Link: https://www.facebook.com/share/1C5qaB6vP3/
Yêu bác lòng ta trong sáng hơn?
Chuyện của Thanh – Chuyện của Descartes.
Gần đây tôi lại rất quan tâm đến hiện tượng cuồng tín và sự xơ cứng trong tư duy của con người, đặc biệt là của người Việt chúng ta. Vì vậy hôm nay tôi mạo muội nói đến một khía cạnh trong tư tưởng của Descartes mà theo tôi vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
Mong các bạn đọc và suy ngẫm. Tin hay không tin là quyền của mỗi người. Nhưng cũng nên nhớ rằng René Descartes không chỉ là cha đẻ của triết học hiện đại. Ông còn là nhà toán học thiên tài, người để lại cho chúng ta hệ tọa độ Descartes, hình học giải tích mà học sinh khắp thế giới vẫn phải học đến ngày nay. Khi ông bắt đầu dạy nhân loại cách hoài nghi và tự tư duy, thì Marx và Lenin còn ở rất xa trong tương lai. Thành thử, xét theo gia phả tư tưởng, họ cũng chỉ là những hậu duệ sinh sau đẻ muộn. Vậy nên đừng vội phán quyết trước khi nghe xem ông già ấy đang nói gì. Ông đã sống cách đây gần bốn thế kỷ, nhưng đôi khi lại hiện đại hơn không ít người đang sống ở thế kỷ XXI.
Thế kỷ XVII là một thời kỳ cách mạng về tư tưởng. Nhưng cuộc cách mạng ấy lại bắt nguồn từ những tiến bộ khoa học. Những khám phá liên tiếp xuất hiện, làm lung lay nhiều chân lý vốn được xem là bất biến từ hàng nghìn năm trước.
Chẳng hạn, từ thời cổ đại, người ta tin theo hệ thống của Ptolemy rằng Trái Đất nằm bất động ở trung tâm vũ trụ và Mặt Trời quay quanh Trái Đất. Nhưng các công trình của Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei và Johannes Kepler đã chứng minh điều ngược lại: chính Trái Đất quay quanh Mặt Trời.
Từ thời Aristotle, người ta cũng tin rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Nhưng các thí nghiệm của Galileo cho thấy tốc độ rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của vật như người ta từng nghĩ…
Chính vì đã chứng kiến những "chân lý vĩnh cửu" lần lượt sụp đổ như vậy mà René Descartes đi đến một kết luận: không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì nó được truyền lại từ truyền thống hay được khẳng định bởi kẻ cầm quyền. Mọi khẳng định đều phải được lý trí xem xét và kiểm chứng.
Trước sự đảo lộn ấy, Descartes đặt ra một câu hỏi căn bản: làm thế nào để phân biệt đâu là sự thật, đâu là sai lầm?
Câu trả lời của ông thật táo bạo: hãy bắt đầu bằng sự nghi ngờ.
Descartes quyết định nghi ngờ tất cả: những điều được truyền lại từ truyền thống, những gì các bậc quyền uy khẳng định, những điều sách vở viết ra, thậm chí cả những gì giác quan của chính mình cảm nhận được, bởi giác quan đôi khi cũng đánh lừa con người.
Ông đẩy sự nghi ngờ đi đến tận cùng. Nhưng rồi, giữa biển nghi ngờ ấy, ông phát hiện ra một chân lý không thể phủ nhận. Nếu tôi đang nghi ngờ, tức là tôi đang suy nghĩ. Và nếu tôi đang suy nghĩ, thì chắc chắn tôi đang tồn tại. Từ đó ra đời câu nói nổi tiếng: "Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại."
Câu nói này không chỉ khẳng định sự tồn tại của con người. Nó còn khẳng định rằng tư duy của chính chủ thể là điểm xuất phát đầu tiên của mọi tri thức chắc chắn.
Mặc dù vẫn tin vào Chúa, Descartes đề cao vai trò của lý trí cá nhân trong việc tìm kiếm chân lý. Theo ông, con người không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì truyền thống hay kẻ cầm quyền khẳng định như vậy.
Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị.
Khi quan sát một số hiện tượng tranh luận chính trị ngày nay ở Việt Nam, người ta có cảm giác rằng rất đông người đang đi theo con đường hoàn toàn ngược lại với Descartes. Một điều được xem là đúng vì nó được phát ra từ một nguồn có thẩm quyền. Sự nghi ngờ bị xem là lệch lạc. Câu hỏi bị xem là nguy hiểm. Tư duy độc lập trở thành điều đáng ngờ.
Nhưng Descartes dạy chúng ta điều ngược lại: nghi ngờ không phải là điểm yếu. Nghi ngờ là khởi đầu của tư duy.
Người biết nghi ngờ có thể sai, nhưng vẫn còn cơ hội tìm ra sự thật. Người không bao giờ nghi ngờ rất dễ biến niềm tin của mình thành giáo điều và nhầm lẫn giữa lòng trung thành với một học thuyết và việc đi tìm chân lý.
Có lẽ bài học lớn nhất mà Descartes để lại cho nhân loại là:
Trước khi tin, hãy suy nghĩ. Trước khi đi theo đám đông, hãy tự mình kiểm chứng.
"Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại", thì đối cực của nó có thể là: "Tôi chỉ lặp lại, nên tôi không còn tư duy.".
Mà đã không còn tư duy thì chắc vẫn tồn tại. Nhưng tồn tại như con người hay tồn tại như CON BÒ NHAI LẠI thì đó lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Descartes không bảo chúng ta phải tin ông. Ngược lại, ông khuyên chúng ta hãy nghi ngờ, kiểm chứng và tự suy nghĩ.
Đó có lẽ là điểm khác biệt giữa người tư duy và người cuồng tín. Người tư duy có thể thay đổi ý kiến khi đối diện với sự thật. Người cuồng tín thì bắt sự thật phải phục tùng ý kiến của mình.
Những ồn ào gần đây quanh Nỗi buồn chiến tranh hay Chuyện với Thanh cho thấy một nghịch lý thú vị: nhiều người khẳng định mình yêu sự thật, nhưng lại coi những điều được nghe kể là những chân lý hiển nhiên. Vì thế, thay vì tranh luận về các lập luận hay sự kiện được nêu ra, họ lập tức phẫn nộ, lên án và chụp mũ, chửi bới bất cứ ai dám kể một câu chuyện khác đi. Trong khi đó, toàn bộ triết học của Descartes lại bắt đầu bằng một hành động rất đơn giản: dám nghi ngờ.
Vì thế, dù là cuồng cộng sản, cuồng bác, cuồng Putin, cuồng Trump hay cuồng bất kỳ thần tượng nào khác, họ đều có một điểm chung: họ yêu niềm tin của mình hơn sự thật.
Còn Descartes thì đề nghị điều ngược lại: Trước khi tin, hãy suy nghĩ.
Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng xem ra lời khuyên ấy vẫn còn quá khó đối với không ít người.
Một thời, nhiều người trong chúng tôi đã thuộc lòng những câu thơ của Tố Hữu:
"Yêu bác, lòng ta trong sáng hơn,
Xin nguyện cùng người vươn tới mãi
Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn."
Đó là những câu thơ « đẹp » trong bối cảnh lịch sử của nó. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa đen, thì việc yêu một con người đến mức xem người ấy là nguồn gốc của sự trong sáng đạo đức và chân lý lại chính là điều mà Descartes sẽ cảnh báo. Bởi TỪ ẤY, ta không còn tự hỏi mình đúng hay sai nữa, mà chỉ tự hỏi mình đã đủ trung thành hay chưa.
Vậy có thơ rằng:
Yêu bác thì nên suy nghĩ hơn,
Xin nguyện cùng người không ngố mãi,
Có thế đời ta mới tốt hơn.


Nhận xét
Đăng nhận xét