Chuyển đến nội dung chính

Nguyễn Tuấn: MỘT TRÁI TIM, HAI QUÊ HƯƠNG

- Nguyễn Tuấn -

“Đó là cội nguồn của tôi, là cha mẹ tôi, những người luôn tự hào là người Việt Nam." 

Đúng rồi. Ông Hùng Cao đã tóm tắt một ý tưởng quan trọng cho mọi người Việt Nam ở hải ngoại. 

Báo Tuổi Trẻ có trích lời phát biểu cảm động của Hùng Cao trong chuyến trở về Việt Nam lần thứ ba (?):

“Đó là cội nguồn của tôi, là cha mẹ tôi, những người luôn tự hào là người Việt Nam. Tôi vẫn luôn nói với mọi người rằng: tôi là người Mỹ, nhưng tôi là người Mỹ gốc Việt. Tức là trái tim tôi thuộc về nước Mỹ, còn dòng máu trong tôi là dòng máu Việt Nam. 

Đây là nơi tôi sinh ra. Được trở lại đây, đặc biệt là Quảng Trị, nơi cha tôi sinh ra và lớn lên, có ý nghĩa vô cùng sâu sắc với tôi. Đây thực sự là một hành trình trọn vẹn” [1].

Ông Hùng Cao có đề cập đến thân phụ ông sanh ra ở Quảng Trị. Có lẽ đa số chúng ta biết về Hùng Cao, nhưng ít ai biết đến thân phụ ông. Tuy nhiên, khi ông qua đời, có một trang viết về tiểu sử của ông [2] mà tôi tóm lược để chia sẻ với các bạn dưới đây.

■ Ông Cao Quản 

Thân phụ của Hùng Cao tên là Cao Quản, sanh ra ở Quảng Trị vào năm 1938. Ông tốt nghiệp cử nhân ngành Canh Nông từ Đại học Phi Luật Tân (University of the Philippines), hay viết tắt là UP. Sau đó, ông nhận học bổng Rockefeller và du học ở Mĩ, và tốt nghiệp Cao học (nay là 'thạc sĩ') từ Đại học Cornell. Cả hai đại học đều thuộc hàng 'danh giá' trên thế giới. 

Năm 1961, khi du học ở Mĩ, ông gặp và thành hôn với bà Nguyễn Ngọc Trâm tại Toà đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Hoa Thạnh Đốn /Washington.  

Quay về Việt Nam, ông Quản làm việc tại Bộ Canh Nông. Chức vụ sau cùng của ông trong chánh phủ VNCH là Trợ lý cho Phó Thủ tướng phụ trách Phát triển Kinh tế. 

Ông là người thích học ngoại ngữ và chụp hình. Nhờ năng khiếu ngoại ngữ, ông đã kết giao thân thiết với nhiều bạn bè quốc tế.

Khi chiến tranh kết thúc (tháng 4/1975), hai vợ chồng ông cùng 5 người con di cư sang Mĩ. Năm người con là Thuy, Van, Diep, Hai, và Hùng (có thể đoán là Thuý, Vân, Điệp, Hải và Hùng). Nhờ sự bảo lãnh của một người bạn cũ, gia đình ông đã đến định cư tại tiểu bang Virginia. 

Gia đình ông tới Mĩ với hai bàn tay trắng. Nhưng nhờ vào kinh nghiệm canh nông và có bằng cấp cao, ông Cao Quản đã nhanh chóng làm lại cuộc đời. 

Chỉ 8 tháng sau khi đến Mĩ, đầu năm 1976, ông Quản nhanh chóng nắm bắt cơ hội và làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế (Agency for International Development) với tư cách là nhà thầu. Công việc này đã đưa cả gia đình đến Niger, Tây Phi. Từ năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu, ông Quản đã làm việc khắp châu Phi, từ Zaire, Guinea thuộc Pháp, Madagascar đến Senegal.

Ông Cao Quản qua đời ở Virginia vào ngày 13/2/2022, thọ 84 tuổi. 

■ Một trái tim, hai quê hương 

Mỗi người tị nạn Việt Nam đều mang trong lòng hai quê hương: nơi mình sanh ra; và nơi mình được cưu mang để định cư, lập nghiệp, gây dựng lại cuộc đời. 

Hùng Cao trở lại Việt Nam và nhắc đến Quảng Trị, nơi thân phụ ông sanh ra và lớn lên. Đó không chỉ là chuyến trở về của một vị Bộ trưởng Hải quân bàn chuyện quốc gia, mà còn là cuộc trở về với kí ức gia đình, với quê cha đất tổ, và với phần Việt Nam vẫn còn nằm sâu trong căn cước của những người Việt xa xứ.

Gia đình của Hùng Cao, ở một ý nghĩa nào đó, cũng là câu chuyện chung của rất nhiều gia đình người Việt ở hải ngoại. Tập hợp lại, những câu chuyện đó làm thành một lát cắt đặc biệt của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20. 

Một thế hệ lớn lên trong thời chiến, có gia đình, học vấn, nghề nghiệp và nếp sống tương đối ổn định; rồi chiến tranh chấm dứt, biến cố lịch sử đẩy họ vào làn sóng li hương; sau đó là những năm tháng định cư, học lại ngôn ngữ, làm lại nghề nghiệp, nuôi con ăn học, và từng bước gây dựng lại cuộc đời trên đất khách.

Họ không chỉ tồn tại sau biến cố, mà còn vươn lên và cống hiến. Người thì trở thành kĩ sư, bác sĩ, luật sư, giáo sư, doanh nhân, quan chức, quân nhân; người thì âm thầm làm việc trong các hãng xưởng, nhà hàng, tiệm buôn, bệnh viện, trường học. 

Dù ở vị trí nào, họ cũng góp phần xây dựng xã hội đã cưu mang mình. Và khi cuộc sống đã ổn định, nhiều người lại hướng về quê cũ bằng những cách khác nhau: gởi tiền giúp thân nhân, bảo trợ gia đình, tham gia các chương trình giáo dục, y tế, khoa học, từ thiện, hoặc trở về đầu tư, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm.

Con số kiều hối phần nào nói lên mối liên hệ bền bỉ đó. Hiện nay có khoảng 5 triệu người Việt sinh sống ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong nhiều năm qua, mỗi năm lượng kiều hối gởi về Việt Nam thường lên đến hàng chục tỉ USD; riêng năm 2024 ước khoảng 16 tỉ USD. Tính từ năm 1993 đến 2022, tổng lượng kiều hối về Việt Nam đã vượt 190 tỉ USD. 

Đó không phải là đầu tư theo nghĩa thông thường, cũng không phải là viện trợ có điều kiện, mà là một dòng tiền gia đình, một thứ “tài trợ không hoàn lại” rất lớn, chảy về từ tình thân, từ kí ức, và từ ý thức không quên cội nguồn.

Sự trở về của Hùng Cao còn có một ý nghĩa khá đặc biệt. Ông trở lại trong tư cách một viên chức cao cấp của Mĩ, người đang giữ quyền lãnh đạo dân sự cao nhứt của Hải quân Mĩ. Mà, Hải quân Mĩ là số 1 trên thế giới. 

Trong cộng đồng người Việt ở Mĩ, rất hiếm có trường hợp nào đi từ thân phận tị nạn đến một vị trí cao như vậy trong guồng máy chánh phủ Mĩ. Bởi vậy, chuyến trở về ấy không chỉ là một sự kiện cá nhân, mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: từ chiến tranh đến hòa giải, từ li hương đến trở về, từ đối đầu đến hợp tác. Con đường từ “thù” đến “bạn” là một con đường dài hơn nửa thế kỉ.

■ Một chút suy nghiệm

Điều đáng tiếc là ngày nay ở Việt Nam, không ít người trẻ lớn lên trong một hoàn cảnh lịch sử khác, ít có cơ hội tiếp xúc với lát cắt lịch sử tị nạn được mô tả trên. Vì thiếu kí ức gia đình, thiếu trải nghiệm cộng đồng, hoặc chỉ tiếp nhận lịch sử qua những thông tin rời rạc trên mạng xã hội, một số người đã có những phát ngôn nặng thành kiến, xúc phạm, lệch lạc, thậm chí nguy hiểm về người Việt tị nạn. 

Họ dễ quên rằng đằng sau hai chữ "tị nạn" là những phận người cụ thể: những gia đình phải rời bỏ quê hương trong đau đớn, những người cha người mẹ bắt đầu lại từ con số không, và những thế hệ con cháu lớn lên giữa hai căn cước, hai ngôn ngữ, hai quê hương.

Càng đáng ngạc nhiên hơn, những phát ngôn nặng nề và chia rẽ như thế dường như không gặp một sự nhắc nhở hay phản ứng rõ ràng nào từ phía nhà cầm quyền. Sự im lặng đó, dù vô tình hay cố ý, dễ làm cho nhiều người nghĩ rằng những tiếng nói cực đoan đó đang được dung dưỡng, hoặc ít nhất là được làm ngơ. Nếu quả thật như vậy, thì điều đó đi ngược lại tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc mà nhà nước vẫn thường nêu ra trong nhiều năm qua.

Hòa giải không thể chỉ là khẩu hiệu hay diễn văn, mà phải bắt đầu từ thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, tôn trọng nỗi đau của những cộng đồng khác nhau. Một dân tộc muốn đi tới không thể vừa kêu gọi hòa giải, vừa làm ngơ trước những lời lẽ xúc phạm chính những người từng là nạn nhân của lịch sử.

Bởi vậy, kể lại câu chuyện của những gia đình như gia đình ông Cao Quản không phải để khơi lại hận thù, mà để nhắc rằng lịch sử không nên bị giản lược thành khẩu hiệu hay định kiến. Muốn hiểu người Việt hải ngoại, đặc biệt là thế hệ tị nạn sau năm 1975, cần nhìn họ trong toàn bộ bối cảnh của chiến tranh, li hương, mất mát, hội nhập và cống hiến. Chỉ khi hiểu được lát cắt đó, người ta mới có thể nói về họ một cách công bằng, nhân bản và có trách nhiệm hơn.

_____

[1] https://tuoitre.vn/quyen-bo-truong-hung-cao-da-den-luc-chung-ta-gac-lai-qua-khu-va-cung-tien-ve-phia-truoc-100260623152623018.htm

[2] https://www.dignitymemorial.com/obituaries/falls-church-va/quan-cao-10587500

Nhận xét