FB. Vịtđực Talking Art: KINH KHỦNG HAY & THÚ VỊ !!! 1949-1951 ở trên núi rừng Việt Bắc mà viết được như thế này… CHUYỆN CHIỀU CHỦ NHẬT
Link: https://www.facebook.com/share/p/14inpw9uJbE/
KINH KHỦNG HAY & THÚ VỊ !!! 1949-1951 ở trên núi rừng Việt Bắc mà viết được như thế này… CHUYỆN CHIỀU CHỦ NHẬT
*sinh thực khí của đàn ông thì gọi là “con”, vì nó có những lúc cử động như một động vật thực; của đàn bà thì gọi là “cái”, vì nó chỉ chịu đựng, chẳng khác cái bình, cái lọ, một vật nhân tạo…
*cố nhiên “con người” có nghĩa trung lập, không tốt không xấu, là khi nói chung không chỉ riêng ai, như nói “con người đứng trong trời đất”. cái nghĩa ấy, từ ngày cái cá nhân chủ nghĩa bắt đầu nảy nở, hay dùng đến lắm…
PHAN KHÔI BÀN VỀ 4 CHỮ “CON”, “CÂY”, “CỤC”, “CÁI” !!!
Theo như cái tiêu đề trên đây, tôi định nghiên cứu một ít chữ về phương diện ngữ pháp mà trước kia trong mấy sách nói về ngữ pháp người ta gọi là mạo tự hay quán tự, tương đương với ngữ pháp tiếng Pháp gọi là “article”.
Bốn chữ ấy, “con”, “cây”, “cục”, “cái”, chưa có thể cấp cho nó một cái danh hiệu gì vội, như nó hiện đã được gọi là mạo tự hay quán tự. Tôi muốn hẵng lột trần nó ra, coi nó có cái tính chất gì, có cái công dụng thế nào đã, rồi hãy đặt tên cho nó sau.
Người ta quen với mạo từ tiếng Pháp là để phân biệt giống đực, giống cái, số một, số nhiều, rồi tưởng những chữ đứng trên danh tự của tiếng ta cũng như thế; thực ra thì không hoàn toàn như thế đâu.
Như bốn chữ trên đây, xét kỹ ra, là chữ để đặt trên những danh tự chỉ vật theo từng loại.
“Con”, đặt trên danh tự chỉ động vật, là vật có hoạt động, như con thú, con chim, con rùa, con rắn, con sâu, con bọ, hay là con voi, con gà, con ếch, con gián...
“Cây”, đặt trên danh tự chỉ thực vật, là vật không hoạt động, như cây mít, cây chuối, cây tre, cây cúc, cây cải…
“Cục”, đặt trên danh tự chỉ khoáng vật, là vật không hoạt động, như cục vàng, cục sắt, cục đất, cục đá…
“Cái”, đặt trên danh tự chỉ vật nào do người ta làm nên, không phải vật tự nhiên như ba loại trên, mà cũng là vật không hoạt động, như cái nhà, cái thuyền, cái cầu, cái bàn, cái ghế, cái chén...
(Bốn chữ ấy đều có phụ âm “c” đứng đầu, hình như không phải sự tình cờ, là điều đáng chú ý, nhưng tạm gác lại đó, khoan nói đến).
Nên nói thêm: Con, đặt trên danh tự chỉ động vật, không chừa giống người ra: con người. Điều đó tỏ ra tiếng Việt có cái quan niệm ngay thực, nhìn nhận người ta cũng là một giống động vật, y như cái quan niệm của khoa học ngày nay và của người Trung Quốc xưa, họ nói thật thà rằng hết thảy động vật là loài trùng: giống cá có vảy là lân trùng; giống rùa có mai là giáp trùng; giống chim có lông vũ là vũ trùng; giống thú có lông mao là mao trùng; giống người không có mao không có vũ là lõa trùng.
Cây đây không có nghĩa đối với cỏ theo như sự phân loại về thực vật. Cây đây chỉ để đặt trên hết thảy những danh tự chỉ thực vật, cỏ cũng gọi là “cây”: cây cỏ. Lại, những vật nào người ta làm ra mà có hình trạng của cây cũng gọi là “cây”: cây bút, cây cột, cây phướn, cây nêu…
Cục cũng thế. Những vật nhân tạo có hình trạng của khoáng vật cũng gọi là “cục”: cục gạch, cục phấn, cục than, cục bột...
Cái, có khi dùng chỉ mấy thứ động vật nhỏ, như cái ve sầu, cái kiến, cái muỗi, kể như ngoại lệ, ít lắm.
Những chữ đặt trên danh tự còn nhiều nữa, như đóa hoa, hột cát, củ khoai, thoi vàng, thỏi sắt, cuốn sách, tờ giấy, thì chữ “đóa”, chữ “hột”, chữ “củ”, chữ “thoi”, chữ “thỏi”, chữ “cuốn”, chữ “tờ”, cũng đồng một tự loại với bốn chữ này; đây chỉ kể bốn chữ này là để khái quát bốn loại lớn của mọi vật đó thôi.
Đi tới một bước nữa. Tựu trung hai chữ “con”, “cái” thì lại có cái công dụng đặc biệt của nó.
Có người tưởng lầm rằng “con”, “cái” trong tiếng ta cũng như “le”, “la” trong tiếng Pháp, để chia ra giống đực giống cái. Không phải đâu, tiếng ta, “con”, “cái” không để phân biệt đực và cái, mà để phân biệt động và tĩnh.
Căn cứ theo nghĩa trên, “con” đặt trên danh tự chỉ động vật, “cái” đặt trên danh tự chỉ vật nhân tạo, là vật không động mà cũng không sống nữa, rồi suy rộng ra, bất kỳ vật nào có vẻ động thì cũng gọi là “con”; vật nào không phải nhân tạo mà tương đối tĩnh hơn vật cùng hàng với nó thì cũng gọi là “cái”.
Cái thuyền, cái tàu, cái dao, cái quay, cái roi cũng gọi là con thuyền, con tàu, con dao, con quay, con roi, vì cái thuyền thì đi, cái tàu thì chạy, cái dao thì cắt, cái quay thì quay, cái roi thì quất: đều có vẻ động.
(Cái diều sáo liệng trên không, kêu o o, theo lệ này, có thể gọi là con. Nhưng nếu gọi như thế thì e lẫn với con diều thật đi mất, cho nên vẫn gọi là “cái diều sáo” hay “cái diều”).
Cùng là chỗ chứa nước mà hồ, ao, đầm gọi là cái, sông gọi là con, vì hồ, ao đầm thì nước đứng yên, sông thì nước thường chảy, có vẻ động.
Trong thân người ta, đầu, mặt, tai, mũi, tay, chân thì gọi là “cái” (cũng như trong thân cây, hoa, lá, đài, nụ gọi là “cái”; trong thân chim muông, lông, cánh, vó, cựa gọi là “cái”) mà mắt, tim, thì gọi là “con”, vì mắt mở, nhắm và luân qua luân lại, tim đập, đều có vẻ động.
Cái nghĩa tinh tế và minh xác hơn nữa, là: sinh thực khí của đàn ông thì gọi là “con”, vì nó có những lúc cử động như một động vật thực; của đàn bà thì gọi là “cái”, vì nó chỉ chịu đựng, chẳng khác cái bình, cái lọ, một vật nhân tạo.
Tựa vào những chứng cứ đành rành và đầy đủ ấy, ta có thể tin rằng “con cái” không để phân biệt về giống mà để phân biệt về tính trạng: “con” đặt trên danh tự chỉ vật nào động hay có vẻ động; “cái” đặt trên danh tự chỉ vật nào không động, tĩnh.
Còn có nhiều chữ “cái”, “con” và “con”, “cái” có nghĩa khác, đừng lầm với chữ “con”, “cái” trên đây:
1/ “cái” sinh ra “con”, tức là mẹ con, nói về cả người và vật, như: con dại cái mang; bò cái bò con, lợn cái lợn con.
2/ cái lớn, con nhỏ, như: cột cái cột con, sông cái sông con.
3/ cái một, con nhiều; như: đánh bạc có tay cái tay con.
4/ “con” là con trai, “cái” là con gái, người ta cũng gọi con gái là cái nọ cái kia, như cái Cún.
Lại đi tới một bước nữa. Chữ “cái” còn có cái công dụng đặc biệt hơn chữ “con”.
Trước hết, chữ “cái” có sức làm cho những danh tự trừu tượng thành ra cụ thể. Bao nhiêu những cái tên của sự (tạm nói như thế), không phải của vật, chẳng những không sờ mó được mà cũng không chỉ ra được, khi dùng đến, ta đặt chữ “cái” lên trên nó, nó khắc thành ra như một vật bất động ngay. Ấy là khi ta nói: cái đạo, cái lý, cái chế độ, cái sở dĩ, cái vô cùng...
Nó còn có sức làm cho động tự, hình dung tự thành ra danh tự. Như “cái ngủ” trong câu ru em “cái ngủ mày ngủ cho ngon”; “cái bòn” trong câu tục ngữ “con gái là cái bòn”; “cái đẹp” trong câu tục ngữ “cái nết đánh chết cái đẹp”.
Không những thế, muốn làm cho một vật động trở nên tĩnh, và một vật tĩnh càng tĩnh hơn, cũng dùng chữ “cái” đặt trên một danh tự, đặt cả trên những chữ cùng một tự loại với nó, như chữ “con”, chữ “cây”, chữ “cục” chẳng hạn.
Cử lệ:
1. Cái người chúng ta gặp hôm qua là một cán bộ.
2. Cái con người làm sao mà tệ bạc quá.
3. Cái cây cam này đáng chặt đi: trồng mười năm rồi mà chưa có quả.
4. Cái cuốn sách in thật đẹp.
5. Cái tờ giấy gì mà mỏng quá, không viết được.
Câu lệ 1, dùng chữ “cái” thay chữ “con”, vì muốn làm cho cái sức động của con người ấy trở nên tĩnh; khi nói đó, trong ý ta như muốn bắt người ấy hiện ra đứng im trước mặt ta, làm một vật bất động để tiện ta chỉ băm vào mà nói cho khỏi lẫn với người khác.
Câu lệ 2, cùng có một dụng ý và một công hiệu như câu lệ 1, nhưng tại sao câu sau để được chữ “con” mà câu trước không để được chữ “con”? Điều này hơi khó giải. Hình như tiếng Việt tuy công nhận cái danh tự “con người”, mà cũng công nhận rằng trong danh tự ấy có hàm cái ý “còn có thú tính”, cho nên khi nói đến “con người” thường là nói về người xấu, tức như trong truyện Kiều có ba câu có danh từ ấy mà đều có ý xấu cả: "... thì con người ấy ai cầu làm chi”, “mà con người ấy ra người đong đưa", và "...đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh", vì vậy nên câu lệ 2 nói được “con người” mà câu lệ 1 không nói được chăng. Cố nhiên “con người” có nghĩa trung lập, không tốt không xấu, là khi nói chung không chỉ riêng ai, như nói “con người đứng trong trời đất”. Cái nghĩa ấy, từ ngày cái cá nhân chủ nghĩa bắt đầu nảy nở, hay dùng đến lắm.
Ba câu lệ 3, 4, 5 đặt chữ “cái” lên trên ba chữ “cây”, “cuốn”, “tờ” cốt làm cho những vật đã tĩnh càng tĩnh hơn, hầu cho cũng thu được cái công hiệu như đã thu được ở hai câu lệ trên.
Trải qua sự xét nhận như trên đây rồi, bây giờ mới có thể bàn đến cái danh hiệu của những chữ ấy.
Mạo tự hay quán tự đều có nghĩa là cái chữ trùm lên trên danh tự. Đã gọi trùm lên thì trên nó phải là không còn có đứng được chữ nào nữa. Đàng này, những chữ như “con”, “cây”, “cục”, “cái”, cho đến “đóa”, “hột”, “củ”, “thoi”, “thỏi”, “cuốn”, “tờ”, đều có thể bị chữ “cái” (nghĩa cuối cùng trong bài này) đặt lên trên, trừ ra chữ “cái” (nghĩa đầu tiên) không bị thế, thì lại có thể bị chữ “những” đặt lên trên (những cái nhà, những cái bàn), vậy thì hết thảy những chữ ấy đều không phải là mạo tự hay quán tự rồi.
Rốt lại, chỉ có chữ “cái” nghĩa cuối cùng đáng gọi là mạo tự hay quán tự, sắp hàng với những chữ nào, như chữ “những” chẳng hạn, có đủ cái tính chất trùm lên như nó. Còn hết thảy những chữ “con”, “cây”, “cục”, vân vân ... vốn là danh tự dùng đứng trước danh tự, nên đặt cho nó cái tên chung là tiền danh tự, và cho thuộc vào loại danh tự trong ngữ pháp.
(Viết xong bài này, có người đưa cho xem cuốn “Việt Nam văn phạm” của ông Trần Trọng Kim. Thấy đại khái những chữ ấy ở đây gọi là tiền danh tự thì ông Trần gọi là loại tự. Tại sao tôi không gọi loại tự theo ông Trần, sẽ nói trong bài sau. Cũng khi viết xong, tôi nhớ thêm một câu có danh từ con người nữa trong truyện Kiều: “Con người thế ấy, thác oan thế này”, chỉ riêng Thúy Kiều, mà ý muốn nói tốt cho chứ không nói xấu. Ghi vào đây để còn xét nữa, tôi chưa thủ tiêu hẳn cái ý nói trên.)
(Rút trong “Việt ngữ nghiên cứu”, tác giả Phan Khôi, NXB Đà Nẵng 1997)
Minh họa:
PHAN KHÔI (người ngoài cùng bên phải, đeo kính, cầm bát đũa), ĐOÀN PHÚ TỨ (người đang lấy cơm) trong bữa ăn tập thể tại một hội nghị văn nghệ giữa núi rừng Việt Bắc, khoảng 1948-1953. Ảnh Trần Văn Lưu.

Nhận xét
Đăng nhận xét