GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI NGÀY CÀNG XA
Một chính quyền mạnh không phải là chính quyền ít bị phê bình.
Một chính quyền mạnh là chính quyền luôn nghe được tiếng nói thật.
Đến những năm cuối tồn tại, khoảng cách giữa bộ máy quản lý và xã hội Liên Xô ngày càng lớn.
Nhiều vấn đề tồn tại trong đời sống nhưng không được phản ánh đầy đủ.
Nhiều cảnh báo từ thực tiễn không được tiếp nhận kịp thời.
Khi các kênh phản hồi suy yếu dẫn đến các sai lầm sẽ tích tụ và không được khắc phục kịp thời. Khi sai lầm tích tụ quá lâu, khủng hoảng sẽ bùng phát.
GORBACHEV KHÔNG PHẢI NGƯỜI PHÁ HỦY LIÊN XÔ
Nhiều người đổ lỗi cho Gorbachev.
Nhưng công bằng mà nói, ông không tạo ra cuộc khủng hoảng.
Ông chỉ là người xuất hiện khi cuộc khủng hoảng đã tích tụ quá lâu.
Một ngôi nhà đã mục nát từ bên trong.
Người mở cửa sổ cho ánh sáng chiếu vào không phải là người làm ngôi nhà đổ.
Ánh sáng chỉ giúp mọi người nhìn thấy những vết nứt vốn đã tồn tại.
Sai lầm của Gorbachev không phải là cải cách.
Sai lầm nằm ở chỗ cải cách quá muộn, quá nhanh và thiếu sự chuẩn bị đồng bộ.
BÀI HỌC VĨ ĐẠI NHẤT TỪ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ
Lịch sử Liên Xô để lại một chân lý có giá trị vượt thời gian:
Không có mô hình nào bất biến. Không có thành công nào được bảo hành vĩnh viễn.
Mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức đều phải liên tục tự đổi mới.
Ngày hôm qua đúng chưa chắc hôm nay còn đúng.
Điều từng tạo nên thành công cũng có thể trở thành lực cản của tương lai.
Điều nguy hiểm nhất không phải là sai lầm.
Điều nguy hiểm nhất là không còn nhận ra sai lầm.
Một dân tộc biết nhìn thẳng vào thực tế sẽ luôn có cơ hội sửa chữa.
Một hệ thống biết lắng nghe phản biện sẽ luôn có cơ hội hoàn thiện.
Một quốc gia biết đổi mới sẽ luôn có cơ hội phát triển.
Nhưng khi bệnh thành tích thay thế sự thật, khi tư duy giáo điều thay thế thực tiễn, khi bộ máy tự bảo vệ mình thay vì phục vụ sự phát triển, thì sự suy thoái chỉ còn là vấn đề thời gian.
Liên Xô sụp đổ không phải vì họ quá yếu.
Liên Xô sụp đổ vì họ không thay đổi kịp với sự vận động của thời đại.
Và đó là bài học mà mọi quốc gia, mọi tổ chức và mọi thế hệ lãnh đạo đều cần suy ngẫm.
https://www.facebook.com/photo?fbid=122177847164862660&set=a.122099524778862660
FB. Đạo sĩ Việt râu: SỰ NGÂY THƠ CHÍNH TRỊ CỦA KHRUSHCHEV VÀ SỰ VÔ LƯƠNG CỦA M.GORBACHEV: KHI "HẠT GIỐNG ĐỎ" LẠI TRỞ THÀNH NHÂN TỐ PHÁ NÁT LIÊN XÔ.
Lịch sử nhân loại vĩnh viễn ghi lại ngày 26/12/1991 như một trong những bi kịch địa chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX. Khi lá cờ búa liềm kiêu hãnh trên đỉnh Điện Kremlin bị hạ xuống, khép lại sự tồn tại của Liên bang Xô Viết vĩ đại.
Nhìn lại chương sử đau thương ấy, những người yêu quý Liên Xô không thể không đau xót. Và rồi, khi vết thương lòng nguôi ngoai dần, người ta đều nhìn ra sai lầm chiến lược mang tính bản chất, sự ngây thơ chính trị không thể dung thứ của Nikita Khrushchev và sự vô lương của Mikhail Gorbachev.
Đó là ảo tưởng "muốn làm bạn với Mỹ", thiết lập chính sách "chung sống hòa bình" mà quên mất một chân lý cốt tủy, một định luật bất biến: Bản chất của chủ nghĩa đế quốc là tiêu diệt đến cùng chế độ Cộng sản chủ nghĩa.
Chính từ sự ngu dốt và mất cảnh giác ấy, năm 1958, Khrushchev đã mở toang cánh cửa cho chương trình trao đổi học thuật Fulbright, ngạo nghễ tin rằng có thể gửi những "hạt giống đỏ" xuất sắc nhất sang Mỹ để "học hỏi phương Tây nhằm chiến thắng phương Tây".
Nhưng Khrushchev đã hoàn toàn thất bại trong trò chơi cân não với tình báo Mỹ. Washington không cần dùng đến một viên đạn, họ chỉ cần dùng giảng đường Đại học Columbia, dùng tiền tài và quyền lực mềm, dùng sự xa hoa của chủ nghĩa tư bản để mua chuộc, tiêm nhiễm, làm tha hóa tư tưởng của những bộ óc trẻ tuổi. Những "hạt giống đỏ" thuộc thế hệ "Tan băng" (Thaw era) ấy được tung hô, sau ba mươi năm âm thầm bén rễ, leo cao, chui sâu vào tận trung tâm quyền lực của bộ máy lãnh đạo Xô Viết, để rồi chính họ, chứ không phải thế lực ngoại bang nào khác, đã tạo thành một "bộ sậu" hủy diệt, giật sập thành trì cách mạng từ bên trong.
Trong số những kẻ phản tỉnh ấy, Aleksandr Yakovlev chính là nhân vật nguy hiểm nhất, “kiến trúc sư trưởng” đứng sau sự sụp đổ về mặt tư tưởng.
Khi Mikhail Gorbachev bước lên đỉnh cao quyền lực, Yakovlev đã được trao cho chiếc ghế Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách tư tưởng kiêm Trưởng ban Tuyên giáo (tương tự như Võ Văn Thưởng ở Việt Nam). Với chiếc ghế ấy, Yakovlev sở hữu một thứ quyền lực tối thượng định hình toàn bộ đời sống tinh thần của hơn 200 triệu dân Liên Xô.
Nắm giữ chiếc gậy chỉ huy tư tưởng, Yakovlev đã thực hiện một chiến dịch "xét lại lịch sử" tàn khốc và toàn diện thông qua chính sách Glasnost (Công khai). Dưới sự bảo trợ của Yakovlev, truyền thông, báo chí và phim ảnh Xô Viết đồng loạt quay xe, chĩa mũi dùi vào chính quá khứ của mình. Họ nhân danh "sự thật lịch sử" để bôi nhọ, hạ bệ các thần tượng cách mạng, phủ nhận sạch trơn những thành quả vĩ đại của Chiến tranh Vệ quốc và công cuộc công nghiệp hóa đất nước.
Yakovlev đã mở đường cho các tác phẩm văn học độc hại của phương Tây tràn ngập thị trường, đồng thời cổ súy cho lối sống thực dụng, tôn thờ vật chất, xem nhẹ và chà đạp lên các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của Nga.
Trong những năm sau khi Liên Xô tan rã, Yakovlev đã viết và giảng dạy rất nhiều về lịch sử, chính trị và kinh tế. Ông ta còn là lãnh đạo của Đảng Dân chủ Xã hội Nga và tổ chức Dân chủ Quốc tế. Yakovlev do đó được ví như là "nhà tư tưởng chủ đạo của nền dân chủ Nga" dưới thời Boris Yeltsin (1991-1999).
Ông ta đã chết vào ngày 18/10/2005 tại Moscow. Nhưng muôn đời sau, ông ta sẽ bị nhân dân Liên Xô/Nga phỉ nhổ vì tội bán linh hồn cho quỷ dữ.
Thế nhưng, một mình Yakovlev không thể hoàn thành bản án tử hình cho Liên Xô nếu thiếu đi sự tiếp tay đắc lực trên hai mặt trận mang tính sống còn khác: Đối ngoại và Kinh tế. Đó là nơi Georgy Arbatov và Nikolai Shmelev, những "hạt giống đỏ" khác được Khrushchev cử sang Mỹ nghiên cứu trong các chương trình trao đổi học thuật sau năm 1958, thực hiện hành vi tàn phá của mình.
Trên mặt trận đối ngoại, Georgy Arbatov với tư cách là Ủy viên Trung ương Đảng, cố vấn tối cao về chính sách đối ngoại của Gorbachev, đồng thời là Giám đốc Viện Nghiên cứu Mỹ và Canada, đã dùng danh tiếng học thuật được phương Tây nhào nặn để tiêm nhiễm "tư duy chính trị mới" đầy nhu nhược vào Điện Kremlin.
Từng có thời gian dài gắn bó với các học giả cấp cao tại Mỹ, Arbatov đã bị tước bỏ hoàn toàn thế giới quan giai cấp. Với quyền lực cố vấn của mình, ông ta ra sức thuyết phục lẫn "ép buộc mềm" Gorbachev phải đơn phương nhượng bộ Mỹ trong các hiệp ước cắt giảm vũ khí, vô hiệu hóa sức mạnh của quân đội Xô Viết.
Đau đớn hơn, Arbatov chính là kẻ thúc đẩy mạnh mẽ việc rút quân khỏi Afghanistan và bỏ mặc các nước đồng minh Đông Âu tự sinh tự diệt trong các cuộc cách mạng màu năm 1989. Bản thân Arbatov từng tuyên bố một câu đầy tính triệt hạ giới quân sự: "Các đồng chí muốn giữ một vài căn cứ quân sự hay muốn giữ cho người dân Liên Xô không bị chết đói?" Bằng luận điệu này, ông ta đã tước đi chiếc khiên bảo vệ và vị thế siêu cường địa chính trị của Liên Xô, đẩy đất nước vào thế cô lập và đầu hàng vô điều kiện trước phương Tây.
Trên mặt trận kinh tế, Nikolai Shmelev, một bộ óc kinh tế được đào tạo để sùng bái mô hình thị trường tự do kiểu Mỹ đã giáng đòn chí mạng phá nát nền tảng vật chất của quốc gia. Trở thành cố vấn kinh tế tối cao của Gorbachev trong thời kỳ Cải tổ, Shmelev đã dùng ngòi bút và tiếng nói của mình để đầu độc nhận thức kinh tế của toàn xã hội.
Năm 1987, ông ta viết bài luận chấn động "Tiền bạc và Tình cảm", tát một gáo nước lạnh vào nền kinh tế kế hoạch tập trung, đòi hỏi phải áp dụng "liệu pháp sốc" của chủ nghĩa tư bản hoang dã, đưa sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường tự do vào Liên Xô. Chính tư duy sùng bái Mỹ của Shmelev và nhóm cố vấn kinh tế đã đẻ ra "Kế hoạch 500 ngày" đầy ảo tưởng. Dù kế hoạch này không được thực thi trọn vẹn, nhưng những cải cách nửa vời, sự buông lỏng quản lý giá cả và khuyến khích kinh tế tư nhân tự phát của họ đã làm tê liệt hệ thống phân phối, gây ra tình trạng khan hiếm hàng hóa trầm trọng chưa từng có, đẩy lạm phát phi mã và khiến hàng triệu người dân Xô Viết rơi vào cảnh bần cùng. Sự phá hoại về kinh tế của Shmelev đã triệt tiêu hoàn toàn niềm tin cuối cùng của nhân dân vào chế độ.
Hậu quả tổng lực từ bộ ba này là cả một thế hệ trẻ Liên Xô bị đầu độc về mặt nhận thức. Tam quan của họ bị đảo lộn hoàn toàn: họ bắt đầu hoài nghi lý tưởng của cha ông qua ngòi bút xét lại của Yakovlev, sùng bái phương Tây mù quáng qua chính sách đối ngoại quy hàng của Arbatov, và coi đồng tiền là trên hết qua lý thuyết kinh tế thị trường của Shmelev. Khi niềm tin tư tưởng bị đập nát, sức mạnh địa chính trị bị từ bỏ, và nền kinh tế bị bóp nghẹt, Liên Xô đã tự sát về mặt tâm hồn trước khi sụp đổ về mặt thể xác.
Thành quả cách mạng được đánh đổi bằng máu của hơn 27 triệu người con Xô Viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã bị chính bộ sậu du học Mỹ này đem ra cân đong đo đếm và hủy hoại một cách nhục nhã.
Sự sụp đổ của Liên Xô là minh chứng đanh thép và đau đớn nhất cho bài học về chủ quyền tư tưởng. Nó chứng minh rằng: Kẻ thù đáng sợ nhất không phải là kẻ cầm súng đứng ở bên kia chiến tuyến, mà là những kẻ mang tư duy xét lại, sùng bái ngoại bang đang ngồi ngay trong phòng họp của Bộ Chính trị và nắm giữ các vị trí cố vấn tối cao.
Sự ngây thơ của Khrushchev đã gieo mầm cho bi kịch, và sự phản bội của Yakovlev, Arbatov, Shmelev đã hoàn tất bản án tử hình đối với một quốc gia. Đó là bài học xương máu vĩnh viễn cho bất kỳ thế hệ lãnh đạo nào: Không bao giờ được phép mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, và phải bảo vệ nền tảng tư tưởng, kinh tế, đối ngoại của Đảng như bảo vệ chính con ngươi của mắt mình.
Cám ơn tất cả các bạn đã đọc hết bài!
Nhận xét
Đăng nhận xét